HỒI CHUÔNG BÁO TỬ CHO "NGƯỜI TÙ KIỆT XUẤT"  - Kim  Âu Hà văn Sơn -
TinParis. Chúng tôi cho phổ biến bài viết dưới đây của  Kim Âu Hà văn Sơn, một " Biệt Kích "  đã tranh đấu quyền lợi cho những anh em biệt kích để được chánh phủ Mỹ công nhận. Ông  biết rất nhiều về  Nguyễn hữu Luyện , và vì không muốn cho " Nguyễn hữu Luyện và đàn em" cùng Việt Tân   dàn dựng lên một " tuồng hát giả  dối "  nữa gạt người Việt Cộng Đồng Hải ngoại nên  ông viết lên loạt bài nầy .

   Dẫn Nhập: Trong mấy ngày qua, chúng tôi đã cân nhắc rất nhiều trước khi quyết định phải ôn lại quá khứ để nói lên những SỰ THẬT mà mình được biết. SỰ THẬT về một câu chuyện hết sức giả dối mà người ta đang lạm dụng nó nhằm tạo cho mình một thứ uy tín để tiến hành những trò chơi bá đạo......

Cách đây mấy năm, tuần báo Chính Nghĩa đã tung lên diễn đàn bài viết đầu tiên để báo động về sự việc đang diễn ra ở William Joinner Center. Trong bài viết đó (Vạch mặt bọn khoa bảng lưu manh), người được đưa lên là một nhân vật đang nằm trong bóng tối : Anh Nguyễn Hữu Luyện, một cựu đại úy QLVNCH, cố vấn quân sự của Toán Hector 1.
Việc chúng tôi hết lòng giúp đỡ anh Luyện vào thời kỳ đó là do hy vọng người anh em của mình sẽ làm được một điều gì khá hơn cho rạng danh Gia Ðình Biệt Kích. Nhưng sau khi tiếp tay làm việc với anh Luyện khoảng gần hai tháng, nhận những hồ sơ về vụ kiện mà anh fax tới, khi thấy mục đích ban đầu của vụ kiện và thực tế hồ sơ file vào tòa hoàn toàn khác biệt, chúng tôi đã thẳng thắn rút khỏi cuộc đối đầu không cần thiết mà chúng tôi đã nhìn thấy trước kết quả.

Tuy nhiên, việc khởi xướng và lui lại của chúng tôi không gây ra một xáo trộn bất lợi nào cho người vừa bước ra khỏi bóng tối là anh Nguyễn Hữu Luyện - lúc đó đã trở thành “Người Tù Kiệt Xuất” -. Chúng tôi im lặng không nửa lời phê phán. Mặc dù chúng tôi không hài lòng với những ý tưởng khoa trương, lòe bịp của những người chủ xướng theo đuổi vụ kiện WJC.

Mãi đến khi vụ kiện đã đi vào ngõ cụt, chúng tôi có một lá thư riêng (private) gởi cho anh Luyện với một yêu cầu làm anh không được hài lòng. Lập tức “Người Tù Kiệt Xuất” trả nghĩa cho tôi bằng cách tung lá thư “private” lên diễn đàn với mưu toan dùng đám lâu la, âm binh để lập tòa án nhân dân xử tội chúng tôi. Kết quả, những phản ứng của chúng tôi đã khiến ông Luyện phải nén lòng bay từ Boston đến Atlanta ở nhà chúng tôi để hàn gắn những đổ vỡ.

Vài ngày ở Atlanta để thăm hỏi một số đồng minh đủ cho anh Luyện biết chúng tôi không ngán ngại bất kỳ cá nhân, tổ chức hoặc thế lực nào. Giữ lời cam kết với anh em trong gia đình BK, chúng tôi bỏ qua mọi chuyện. Hai năm trôi qua, thời gian gần đây không phải ngẫu nhiên một số tên bội tín, phản phúc, bần tiện, ngu dốt bày trò xuyên tạc SỰ THẬT LỊCH SỬ dựng lên câu chuyện Biệt Kích Giả - Biệt Kích Thật (bọn này là bọn bỉ ổi, trắng trợn ăn quỵt tiền thù lao của luật sư John Mattes dẫn tới việc những chương trình đấu tranh tiếp nối cho quyền lợi của tập thể Gia Ðình Biệt Kích phải bỏ dở dang). (đọc bài Gian Hùng Lộ Mặt)

