Tôi
biết họa
sĩ Hiếu Đệ thuở
thiếu thời, lúc Anh còn là một sinh viên trường vẽ Gia Định, hằng tuần
vẽ tranh
dã sử Huyền Trân Công Chúa, phỏng theo cốt truyện của nhà văn đang nổi
tiếng ở
Hà Nội là Lan Khai. Những trang tranh đẹp, trẻ trung và hoa mỹ này được
đăng ở
bìa sau Tuần báo Đời Mới (Bộ cũ ấn hành vào thập niên 50) do Lão ký giả
Văn
Lang Trần Văn Ân làm chủ nhiệm. Tuần báo Đời Mới là tờ báo có tầm vóc,
chuyên
về xã hội, văn hóa và nghị luận, tiếng tăm lừng lẫy một thời ở Miền
Nam.
Ấy vậy mà
anh Hiếu Đệ lúc
bấy giờ chỉ là một bạch diện thư sinh, không hơn không kém, lại được
nhận vào
làm cộng tác viên thường trực với lương bổng hàng tháng và hân hạnh
đứng chung
với những tên tuổi trong làng văn nghiệp báo như các ông Hà Việt
Phương, Nguyễn
Đức Quỳnh, Hoàng Trọng Miên, An Khê Nguyễn Bính Thinh, Trần Ngọc Trai,
Phan
Quang Trường, Hồ Hán Sơn, Giang Tân, Nguyễn Văn Mại, Tế Xuyên, Trường
Lưu
v.v... cùng với những cộng tác viên sáng giá nhưng không thường trực
đương thời
như luật sư Vương Văn Bắc, cụ Nghiêm Xuân Thiện, nhà báo Trúc Sơn, nữ
sĩ Mộng
Tuyết Thất Tiểu Muội, nhà biên khảo Lê Văn Siêu, nhà báo Tam Ích Lê
Nguyên
Tiệp...
Quả thật đây
là một hiện
tượng quá hiếm hoi trong lịch sử báo chí miền Nam, dường như có một
không hai
thời buổi ấy.
Tài năng của
Anh được xem
như phát triển rất sớm so với những bạn bè trang lứa. Anh đam mê hội
họa nói
riêng và văn chương nghệ thuật nói chung. Cụ Trần Văn Ân (sinh năm 1903
tại
Long Xuyên và mất năm 2002 tại thành phố Rennes, Pháp), ngoài lãnh vực
chánh
trị mà cụ đeo đuổi xuyên suốt từ ngày còn là sinh viên du học ở Pháp,
đồng thời
với những nhà cách mạng Việt Nam như các cụ Nguyễn Thế Truyền, Phan Văn
Trường,
Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch, Phan Văn Hùm v.v... lại là một nhà báo
chuyên
nghiệp, già dặn kinh nghiệm.
Cụ có con
mắt dùng người nên
thu nhận anh Hiếu Đệ, ngoài việc vẽ tranh dã sử, còn giao cho phụ trách
cả công
việc nặng nề, minh họa toàn bộ các trang trong, nhứt là những trang thi
ca và
văn chương nghệ thuật. Chính Anh là người đã dày công nghiên cứu, trình
bày
những trang thơ rất được
ưa chuộng của những tác giả làm nên một thời
như Quang Dũng, Hồ Dzếnh, Trần Dần, Kiên Giang...
Cụ đã nhắm
và chọn đúng
người đúng chỗ. Và những bức tranh dã sử bay bướm, hoa mỹ đăng ở bìa
sau tờ Đời
Mới cũng như những bức minh họa với nét vẽ trẻ trung, tươi mướt của anh
Hiếu Đệ
đã đóng góp một phần không nhỏ nhằm chinh phục cảm tình, thu hút, lôi
cuốn độc
giả từ Nam chí Bắc. Anh đã thực sự tiếp tay nâng số phát hành của tờ
báo vượt
hẳn lên. Trong một hồi ký mới đây vừa ráo mực, chỉ vài tháng trước khi
qua đời,
khi hoài niệm nhắc nhớ đến cụ chủ nhiệm báo Đời Mới, Anh có ghi lại
hiện tượng
này mà Anh khiêm nhường cho là một sự may mắn trong đời mình.
Thực tế, Anh
đã thành công
ngay ở những bước đầu bập bũm, ngấp nghé nghiệp dĩ mà ai cũng cho là
giăng mắc
khó khăn, đầy chông gai. Để rồi từ điểm khởi hành thành công nhanh
chóng ngoài
sức tưởng tượng đó và với niềm hãnh diện của tuổi trẻ đang mò mẫm, dò
dẫm tìm
một lối đi cho đời mình, Anh nguyện tiếp tục đeo đuổi ý nguyện và sự
réo gọi
của lòng, xuyên suốt bao nhiêu thập niên thăng trầm sóng gió, song hành
với
dòng sử mệnh khổ đau của đất nước và dân tộc cho đến ngày nhắm mắt xuôi
tay trở
về với cát bụi ngày 16 tháng 4 năm 2009.