Chúng tôi đã đoan chắc có bàn tay của “Người Tù Kiệt Xuất” nhưng mọi mưu toan láo lếu đều bị đập vụn (đọc bài Sự Thật Khách Quan). Tên bồi bút Tú Gàn vào cuộc ăn có cũng lãnh một đòn chí mạng ( trò bịa đặt láo lếu của hắn bị vạch trần), đành câm họng trước SỰ THẬT NHƯ NGỌN NÚI (đọc bài Thẩm Phán Ngu Ðần). Trò bôi bác bị lật tẩy và công việc đấu tranh lại cuốn chúng tôi vào những chuyến đi tốn quá nhiều thời gian. Chúng tôi cho qua.
Cuối cùng việc gì phải đến đã đến. Cây kim bọc giẻ lâu ngày cũng lòi ra, vừa qua trong những cuộc tranh cãi giữa ông Võ văn Sáu - Chủ nhiệm tờ Góp Gió- với đám lâu la, âm binh của “Người Tù Kiệt Xuất” về một lá thư, bọn âm binh này đã cố tình kéo chúng tôi vào cuộc.

Nhìn lại những e mail và cách làm việc của bọn này, chúng tôi biết ngay có sự điều động của Nguyễn Hữu Luyện. Giữ lời hứa cũ, chúng tôi lên tiếng qua diễn đàn cho anh Luyện biết. Nhưng thấy chúng tôi sau này vì bận rộn ít xuất hiện trên diễn đàn, anh Luyện tin rằng đội âm binh, lâu la chuyên nghề vu khống, chụp mũ, chửi bậy của anh ta đủ sức làm loạn nên im lặng đứng đằng sau giật dây (thủ đoạn của đám âm binh này chúng tôi đã biết rõ qua cuộc nói chuyện với Trần Văn Tiếp). Vì thế bài viết này có là “Hồi Chuông Báo Tử Cho Người Tù Kiệt Xuất” ắt cũng không làm cho chúng tôi phải ân hận.
Tiện đây, chúng tôi cũng minh định với toàn thể mọi người : Vụ Kiện WJC thắng hay bại chẳng liên quan hay ảnh hưởng gì đến chúng tôi. Chúng tôi chẳng cần ai tranh đấu bảo vệ cho danh dự và căn cước tỵ nạn của chúng tôi. Cho dù một trăm cái chương trình nghiên cứu như WJC cũng không xóa được sự thật toát ra từ những tác phẩm có tính đại chúng như HÀNH TRÌNH BIỂN ÐÔNG...v.. v.

Lịch sử Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản là sự nghiệp của toàn thể những Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản. Cuộc bỏ phiếu bằng chân, tự thân nó đã viết nên trang sử bi thảm, vẽ lên diện mạo và căn cước chân thực của Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản trước toàn thế giới mà chẳng có chương trình nghiên cứu của đại học uy tín nào đủ tầm vóc bóp méo căn cước của Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản. Ở xứ sở tự do này, quý vị có quyền muốn làm gì thì làm nhưng đừng nhân danh chiến đấu cho chúng tôi về những điều không thực. Vụ WJC chỉ là một vụ kiện đòi bồi thường vì bị kỳ thị trong lúc xin việc không hơn không kém. Những lý lẽ dối trá, bất toàn của nó không thuyết phục được những người hiểu biết. Quý vị đừng tự hoang đường với ý nghĩ rằng việc quý vị mạo nhận là đại diện cho cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản trong vụ kiện WJC làm cho nhân thân của quý vị trở thành bất khả xâm phạm. Vụ kiện của quý vị thắng hay bại đối với chúng tôi không quan trọng. Ðiều quan trọng nhất là: chúng tôi vĩnh viễn không bao giờ chấp nhận Cộng Sản, vĩnh viễn không hòa hợp, hòa giải với chúng nó, vĩnh viễn không chấp nhận bất cứ tổ chức hoạt đầu nào nhân danh đại diện chúng tôi để mưu toan làm tay sai cho ngoại bang và Cộng Sản để chia chác tài nguyên của Tổ Quốc, buôn bán xương máu của Dân Tộc Việt Nam.
***
 
  • HỒI CHUÔNG BÁO TỬ CHO NGƯỜI TÙ KIỆT XUẤT
  
“Secret Army Secret War “ của Sedgwick Tourison có thể xem như là cuốn sách đầu tiên của một người Mỹ viết về cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội của Việt Nam Cộng Hòa và Ðồng Minh Hoa Kỳ trong thời kỳ Chiến Tranh Việt Nam.“