Nơi đây, hôm nay
trong
hương khói tưởng tiếc
luyến nhớ Anh và với tư cách một người bạn tâm đồng ý hợp đã từng viết
chung
nhau gần hai thập niên nay, năm bảy tập truyện, ngoài một số bài viết
đăng báo,
tôi xét thấy có bổn phận và nhứt là tấm lòng ghi lại đôi dòng hoài niệm
Anh,
gọi là một chút tình riêng đối với người đi trước cho phải đạo. Nhưng
thú thật,
tôi không hề có tham vọng, vả lại tự xét, biết mình không hội đủ khả
năng cùng
vị trí để viết lên đầy đủ và trọn vẹn cuộc đời cũng như sự nghiệp văn
chương
nghệ thuật của Anh. Một cuộc đời quá đỗi phong phú và đa dạng, bao trùm
rất
nhiều lãnh vực khác nhau như hội họa, biếm họa, văn chương, xã hội và
công tác
phục vụ cộng đồng. Tôi chỉ dám mạo muội ghi lại nơi đây một số kỷ niệm
riêng tư
giữa Anh và tôi từ dạo biết nhau và hợp tác với nhau phục vụ văn hóa
dân tộc,
qua văn chương chữ nghĩa ở hải ngoại.
Đó là khoản
thời gian khá
dài cả hai anh em chúng tôi nhờ ơn trên và phước đức dòng tộc tổ tiên
may mắn
thoát khỏi ngục tù cộng sản, để sau đó đành cam chấp nhận cuộc sống lưu
vong
trong niềm đau ray rứt uất hờn, thường xuyên gậm nhấm tâm tư tình cảm
mình. Mặc
dù cách xa nhau hằng vạn dặm, tôi tỵ nạn chánh trị ở miền Bắc nước Pháp
còn anh
thì sống tầm gởi bấp bênh ở tiểu bang Michigan Hoa Kỳ, chúng tôi vẫn
tâm đắc
trong ý chí hướng thượng, trong quyết
tâm kiên trì, phấn đấu chống lại chủ nghĩa cộng sản nơi quê nhà. Cho
nên chúng
tôi đã cùng nhau chung lưng đâu cật, vượt bao nhiêu khó khăn vật chất
lẫn tinh
thần, cố gắng bàn thảo, trao đổi, viết chung năm tập truyện đã trình
làng, cùng
nhiều bài viết đăng rải rác nơi báo chí, đặc san đấu tranh, tập san văn
chương
học thuật ở khắp nơi trên thế giới.
Nhưng
trước hết có một điều tôi thấy cần làm sáng tỏ để những thế hệ về sau
này không
thắc mắc lúng túng, nếu phải có dịp viết về người nghệ sĩ tài hoa, có
nếp sống
phóng túng, bất cần đời này. Khi anh từ bỏ anh em chúng tôi vĩnh viễn
ra đi
trong ngậm ngùi thương nhớ, luyến tiếc ngập lòng của đông đảo bạn bè
văn thi
hữu bốn phương, Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và nhiều báo chí cùng báo
điện tử
khắp nơi có ra thông báo cũng như gởi lời chia buồn cùng gia đình,
trong đó ghi
rõ năm sanh của Anh là 1935. Có lẽ Văn Bút Việt Nam và các báo ấy ghi
lại trung
thực năm sanh của Anh trên giấy tờ tùy thân chánh thức khi Anh gia nhập
hội?
Thực ra, Anh
sanh năm 1932,
như anh em chúng tôi đã từng xác nhận nhiều lần trong phần giới thiệu
tác giả ở
năm tập truyện anh em tôi viết chung nhau là Bên Đục Bên Trong, Niềm
Đau Bạc
Tóc, Nước Mắt Tình Yêu, Nước Lớn Nước Ròng và Ngàn Sao Lấp Lánh. Bản
tiểu sử dù
được tóm tắt ngắn gọn này đã được Anh duyệt kỹ mỗi lần sách được nhà
xuất bản
Hương Cau, Pháp in ấn và phát hành.
Vả
lại, Anh cũng từng xác nhận đôi ba lần tuổi thật của Anh trong những
bài viết
đó đây. Lý do vì vừa từ bỏ chiến khu trở về thành, hoang phí một thời
gian
“chống xâm lăng” của tuổi trẻ ăn không ngồi rồi vô tích sự, Anh phải
khai sụt
tuổi để có thể nộp đơn xin vào nhập học trường Mỹ Thuật Gia Định, trong
khi Anh
đang lang bạt tìm sống ở Thủ đô Sài Gòn phồn hoa xa lạ nhưng có quá
nhiều cám
dỗ:
“Tôi
có lẽ lớn hơn hết giữa các bạn cùng lớp. Vì tôi lấy giấy khai sanh của
đứa em
tôi để vào trường. Trong giấy khai sanh xuống đến ba, bốn tuổi nên tôi
được anh
em bầu làm trưởng lớp” (1).
Cũng
ở một đoạn khác, khi Anh nhắc đến việc mấy giáo sư Trường Vẽ Gia Định
thành lập
một nhóm hội họa trong đó có các giáo sư Nguyễn Văn Long, Nguyễn Văn
Anh và Lưu
Đình Khải. Các vị này lấy tên chung là LAK, tự bỏ tiền túi dựng nên
những xưởng
vẽ như xưởng sơn mài, sơn dầu, xưởng tranh lụa, xưởng làm mộc v.v...
Anh viết:
“Có
lẽ mấy thầy thấy tôi lớn tác hơn hết nên cử tôi làm đại diện lớp và
cũng là
trưởng xưởng luôn. Tôi có bổn phận chăn đám thợ mộc và thợ sơn khá
đông. Nhất
là vẽ những phần quan trọng trong tác phẩm như phủ mài, đánh bóng. O
bế,
vẽ mặt mũi thiếu nữ (partie délicate) đều phải có sự trông nom của Hiếu
Đệ”
(2).
Anh
Hiếu Đệ với tư cách là một sĩ quan Tâm Lý Chiến trong Quân Lực Việt Nam
Cộng
Hòa bị cộng sản miền Bắc lật lộng, gian dối bắt tập trung đi học tập
cải tạo
trong thời gian năm năm để thỏa mãn chánh sách hận thù, truy diệt những
thành
viên lãnh đạo hoặc chủ lực của chế độ Miền Nam Việt Nam. Sau khi được
trả tự
do, Anh không được chánh quyền mới cho phép sinh sống ở Đô thành và dĩ
nhiên
không được phép hành nghề cũ.
Anh phải làm
nhiều việc tạm
bợ, lây lất qua ngày tháng, nhưng cuối cùng vẫn bị cưỡng bách quản chế
dài hạn
ở U Minh Thượng (Rạch Giá – Cà Mau). Nơi đây, Anh có ghi lại sau này
tập hồi ký
nhan đề U Minh Lưu Xứ có giá trị thời sự nóng bỏng của một giai đoạn
đau thương
đong đầy nước mắt của người dân Miền Nam, đồng thời tràn ngập những
phong tục
tập quán của người bản địa. Tập hồi ký này được nhiều nhà phê bình văn
học hiện
đại đánh giá phong phú, mới mẻ, hiện thực hơn cả tác phẩm Hương Rừng Cà
Mau của
Sơn Nam Nguyễn Minh Tài, mà một thời tôi nghe đâu đó có người xác nhận
“nói dóc
có căn cơ”.
Anh đã vượt
biên không biết
bao nhiêu lần, nhưng mỗi lần đều gánh lấy những thất bại chua cay, thê
thảm.
Lúc này, Anh đã thực sự kiệt quệ từ vật chất lẫn tinh thần, nhiều lúc
đâm ra
thất vọng ê chề. Vì Anh cứ ngỡ rằng mình đang ở tận chân tường, tiến
thối lưỡng
nan, mình sẽ vĩnh viễn chôn chặt cuộc đời nơi xứ tù chung thân xã hội
chủ
nghĩa. Anh sẽ không bao giờ còn có dịp cầm cọ và cầm bút trở lại. Một
niềm đau ray
rứt, câm nín của một nghệ sĩ sáng tác chân chính bị chế độ chuyên chính
độc tài
tước đoạt những quyền tối thiểu, những quyền cơ bản của con người và
nhứt là
những giá trị thiêng liêng của Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền.
Lần vượt
biên sau cùng, Anh
bị công an cộng sản bắt câu lưu năm 1980, khi chuyến mạo hiểm sinh tử
này bị bể
ở một cửa biển thuộc tỉnh Bến Tre. Nếu tôi nhớ không lầm là Bình Đại
thì phải.
Anh có nói chắc chắn lần ấy, Anh đã bị bọn tổ chức vượt biên bất lương
phối hợp
với đám bán bãi gày bẫy để cướp đoạt tài sản, nhà cửa người dân vô tội,
nhứt
quyết trốn bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa bằng mọi giá. Cho dù cái giá đắc
nhứt là
sự sống.
Anh đã ghi
lại tỷ mỷ diễn
tiến tình tiết éo le, cười ra nước mắt của lần thất bại hi hữu đó trong
hồi ký
Đầu Năm Ngọ Cơ Đồ Đổi Thay, qua giọng văn hiện thực quen thuộc của Anh.
Một giọng
văn vừa hóm hỉnh, trào lộng nhẹ nhàng, vừa sâu sắc đắng cay, thấm thía
một nỗi
buồn cô đơn dằng dặt đêm ngày bất tận, một niềm đau bất lực tận cùng
của hầu
hết người dân Miền Nam mất tự do, trói mình sống trong sự khống chế,
kềm kẹp
tàn nhẫn của một chế độ hà khắc sắt máu, tham nhũng bất nhân nhứt trong
chuỗi
dài lịch sử dựng nước.
Nhưng
cuối cùng, may mắn rồi cũng đến với anh, với cả gia đình Anh. Anh được
đến bến
bờ tự do ao ước qua diện H.O. để đến trại chuyển tiếp Palawan, Phi Luật
Tân,
trước khi đi định cư năm 1990 ở Thành phố Holland thuộc Tiểu bang
Michigan Hoa
Kỳ. Tại đây, Anh đành chấp nhận cuộc sống lưu vong đến khi qua đời năm
2009. Và
tôi cũng bắt đầu liên lạc lại với Anh qua trung gian một bậc đàn anh
văn nghệ
vong niên đáng kính, quen biết lâu đời trước 1975.
Đó là anh An
Khê Nguyễn Bính
Thinh, nhà văn nhà báo chuyên nghiệp mà chúng tôi thân tình thường gọi
là anh
Chín. Anh đã từng nổi tiếng một thời ở Miền Nam trước 1975 vì đã dám cả
gan
lãnh viết cùng một lúc mười ba tiểu thuyết đăng hằng ngày (feuilleton)
trên các
nhựt báo lớn ở Sài Gòn lúc bấy giờ, như Tiếng Chuông của cụ Đinh Văn
Khai, Sài
Gòn Mới của bà Bút Trà, Công Nhân của cố ký giả Trần Tấn Quốc, Buổi Sáng của Tam Mộc Mai Lan Quế, Tia Sáng của Nguyễn
Trung Thành, Thời Báo của Dương Chí Sanh v.v...