“Secret Army, Secret War” chưa đủ, qua cuốn thứ hai : ”The Secret War Against Hanoi”, tác giả Richard H Shultz, Jr. giáo sư chính trị học tại Fletcher School of Law and Diplomacy được Harper Collins Publishers xuất bản năm 2000, người ta mới tthấy được nguyên nhân dẫn tới thất bại của cuộc chiến tranh ngoài quy ước do người Mỹ điều động từ năm 1961- 1972. Thất bại nặng nề nhất là kế hoạch OPLAN 34 đến năm 1964 cải danh thành OPLAN 34 A kéo dài từ năm 1961 đến 1967.

Trong “Secret Army, Secret War”, Sedwick Tourison đã viết lại trường hợp thất bại của nhiều toán thuộc OPLAN 34 - OPLAN 34A theo lời kể lại của những người trong cuộc. Câu chuyện của toán Hector tức Bắc Bình do Ðại Úy Nguyễn Hữu Luyện trực tiếp chỉ huy nằm trong chương thứ 12 có tên TEAM HECTOR .

Ðúng ra câu chuyện này đã xảy ra từ mấy chục năm trước và lớp bụi lãng quên đã phủ thật dầy. Những đau thương đã qua thực ra không nên nhắc lại. Bởi những cái tên toán, ngày nay nói đến chỉ là những âm vang đau đớn của THẤT BẠI và THẤT BẠI. Ðiều quan trọng là từng người còn sống đến nay, đã trưởng thành cần biết nhìn lại quá khứ như một bài học để phấn đấu cho tương lai.

Nhưng thật đáng tiếc vì quá khứ đã bị lợi dụng cho những mưu toan. Trên lớp bụi lãng quên có kẻ đã “Lộng giả thành chân” tô vẽ những hình ảnh không thực nhằm tạo uy tín để thi thố những mưu đồ bất chính. Ðiều này buộc chúng tôi phải lên tiếng bởi cái đạo của người cầm bút không cho phép chúng tôi khoan nhượng với những điều dối trá, bạc ác, phản nhân văn.
Mời quý độc giả cùng tôi đi qua những sự kiện.
 
  • SỰ ẤU TRĨ CỦA NGUYỄN HỮU LUYỆN NGUYÊN NHÂN THẤT BẠI CỦA TOÁN HECTOR
 
TRÍCH “Secret Army Secret War “ 12
 
TEAM HEC TOR
 
Captain Nguyen Huu Luyen, a Regular Army officer assigned to the Strageic Technical Directorate, was an experienced training officer dedicated professionally and personally to the defeat of the Communists. Luyen decided to do something to prove that the long-range team concept worked and worked well. His solution was to recruit his own team, once he could personally select, and bring in “volunteers,” kids who had at least an eleventh-grade education, to form a large team named BAC BINH. He would personally supervise their training, insert them, and bring them back alive, and he predicted that they would eventually become core cadre to train the teams that would follow. As Captain Luyen explained it to his team members, the problem in locating the teams dropped into North Vietnam was that the teams were simply unable to locate and report their positions accurately.
            Team BAC BINH began training in November 1965. Luyen took personal command of the team’s training. He tried to mold it into a large team that could be broken down into four smaller teams. By June 1966, the training had been completed and the teams were ready for launch; however, Captain Luyen’s original group of more than forty was down to less than thirty, enough for only two teams.
            The first team, BAC BINH 1, elected Bui Quang Cat as its commander. Captain Luyen, true to his convictions, informed the team that he would accompany it into North Vietnam as military adviser. The team moved into the restricted area that June and was redesignated HECTOR 1. On 22 June, it followed the same path as earlier teams, first to Thailand and then by helicopter into the karst formations of western Quang Binh Province. Safely on the ground, HECTOR 1 established its operational base and, for the first month, was able to operate without being captured.
            Captain Luyen took the team commander and two other team members, Dinh Van Vuong and Nguyen Manh Hai, into a small mountain village to make contact with the local villagers. Other team members expressed some apprehension, but Captain Luyen assured them that it would be all right–they could get into the village and out again without any problem. Luyen had earlier espoused the doctrine that, when entering a village, one should not believe the first thing a villager said. He then ignored the very warning that he had so often passed on to his trainees. When the villagers asked him to wait, he waited while they informed local security services of his presence. The four men were captured.
            The team members remaining at the operational base knew the correct procedures to follow. They were to wait for Captain Luyen and the others for no more than three hours before changing their base. Instead, the waited for five hours, so strong was their belief in the invincibility of Captain Luyen. Meanwhile, the North Vietnamese forced the team commander to lead them to the team’s base and they captured the remainder of HECTOR 1. The team’s two principal radio operators were added to the North Vietnamese list of agents now operating their radios under Hanoi’s control.
TRÍCH BẢN DỊCH :
 