Anh An Khê
cũng mới vừa đặt
chân đến Pháp qua diện đoàn tụ gia đình do người con gái đầu lòng là cô
Vân Nga
bảo lãnh và đang tạm sinh sống ở miền Nam nước Pháp. Lúc ấy, anh chưa
có giấy
tờ hợp lệ để được phép ở lại Pháp. Mặc dù còn trong hoàn cảnh khó khăn
bấp bênh
nhưng anh lại có cơ may sớm liên lạc được với anh Hiếu Đệ trước tôi,
trong khi
tôi đã nhiều năm dọ hỏi hoài công qua các báo chí nơi anh cộng tác vẽ
tranh biếm
họa.
Tôi vẫn nhớ
và vẫn giữ kỹ
bức thư anh An Khê viết cho tôi ngày 6 tháng 8 năm 1994 sau khi lưu ý
tôi địa
chỉ của anh Hiếu Đệ kèm theo một số tranh hí họa của anh ấy:
“Hiếu Đệ là
em út của tôi từ
ngày mới tập tễnh vào nghề ở tờ Đời Mới của cụ Văn Lang Trần Văn Ân.
Chú nhớ
liên lạc với nó. Nó bụi đời, nhưng cởi mở và dễ thương lắm. Nó là loại
Lão
Ngoan Đồng Châu Bá Thông đấy. Chú nhớ đừng quên liên lạc với nó!”.
Lúc bấy giờ,
tôi đang phụ
trách trông coi phần nội dung của đặc san song ngữ Văn Hóa Pháp Việt
(France
Vietnam Culture) xuất bản mỗi hai tháng một kỳ tại miền Bắc Pháp. Từ
dạo đó,
chính anh Hiếu Đệ cũng như anh An Khê đã nhiệt tình đóng góp rất nhiều
bài vở
và ý kiến xây dựng,
những kinh
nghiệm quý báu được tích lũy qua
những năm dài lăn lóc trong ngành báo chí trước đây ở quê nhà. Và chính
sự đóng
góp thường xuyên liên tục và tình nguyện vô điều kiện ấy ở mỗi số báo,
không
sót một số nào cả, đã giúp cho sự thành công của tờ Văn Hóa được kéo
dài hơn
mười lăm năm cho đến ngày đình bản vì lý do sức khỏe của tôi.
Anh Hiếu Đệ
còn liên tục tô
điểm tờ báo qua những bức tranh biếm họa độc đáo, diễn tả tinh thần đối
kháng
đáng phục, thể hiện lập trường cương quyết nói lên ý thức đấu tranh cao
độ vì
chính nghĩa và lý tưởng quốc gia dân tộc. Qua những sáng tạo dưới nét
vẽ thâm
trầm, ý nghĩa sâu sắc đó, Anh không ngừng khẳng định thái độ dứt khoát,
trước
sau như một của mình, chống lại chủ nghĩa cộng sản vô thần, tàn ác sắt
máu,
tham nhũng ung thối, cướp giựt công khai.
Và tôi cũng
không ngờ qua
lần giới thiệu này của anh An Khê lại là một điềm anh An Khê có linh
tính ký
thác những người ở lại tiếp tục nối vòng tay lớn, đồng tâm hiệp lực,
chung lưng
nhau cùng đi trên con đường thênh thang chói chan của dân tộc, của tình
thường
và của tổ quốc quật cường. Cũng nhờ đó, hai anh em chúng tôi, Hiếu Đệ
và tôi
mới có dịp hợp tác lâu dài đến phút cuối cùng của một đời người. Nhưng
tiếc
thay, những việc chúng tôi cùng làm chung nhau một cách quyết tâm và cụ
thể lại
đến quá muộn màng vì anh An Khê đã ra đi không lâu sau đó, mất đi một
dịp thỏa
lòng ký thác.
Ngoài việc
hợp tác văn hóa,
về phương diện cá nhân riêng tư trong cuộc sống cộng đồng và xã hội,
tôi rất
mến mộ anh Hiếu Đệ ở nhiều khía cạnh tình cảm và cung cách xử thế. Là
một con
người, lại là con người năng động, không ngại dấn thân trong nhiều lãnh
vực
khác nhau, va chạm không ít, nhứt là trong bối cảnh ly hương tỵ nạn,
lòng người
phân tán phức tạp, níu kéo nhau qua danh vọng tiền tài, quyền lợi riêng
rẻ của
cá nhân và phe nhóm, dĩ nhiên trong hoàn cảnh ấy mỗi người dù có tinh
thần và
thiện chí đến đâu cũng không sao tránh khỏi những phiền hà tai tiếng
đến từ
nhiều phía. Đó là chưa nói đến đám cán bộ cộng sản nằm vùng và tai sai
ẩn mình,
trường kỳ mai phục, hoặc đội lốp quốc gia chống cộng đầu môi chót lưỡi,
luôn
tìm mọi sơ hở nhỏ nhặt để đánh phá, gây hoang mang, chia rẻ trầm trọng,
hủy
diệt niềm tin cùng tiềm năng và chiến đấu tính của cộng đồng Việt Nam
tỵ nạn
cộng sản. Lắm lúc anh Hiếu Đệ vẫn bị bươi móc đời tư, vẫn bị “chụp mũ“
và bị
gán cho hai chữ “thân cộng” hay thâm độc hơn là “cộng sản nằm vùng
trường kỳ
mai phục”.
Cũng may,
không vì thế mà
anh chán ngán, nãn lòng, xuôi tay bỏ cuộc. Anh không đặt nặng cá nhân
mình, mặc
dầu đôi lúc tình cảm riêng tư, tự ái bị tổn thương trầm trọng. Vì Anh
cho rằng
tình đời vốn dĩ là như thế, không phải luôn luôn lúc nào cũng xuôi chèo
mát mái
như mình tưởng. Mà lắm lúc thác ghềnh giăng mắc, quanh co hiểm nguy
không tránh
khỏi trên từng bước đi. Mình phải chấp nhận, xem đây như một định luật
bất biến
của trời đất. Đó là tâm tình chân thật của Anh qua vô số thư từ Anh
thường
xuyên liên tục gởi cho tôi.
Trái lại,
Anh vẫn mạnh dạng
chóm dậy, đứng thẳng người, dỏng dạt tiếp tục đi tiếp và đi trọn vẹn
đến hơi
thở cuối cùng con đường chính nghĩa quốc gia chói lòa ánh sáng, tiếp
tục cuộc
chiến sống còn dang dở của một quân nhân không hề chấp nhận buông súng
giải
ngũ. Nếu ngày nay Anh không còn có một thứ vũ khí sắt bén nào trong
tay, Anh
vẫn còn một thứ vũ khí khác vô cùng hữu hiệu hơn, đáng sợ hơn: đó là vũ
khí
tinh thần. Một thứ vũ khí tuyệt vời không một ai, không một thế lực nào
có thể
lung lay, khống chế hay dễ dàng mua chuộc được.
Nội dung
những bài viết liên
tục hằng tuần hằng tháng, tất cả những bức tranh biếm họa, hí họa được
triệt để
khai thác theo những đề tài thời sự nóng bỏng, vừa nhạo báng sâu cay,
vừa thâm
trầm ý nghĩa, tràn ngập trên báo chí hầu như khắp nơi trên thế giới, từ
Hoa Kỳ
sang Âu Châu đến Úc Đại Lợi... và nhứt là gần đây ở các báo điện tử,
liên mạn,
đã nói lên một cách hùng hồn tinh thần đấu tranh kiên cường và chống
cộng dứt
khoát của Anh. Anh không cần lên tiếng phân trần hoặc phản bát đôi co
về những
lời xuyên tạc hạ cấp, vì xét thấy không cần thiết đối với những bôi bẩn
vu vơ,
không căn cứ, đôi khi dựng đứng với cố tình và ác ý.
Anh thường
tâm sự với tôi
qua điện đàm hay qua những bức thư dài viết gởi tôi hầu như hằng tháng
là Anh
nguyện với lòng chỉ lấy thực tế của hành động, của tiếng nói trung thực
của quả
tim mình để chứng minh. Tôi nghĩ chắc ít có người nào dù khó tánh hay
hẹp hòi
đến đâu phủ nhận được ý nghĩa đích thực về những sáng tạo tim óc của
Anh.
Dù sự bất
lợi đó đối với một
họa sĩ chuyên nghiệp, suốt đời sống với màu sắc, sống với sáng tạo tự
do và lại
là nhà văn bất đắc dĩ trong hoàn cảnh chẳng đặng đừng nơi cõi tạm lưu
vong,
nhưng có chí hướng, soi sáng bởi tâm lành, bởi quyết tâm phải làm một
cái gì để
không cúi mặt, không hổ thẹn ở những ngày tháng cuối đời, Anh tự biết
mình chỉ
còn có một loại vũ khí duy nhứt sót lại nơi hải ngoại. Đó là cây cọ và
ngòi
bút. Nhưng
là cây cọ sắt. Và ngòi bút
thép. Với bấy nhiêu cũng đủ cho
Anh đối phó với cả một hệ thống cộng sản phản động. Chúng liên tục và
xuyên
suốt đánh phá cộng đồng với những phương tiện nhân sự và tài chánh
khổng lồ,
đục khoét bòn rút nơi hơn tám mươi mấy triệu sinh mạng người dân vô tội
từ Nam
chí Bắc, triền miên đói nghèo, mất tự do.
Do vậy, tôi
luôn luôn mến mộ
Anh. Vì một lẽ dễ hiểu là Anh quả là con người chí tình chí nghĩa, một
mẫu mực
thủy chung như nhứt. Con người Anh không hề bị vẩn đục thường tình, dù
hoàn
cảnh và trạng huống éo le ngang trái nào. Một thứ tình nghĩa trong
sáng, hào
hiệp, trực tính, không hề có hậu ý toan tính hơn thiệt, thiệt hơn, mặc
dù đôi
lúc có vẻ ngang tàng, “bụi đời”, “chịu chơi “. Nhưng là cái ngang tàng
lãng mạn
rất mực dễ thương, vừa yêu đời yêu người, vừa yêu thiên nhiên vạn vật,
chớ
không phải cái ngang tàng hận thù chém giết của đám “du côn” đầu trộm
đuôi cướp
nhan nhản khắp nơi trong xã hội, nhứt là của bọn “đỉnh cao trí tuệ”
trong chế
độ xã hội chủ nghĩa nơi quê nhà.