.... Toán Bắc Bình được huấn luyện vào tháng Mười một năm 1965. Luyện đích thân làm trưởng toán để hướng dẫn...
 ... Tiểu toán 1 hay Bắc Bình 1 do Bùi Quang Cát làm trưởng. Và Ðại úy Luyện , như đã hứa , sẽ lên đường cùng đi với anh em ra Bắc với tư cách cố vấn. Cả toán dời vào khu vực hạn chế trong tháng Sáu và được cải danh là HECTOR 1. Ngày 22 tháng Sáu, toán này đi theo lộ trình với toán trước : đi Thái Lan rồi sau đó dùng trực thăng đi vào vùng núi đá vôi tỉnh Quảng Bình. Ðến nơi an toàn, HECTOR I lập căn cứ và hoạt động được một tháng mà không bị bắt.
... Một hôm Ðại úy Luyện liền cùng trưởng toán và hai toán viên nữa là Ðinh Văn Vượng và Nguyễn Mạnh Hải định vào làng để tiếp xúc với dân tại địa phương. Các toán viên khác cản ngăn hết lời nhưng Ðại úy Luyện nói rằng không sao – họ có thể vào và ra khỏi làng bình yên; không gì phải lo lắng. Luyện trước kia từng dạy cho khoá sinh của mình rằng khi vào nơi lạ thì không nên tin lời dân làng, nhưng lần này chính ông đã quên lời dặn đó. Do đó khi nghe dân làng bảo họ nên đợi, ông nghe lời họ và đợi trong khi họ đi báo cho lực lượng biên phòng. Kết quả bốn người bị bắt.
... Các toán viên còn lại trong căn cứ nắm vững quy trình hành động. Họ sẽ chờ các bạn trong vòng 3 giờ mà không thấy trở lại thì sẽ dời căn cứ đi nơi khác. Ðàng này họ đợi tới 5 giờ liền. Cũng vì họ quá tin tưởng vào Ðại úy Luyện. Trong khi đó, trưởng toán bị bắt phải dẫn đám lính biên phòng đến căn cứ để bắt họ - Rốt cuộc cả Toán HECTOR bị bắt gọn. Thế là danh sách các toán viên phụ trách vô tuyến có thêm 2 người mới gia nhập vào để phục vụ cho guồng máy của Hà Nội .
 
NGƯNG TRÍCH .
 
Lướt qua đoạn trích này, nổi bật lên là sự độc tài, chuyên quyền trong chỉ huy và ấu trĩ về nghiệp vụ của Nguyễn Hữu Luyện nguyên nhân thất bại của Hector 1 và Hector 2. Nếu như ông Luyện có khả năng phán đoán tốt, nhậy cảm với tình hình và biết tôn trọng sự chỉ đạo từ Trung Ương. Hector 1 đã có thể trở về an toàn, thảm kịch đã không xảy ra.
Nhưng SỰ THẬT là SỰ THẬT. Không ai có thể thay đổi được quá khứ.
SỰ THẬT là:  chỉ vì ông Nguyễn Hữu Luyện TỰ Ý QUYẾT ÐỊNH vào làng tiếp xúc với dân không báo trước với Trung Ương, không được Trung Ương chấp thuận, và sau khi lọt vào tay giặc ông Nguyễn Hữu Luyện mặc dù không hề bị tra tấn, đánh đập gì nhưng đã tự ý xin “lập công chuộc tội” bằng cách viết một lá thư kêu gọi phần còn lại của toán ra hàng Việt Cộng.
Quý vị hãy cùng chúng tôi xem ông Nguyễn Hữu Luyện nói gì trong lá thư thú tội post lên diễn đàn hai năm về trước:
 
TRÍCH:
 