Một trong
những đức tính nổi
bậc ấy là tình nghĩa của Anh đối với bạn bè, đặc biệt là những bạn bè
thân
thiết chí cốt, những bạn nối khố từ những lúc còn mài đủng quần trên
ghế nhà
trường trung học. Anh dám hy sinh tất cả, mặc kệ những trói buộc của
gia đình,
vốn không dư dả hơn ai, lại đùm đùm gánh nặng con cái nheo nhóc. Những
lúc ấy, Anh bất cần hậu quả ra sao về sau,
miễn giúp
được bạn bè mãn nguyện và hạnh phúc là Anh vui rồi.
Anh chẳng đã
từng viết:
“Con người
còn có một niềm
khích lệ lớn là bạn bè. Những người am hiểu và cùng chia xẻ những nỗi
vui buồn
với mình”
(3)...
“Ngày tôi
mới đến Sài Gòn,
tôi có làm anh em với đám bụi đời đánh giày trên hè phố. Muốn có thùng
dụng cụ
để đi đánh giày phải chịu nhiều điều kiện. Trường hợp mình làm ăn khá
thì phải
nuôi lại những đứa chân ướt chân ráo mới vào đời. Do đó, tôi có thói
quen giúp
đỡ anh em. Nhứt là sau này với các anh em làm văn làm báo ở miền Bắc
miền Trung
bị Dương Văn Giáo đuổi vào Sài Gòn mang thân phận ‘Hành Phương Nam’
kiểu nhà
thơ Nguyễn Bính” (4).
Cuộc đời
truân chuyên lận đận
của Anh từ thuở thiếu thời, xa cha mẹ gia đình để vào Sài Gòn đi học và
sau đó
lang thang “bụi đời” nơi phồn hoa đô thị, đã có ảnh hưởng rất lớn đối
với Anh.
Chính cuộc sống lang bạt, rày đây mai đó, xem như không có nơi nào làm
điểm tựa
chắc chắn để ẩn thân, chính cuộc sống phóng túng rất sớm ấy, về sau khi
có địa
vị vững vàng đã giúp Anh mở rộng cửa lòng, dang tay giúp đỡ những người
chung
quanh. Anh thông cảm và thương yêu tha nhân, nhứt là những người cô
thế, lỡ
bước, thường bị dồn vào chân tường trong một đất nước luôn luôn bị phân
hóa vì
chiến tranh, trong một xã hội đua chen tranh giành nghiệt ngã. Nếu kể
ra đây
những lần ra tay nghĩa hiệp của Anh, tôi nghĩ không bút mực nào kể cho
xiết.
Tôi chỉ xin
ghi lại đây một
trường hợp hi hữu, hiếm hoi có thể là có một không hai trên thế gian
rối nhùi
lắm chuyện này, xem như tiêu biểu cho nhận xét của tôi. Và tôi dám quả
quyết
chắc chắn khó có một người nào khác có thể thực hiện được như Anh.
Trong hồi ký
cuối đời khi nhắc nhớ đến cụ Đinh Văn Khai, chủ nhiệm nhựt
báo Tiếng Chuông trước 1975 ở quê nhà, người đã từng nhiều lần bênh
vực, đỡ đầu
và thực tình ra tay nghĩa hiệp giúp đỡ Anh trong những lúc khó khăn bế
tắc, Anh
viết những dòng sau nầy xem như lời tạ ơn muộn màng đối với một bậc
đàng anh
văn nghệ khả kính đã mất ở Canada cách đây hơn mười năm:
“Vợ tôi có
bầu đứa con đầu lòng, tôi thấy nàng rất lo lắng. Nàng nhịn
ăn, dành dụm từng chục bạc cẩn thận bỏ trong cái gối nằm. Hỏi ra tôi
mới biết
cô nàng để dành tiền, phòng khi đi sanh nở.
“Lúc đó, họa
sĩ Nguyễn Văn Phương đang lo triển lãm tác phẩm của mình.
Nguyễn Văn Phương sau này là tác giả Mỹ Thuật Việt Nam Hiện Đại do Nha Mỹ Thuật ấn hành. Anh ta bị thiếu
hụt khoản tiền đóng khuôn. Anh ta chạy đến tôi để xin cầu cứu.
“Tôi suy
nghĩ mãi không biết lấy tiền ở đâu ra. Tôi chợt nhớ tới cái
gối tiền của vợ tôi dành để đi nhà bảo sanh. Tôi lấy ngay trao cho
Nguyễn Văn Phương ôm đi để gở kẹt làm cho vợ tôi ngồi
khóc quá cở.
“Tôi an ủi vợ
tôi:
“- Em đừng có
lo, lỡ có chuyển bụng em cứ đi
nhà bảo sanh, tiền sanh nở để anh lo cho, không sao đâu. Hôm nay mình
lo cho
bạn bè để cho nó nổi tiếng, mai sau đến phiên mình trình bày tranh thì
anh em
họ xúm nhau lo lại, chứ mình có mất mát gì đâu.
“Lúc này, tôi
đang ở Xóm Cầu Mới hẽm Trần Quang
Khải, gần rạp chiếu bóng Văn Hoa. Tôi nhớ tối hôm đó vợ tôi chuyển
bụng. Nàng
đòi đi nhà bảo sanh. Mấy chị hàng xóm chạy lại bu quanh nhà. Mấy chị
nói thầy
Đệ, con người chậm lụt
lắm để chị em chúng tôi đưa cô Mười đi sanh còn mau mắn hơn.
“Họ chở vợ tôi
trực chỉ đến chợ Đa Kao nơi nhà
bảo sanh Hạnh Phước. Tôi đủng đỉnh theo sau mấy chị em phụ nữ ở xóm lao
động
này. Họ thấy gia đình tôi cũng khá đơn chiếc nên họ giúp đỡ thật chí
tình.
“Vài ngày sau,
tôi chạy xuống tòa soạn báo
Tiếng Chuông ký cái biên nhận một ngàn
đồng. Cô Thu Ba
(con gái ông chủ nhiệm Đinh Văn Khai) cầm biên nhận của tôi lên
phòng ông
chủ nhiệm kiện:
“- Ông Hiếu Đệ
tháng này con thấy ổng có vẽ cái
gì đâu mà Ba lại ký cho ổng lãnh đến ngàn đồng lận.
“Ông chủ nhiệm
cười:
“- Ba ký cho
ổng đó. Con có biết sao không? Vợ
ổng sanh cháu bé đó. Lẽ ra ba còn ký thêm để mừng cho gia đình ổng nữa
chớ.
“Cô Thu Ba vừa
đi vừa cằn nhằn
nhưng rốt cuộc cô ta cũng phát tiền cho tôi“.
Lối sống của
anh Hiếu Đệ là như
thế đó. Nói bốc đồng thì cũng đúng phần nào, nhưng thực sự tôi nghĩ
không hẳn
là như vậy. Bởi vì Anh vốn có cái tâm lành trong con người Anh. Cái
thiện thâm
đó hướng dẫn Anh thương mến bạn bè, cảm thông nỗi khốn khó bất hạnh của
tha
nhân. Đọc Anh trong những tác phẩm viết chung nhau, tôi nhận thấy dễ
dàng không
biết bao nhiêu trường hợp tương tự mà Anh ghi lại với tất cả tấm lòng
triều mến
lo lắng và nhứt là có trách nhiệm cao độ, một khi Anh đã quyết tâm dấn
thân.
Nhưng đôi khi cái tâm lành ấy gây cho Anh khá nhiều rắc rối, hiểu lầm
là khác.
Dạo nọ, Anh mới
được thả về từ trại cải tạo sau
năm năm dài đọa đày, gian khổ “trả nợ máu“ qua nhiều trại tù hắc ám, tưởng chừng không có ngày về với gia
đình vợ
con. Chỉ vì một câu
chuyện cũ, Anh đã vẽ mười mấy tên Việt cộng ốm nhom ốm nhách, đói trơ
xương
cùng nhau ôm một cọng đu đủ mà không hề bị gãy. Cũng như hầu hết các
bạn đồng
hội đồng thuyền bất hạnh khác, Anh bị đặt dưới sự quản lý của địa
phương một
thời gian. Thời gian Anh chờ đợi đủ điều kiện ấn định để được tổ dân
phố cứu
xét trả quyền công dân. Từ đó, Anh mới có thể trở thành người công dân
bình
thường, tức có hộ khẩu chánh thức và hằng tháng được hưởng phần phân
phối nhu
yếu phẩm chết đói. Nếu Anh không tìm được công ăn việc làm hợp lệ theo
tiêu
chuẩn khắc khe của chế độ đặt định lúc ấy thì sẽ bị xúc đi vùng kinh tế
mới để
sản xuất tự túc.
Mỗi ngày, hầu
như không sót ngày nào, Anh đều bị
tên công an khu vực, một tên răng đen mã tấu ngu ngơ dốt nát Miền Bắc
mới vào
công tác trong Nam với bộ áo quần màu vàng thùng thình xốc xếch nhưng
nghênh
ngang hống hách, kênh kiệu tự đắc, xem trời bằng vung, đến dò la tìm
kiếm, hỏi
thăm sức khoẻ. Do đó, những người thân trong gia đình mới khuyên lơn
Anh nên
thử thời vận đến nộp đơn xin việc làm ở Phòng Thương Mãi Đô Thành.
Lúc bấy giờ
Phòng Thương Mãi được đổi tên mới là
Trung Tâm Quảng Cáo Ngoại Thương Thành Phố.
Nơi đây người ta chuyên phụ trách trình bày các
loại bao bì cho
những mặt hàng xuất khẩu.
Tên Tổng Giám
Đốc lại là người láng giềng với gia
đình Anh. Anh tưởng đâu tên này có thể nhờ cậy được, có thể giúp Anh
một tay để
thoát khỏi bế tắt ngặt nghèo, tận chân tường. Thì ra hắn ta cho biết hồ
sơ của
Anh bị phòng nhân viên bát bỏ, vì ở đây không nhận những người tù cải
tạo mới
về.