Lá thư riêng,
 
Ước mong rằng những người em thân thương trong toán xâm nhập Bắc Bình thuộc Nha Kỹ Thuật/Bộ Tổng Tham Mưu/QLVNCH sẽ đọc trang thư này. Hồi tưởng thời gian 1965-1966, khi tôi gặp các em, những học sinh trung học của Sài Gòn, thế hệ trai thời loạn. Việc đưa các em vào công tác xâm nhập miền Bắc đã tạo ra những ràng buộc định mệnh giữa các em và tôi. Riêng đối với tôi, đó là khởi điểm của giai đoạn phát triển cao độ về ý thức trách nhiệm, ý thức đấu tranh, lập trường chính trị, và cách sống, cách hành động của tôi trong quãng đời còn lại.
Tôi nhớ lại một kỷ niệm cực kỳ đau đớn trong vùng công tác ở ngoài Bắc. Buổi sáng hôm đó, tôi dẫn 3 chú từ Khu An Toàn trong vùng núi đá tai mèo hiểm trở vào bản làng để tiếp xúc với dân. Chú Hải dùng tiếng Lào để thông dich. Ðau đớn thay, cả bốn chúng tôi bị bắt trong bản này. Khu an toàn của chúng ta đã bị nhiều đơn vị biên phòng bao vây trươc đó. Trong bộ chỉ huy của địch, viên Thủ Trưởng ở cái lán nhỏ, tôi bị giam ngay cạnh đó. Khi thấy họ sửa soạn chó để đem vào trong hang bắt các em, trong lòng tôi đau xót vô cùng. Nghĩ tới cha mẹ và gia đình các em đã đặt hết niềm tin vào tôi khi tôi hứa sẽ đưa các em từ vùng công tác trở về an toàn, tôi nghẹn ngào, xót xa. Là người trực tiếp kiểm soát kết qủa huấn luyện của các em, tôi hiểu rất rõ những gì các em có thể và những gì các em không thể làm lúc đó. Mặc dầu kết qủa huấn luyện tốt đẹp của các em tại Long Thành đã làm các cố vấn Mỹ ngạc nhiên, nhưng các em vẫn không thể hoạt động trong rừng một mình. Cũng như sỹ quan tác chiến trong quân lực VN và các quốc gia tân tiến, tất cả phải được học hỏi thêm, dẫn dắt qua thực tế chiến trường trong nhiều năm mới có thể xử dụng bản đồ địa bàn một cách có hiệu qủa, không có ngoại lệ cho vấn đề này. Sau khi suy tính, tôi quyết định nhờ anh lính gác báo với Thủ Trưởng của anh ta là tôi xin gặp. Một lúc sau viên Thủ Trưởng tới gặp tôi. Tôi rất bình tĩnh nói với anh ta rằng “Tất cả các chú em tôi đều ở lứa tuổi học trò, mới trải qua 6 tháng huấn luyện và chưa hề có kinh nghiệm tác chiến. Tôi có trách nhiệm với gia đình các em đó và phải bảo vệ an toàn cho các em. Tôi viết thơ nhờ anh cho người đưa chú Cát là Trưởng Toán để chú Cát gọi các chú về đây, tránh nổ súng và tránh đổ máu. Chúng tôi cam phận cá chậu chim lồng.
Trong thư tôi báo chú Cát biết là tôi đã bị bắt, và bảo chú Cát bình tĩnh theo đơn vị này tới gặp tôi. Ðiều quan trọng là phải giữ an toàn cho tất cả các chú, mọi trách nhiệm thuộc phần tôi, các em cứ an tâm. Nhưng từ đó, tôi không được gặp các em cho tới 2 năm sau 1975. Quãng đời đen tối của tôi bắt đầu từ đấy. Hơn 21 năm để suy ngẫm công và tội, tình nghĩa anh em và trách nhiệm đối với Quân Lực, tôi đau khổ, và hổ thẹn với chính mình, Những suy nghĩ đó đã trở thành ngọn hải đăng để dẫn đường cho tôi tự kiện toàn bản thân, giữ trọn lòng trung thành với QLVNCH. Thời gian trong tù thực sự là vô gía vì đã giúp tôi nhận thức được nhiều vấn đề mà tôi nghĩ rằng nếu ở ngoài đời, chắc chắn tôi không thể thấy. Chính những nỗi dằn vặt, đau khổ vì không làm tròn lời hứa với gia đình các em, cũng như những hối hận day dứt vì không hoàn thành được nhiệm vụ giao phó đã giúp tôi tìm thấy ánh sáng chân lý. Và ánh sáng chân lý đó đã dẫn dắt tôi đến việc làm ngày hôm nay.
NHÀ TÙ CS LÀ NƠI HUỶ DIỆT TOÀN BỘ NHÂN CÁCH, NHƯNG CŨNG LÀ NƠI ÐƯA NHÂN CÁCH LÊN CAO VÀ CAO MÃI NẾU CÒN SỐNG, TÙY SỨC CHỊU ÐỰNG CỦA MỖI NGƯỜI. ÍT AI RA KHỎI NHÀ TÙ CS VỚI NHÂN CÁCH VỐN CÓ CỦA MÌNH
Cảm ơn các em toán Bắc Bình, các em đã là nguyên nhân của sự trưởng thành và tu thân của tôi. Ước mong giữa chúng ta, ngày sau sẽ như ngày trước, dù rằng chúng ta nay đã già rồi.
Nguyễn Hữu Luyện

NGƯNG TRÍCH.


Trong lá thư này ông Luyện đã dối trá khi viết sự việc bị bắt bằng một câu qua loa, giản lược: Ðau đớn thay, cả bốn chúng tôi bị bắt trong bản này.
Quả có thế, bốn người: anh Nguyễn Hữu Luyện, anh Bùi Quang Cát, anh Nguyễn Mạnh Hải và anh Ðinh văn Vượng đều bị bắt trong bản này, nhưng ông Nguyễn Hữu Luyện đã cố tình không diễn giải đúng trình tự và diễn tiến của sự việc ( ai bắt? bắt lúc nào?)

Lời kể của ông Luyện khi gặp chúng tôi tại nhà cùm Khu B trại Phong Quang cho thấy sự việc như sau:

Vào làng là do chính ông tự quyết định. Lúc đó anh Ðinh văn Vượng dứt khoát không chịu vào làng vì cho rằng sai nguyên tắc công tác nên được phân công nằm lại ngòai làng ngừa trường hợp bất trắc xẩy đến sau khi ba người đã vào làng. (Lúc kể lại chuyện này anh Luyện có khen Ðinh văn Vượng là người thông minh, thận trọng.)

Khi ba người vào làng gặp một số người trong bản, những người này cản lại yêu cầu ba người đi ra. Anh Nguyễn Mạnh Hải nói chuyện với họ và dịch lại cho ông Luyện nghe rằng: họ chỉ đồng ý cho ở lại nếu ông Luyện và những người đi theo chịu giao vũ khí cho họ giữ.

Ông Luyện nghe và quyết định giao vũ khí cho họ để được vào làng đồng thời yêu cầu hai người còn lại cũng làm như vậy. Hai anh Bùi Quang Cát, Nguyễn Mạnh Hải tuân theo lệnh của ông Luyện.

Ðúng như mối nguy hại mà Vựợng đã lường trước, sau khi giao vũ khí cho đám thổ dân, anh Nguyễn Hữu Luyện, anh Bùi Quang Cát, anh Nguyễn Mạnh Hải đã bị đám thổ dân trở mặt uy hiếp, bắt ngay khi đang ngồi trong nhà làng. Anh Luyện nói với tôi là hết sức đau đớn khi bị những người thổ dân Lào lừa như vậy.
Câu chuyện anh Luyện kể lại cho chúng tôi nghe tại Phong Quang dừng ở đấy.

Sau khi nghe câu chuyện, tôi quá sức ngạc nhiên khi một người như anh Luyện vốn được anh em trong toán Bắc Bình nể phục, lại khinh suất, ấu trĩ đến mức “súng là vợ, đạn là con” mà dám đưa cho người lạ ngay khi ở trong đất địch.

Hết hạn cùm, chúng tôi trở lại khu buồng giam tập thể ở trại A Phong Quang. Vì muốn biết tường tận sự việc, tôi tìm hỏi ba người cùng bị bắt chung với anh Luyện. Quan trọng nhất là nhân vật số 4 nằm lại ngoài làng và bị bắt sau cùng là anh Ðinh văn Vượng.

Tôi còn nhớ trong lúc kể lại việc bị bắt, vì thân tình nên anh Vượng lúc nào cũng xưng hô là tớ với mình và gọi tôi lúc là đằng ấy lúc là cậu.
Lời kể lại của anh Ðinh văn Vượng: Ngay khi ông Luyện muốn đi vào làng tớ đã phản đối nhưng đằng ấy biết đấy, ông Luyện là huấn luyện viên và lại là người chỉ huy, trong toán ai cũng gọi ông ấy là anh Hai, nên khi ông ấy ra lệnh, tớ cũng phải nghe đâu có chống lại được nhưng khi đi tớ cẩn thận mang theo đủ vũ khí của mình. (Ba khẩu súng Vượng mang theo gồm một tiểu liên, một Colt Browning và một súng bắn sẻ.)

Khi ông Luyện quyết định vào làng, tớ nhất định không vào và đòi nằm lại để an ninh vòng ngoài phòng bất trắc. Cuối cùng, anh Luyện phải nhượng bộ và tớ chọn vị trí để nằm lại. Sau khi ba người vào làng, tớ lập tức di chuyển sang một vị trí khác có thể quan sát được nơi mà ba người đã biết. Tớ nằm phục kích tại vị trí mới hướng họng súng về vị trí trước đó. Lâu lắm, khoảng gần hai tiếng mới thấy ông Cát cùng vài tên thổ dân có đeo cung nỏ đi ra chỗ mình nằm lúc trước. Ông Cát không thấy mình đâu nên mới lên tiếng gọi mình ra để vào làng gặp anh Hai. Mình vẫn chần chờ quan sát kỹ thấy anh Cát gọi ba bốn lần có vẻ an toàn mình mới lên tiếng và ra khỏi chỗ nằm phục kích. Khi thấy mình xuất hiện thì anh Cát vẫy tay và lại quay lưng đi vào làng trước, mấy người thổ dân đi theo, một người đứng lại đợi mình.

Nóng ruột vì đã gần đến giờ hẹn với anh em còn lại ở nhà. Mình hườm súng và vội đi theo anh Cát. Khi vào làng mình thấy nhà nào cũng có người đứng lấp ló, vào đến căn nhà mà họ đưa mình tới, không thấy anh Luyện và anh Hải đâu cả . Mình đòi gặp anh Luyện, họ ra dấu cho biết là anh Luyện đi xuống suối tắm. Lúc này mình đã ngờ là có chuyện nên mình đi đằng sau hườm súng vào người dẫn đường ra suối, sẵn sàng nổ súng. Người đi trước đi càng lúc càng nhanh mà đường xuống suối rất dốc. Mình cũng bám sát sau lưng anh ta. Ðến quãng nhìn thấy suối, triền dốc quá cao mình bị kéo theo đà dốc lao xuống. Ngay lúc đó, mình thoáng thấy trong mấy bụi rậm có người phục kích nhưng vì đà lao xuống nhanh quá không dừng được nữa phải vượt qua luôn. Ðến cuối chân dốc là con suối, mình trượt chân ngã khi vấp phải cục đá, vừa gượng dậy đã thấy mấy khẩu súng chĩa vào người bắt hàng. Vô phương chống cự. Sau khi họ trói mình rồi thì mình thấy họ dắt ông Luyện cũng bị trói thúc ké đi qua. Hóa ra ông Luyện đã bị bắt từ trước và cho anh Cát đi ra để gọi mình vào cho bị bắt chung luôn. Thế là hết. Từ khi sa cơ cho đến mãi sau này mình mới gặp lại anh Luyện.

Lời kể của anh Bùi Quang Cát, toán trưởng Hector 1: Anh Luyện là anh Hai và là người nắm thực quyền. Anh chỉ là người thừa hành lệnh của anh Hai mà thôi. Anh ấy quyết định vào làng thì mình phải đi theo. Anh ấy bảo giao vũ khí cho bọn thổ dân thì mình cũng phải tuân lệnh dù trong lòng rất nghi ngại. Nhầt là khi ngồi đợi những người trong làng nấu cơm, nước. Quả nhiên chừng hơn nửa tiếng sau là dân làng trở mặt bắt cả ba người, sau đó lính biên phòng Việt Cộng mới xuất hiện. Khi bị bắt, họ cũng chưa đánh đập gì nhưng không hiểu sao anh Luyện ra lệnh cho anh đi ra gọi Vượng vào. Sau khi cả bốn người nằm trong tay địch rồi, cũng chính anh Luyện bảo anh cầm lá thư về hang kêu gọi anh em ra hàng. Lúc đó anh cũng cố đi thật chậm cho quá giờ hẹn để những người còn lại kịp báo động về cho trung ương biết rồi di chuyển nhưng không ngờ anh em vẫn còn ở lại đợi. Lực lượng của Việt Cộng không đông áng chừng trung đội là cùng.

Còn một lời kể của anh Nguyễn Mạnh Hải, thông dịch tiếng Lào cũng tương tự như anh Cát kể nhưng tôn trọng người đã khuất chúng tôi xin miễn viết lại.
 
Tổng kết những lời kể, diễn biến của sự việc như sau:

Anh Luyện bất chấp lời ngăn cản của anh em Hector, vượt quyền trung ương tự ý quyết định vào làng để tiếp xúc với dân.


Khi đi anh đem theo ba người có thể gọi là xuất sắc nhất. Đến trước làng anh Đinh văn Vượng nằm lại bên ngoài để làm an ninh vừa chuẩn bị thoát hiểm khi ba người vào làng chạm địch. Khi vào làng, những thổ dân trong làng đòi ba người phải giao nộp vũ khí mới cho lưu lại. Anh Luyện hết sức ấu trĩ khi ra lệnh nộp vũ khí theo yêu cầu của những người trong bản để tỏ thiện chí.  Ở trong làng nhóm ba người đã bị thổ dân trong bản lừa ngồi đợi cơm nước. Thật ra họ lừa bắt cả ba trong khi đã cho người đi báo cho quân biên phòng Việt cộng. Sau khi bị bắt, dù chưa bị tra tấn, đánh đập gì cả, anh Luyện đã quyết định cho anh Cát ra gọi Vượng vào cho lính biên phòng bố trí bắt luôn. Tiếp thêm anh Luyện còn tự nguyện viết một lá thư kêu gọi anh em về hàng và ra lệnh cho anh Bùi Quang Cát đem về giao cho bộ phận còn lại của toán đang trú ẩn trong hang đá. Kết quả là toán Hector 1 bị bắt gọn không nổ được một phát súng kháng cự. Việc làm này anh Luyện đã tự mình xác nhận qua đoạn văn trích trong lá thư Tự thú dưới đây:

TRÍCH
Sau khi suy tính, tôi quyết định nhờ anh lính gác báo với Thủ Trưởng của anh ta là tôi xin gặp. Một lúc sau viên Thủ Trưởng tới gặp tôi. Tôi rất bình tĩnh nói với anh ta rằng “Tất cả các chú em tôi đều ở lứa tuổi học trò, mới trải qua 6 tháng huấn luyện và chưa hề có kinh nghiệm tác chiến. Tôi có trách nhiệm với gia đình các em đó và phải bảo vệ an toàn cho các em. Tôi viết thơ nhờ anh cho người đưa chú Cát là Trưởng Toán để chú Cát gọi các chú về đây, tránh nổ súng và tránh đổ máu. Chúng tôi cam phận cá chậu chim lồng.
Trong thư tôi báo chú Cát biết là tôi đã bị bắt, và bảo chú Cát bình tĩnh theo đơn vị này tới gặp tôi. Ðiều quan trọng là phải giữ an toàn cho tất cả các chú, mọi trách nhiệm thuộc phần tôi, các em cứ an tâm. Nhưng từ đó, tôi không được gặp các em cho tới 2 năm sau 1975.

NGƯNG TRÍCH

Với những gì chính anh Luyện viết ra, chắc hẳn quý độc giả và các chiến hữu nhận thấy anh Luyện không hề bị tra tấn, uy hiếp hay đánh đập gì cả mà chính anh Luyện đã tự nguyện xin viết thư kêu gọi anh em còn lại của toán ra đầu hàng sau khi đã suy tính!!!!!. Và thật sự chúng tôi không hiểu anh Luyện có ý gì khi viết: ”Trong thư tôi báo chú Cát biết là tôi đã bị bắt, và bảo chú Cát bình tĩnh theo đơn vị này tới gặp tôi.”

Trong khi cả ba người anh Nguyễn Hữu Luyện, anh Bùi Quang Cát, anh Nguyễn Mạnh Hải cùng bị bắt một lúc và chính anh Luyện đã bảo anh Cát ra gọi anh Vượng vào cho Việc Cộng phục kích bắt dưới suối.

 ( còn tiếp )

Muốn tìm hiểu thêm về Biệt Kích và Nguyễn hữu Luyện, Xin bấm vào các link dưới đây  :