Họ chỉ nhận anh
Trần Dinh. Họa
sĩ Trần Dinh là anh của nhà thơ Trần Dần, từng nổi tiếng chống đảng và
suốt đời
bị trù dập, cất đầu không lên. Anh ta ở Hà Nội vừa vào Sài Gòn, chưa có
chỗ ở.
Tên Tổng Giám Đốc nói nhà Anh có đến bốn từng lầu, xin cho anh Trần
Dinh ở trọ
một thời gian.
“Tôi dẫn anh
Trần Dinh về nhà
bị vợ tôi cằn nhằn quá:
“- Đã không xin
được công ăn
việc làm thì chớ, ai lại đi lãnh cái búa bao giờ. Anh Trần Dinh vẽ biếm
họa cho
tờ Nhân Văn Giai Phẩm bị cải tạo khá lâu, nay lại ở chung với Anh, một
cây biếm
họa nổi tiếng trong Nam. Mặc dầu anh chẳng có vẽ cóc gì nữa nhưng người
ta vẫn để
ý. Tại sao các ông chỉ muốn gây chuyện với công an hoài vậy?
Người ta trả hồ sơ xin việc lại cho
anh. Tại sao anh không biết trả họa sĩ Trần Dinh lại cho người ta?
Chuyện đó dễ
thôi!“.
Nói gì thì nói,
họa sĩ Trần Dinh
cũng tá túc một thời gian nơi nhà anh Hiếu Đệ. Mặc dù Anh vẫn ý thức về
những
âu lo canh cánh của người vợ hiền đảm đang chịu đựng. Chị đã từng thay
mặt Anh
trong những ngày dài tù tội để bươn chải nuôi nấng đàng hoàng đám con
dại, cả
việc thăm nuôi chồng tươm tất:
“Đám cộng sản
bảo là vợ tôi
quản lý chồng con còn chặt chẽ hơn cả công an khu vực. Chỉ sợ tôi uống
rượu say
rồi chửi đổng. Cộng sản bắt đi cải tạo trở lại mút mùa. Nhà nước bỏ tù
một công
dân coi như bỏ tù cả vợ con của công dân đó luôn. Nếu không xách giỏ đi
nuôi
thì tên tù phải chết đói. Con cái không được học hành và kiếm việc làm.
Muôn
đời bị khép vào hồ sơ chính trị loại C“ (5).
Chung qui, nếu
anh Hiếu Đệ hành
xử như vậy chẳng qua do cái tâm lành tiềm ẩn, lẩn quất thường xuyên
trong Anh,
chỉ chợt phát hiện, bộc bạch ra ngoài trước một nghịch cảnh éo le ngang
trái,
trước một trạng huống bế tắt khó xử. Cái tâm lành đó ở Anh là tình
thương tha
nhân, “thương người như thể thương thân“, bao la trong sáng, chính là
căn bản
tất yếu của cuộc đời và cả của nhân loại.
Tôi lại chợt
nhớ một đoạn văn
Anh đã chắt chiu trang trải vuông tròn quan điểm này của mình, khi thay
mặt một
trại viên cải tạo đấu lý với một nữ cán bộ cộng sản trẻ đang được bố
trí công
tác tại trại này:
“... Tôi tin
tình thương lớn
hơn hận thù. Tình thương thắng cả hận thù và ganh ghét. Lúc sanh ra,
chúng ta
nằm trong cánh tay bà mẹ đầy tình thương yêu cho đến khi lớn lên, đi
học đến
trường thì nhà trường cũng đào tạo chúng ta có chút đỉnh văn hóa để
hiểu nhân
loại tiến bộ vì lấy tình thương làm căn bản. Tình thương ăn sâu vào tâm
trí
chúng ta như một qui luật. Cái qui luật ấy chẳng phải riêng cho loài
người mà
xét kỹ ra là cho cả muôn loài trong vũ trụ. Loài người có óc thông
minh, óc
sáng tạo mới tìm ra lẽ huyền vi ấy. Đó là sự
thật. Đó là chân lý… Chúng ta sanh ra đâu có nanh có vuốt như loài ăn
thịt sống
hẻo hông? Chúng ta chỉ có hai cánh tay là vũ khí tình thương để thương
yêu
nhau, nắm chặt tay nhau để chống lại cuồng bạo của thiên nhiên từ xa
xưa đến
nay. Hai cánh tay ấy không cho phép chúng ta sống cô độc hay chia bè
phái kình
chống nhau. Chúng mặc nhiên bảo chúng ta thương yêu, giúp đỡ nhau để
trường
tồn. Tình thương là chìa khóa căn bản của cuộc đời, của nhân loại» (6).
Sống rộng rãi cởi mở, bộc
trực, bất cần đời như lời
văn mộc mạc, chơn chất thật thà cố hữu của Anh, viết như nói, nghĩ sao
viết
vậy, không chải chuốt cầu kỳ, không làm duyên làm dáng, khiến độc giả
bốn
phương rất thương mến và quý trọng Anh. Anh còn một ưu điểm khác làm
cho khi
vắng Anh trên chốn lưu đày bất đắc dĩ nầy, lòng tôi luôn ray rứt nhớ
thương
Anh, ngoài sự cảm phục chân thành và sâu xa của tôi. Đó là tánh Anh
không hề
giận ai lâu, không màng nghĩ tới việc hờn ghét người nào dây dưa. Anh
không giữ
mãi trong bụng mình những tình tiết khó chịu, thoáng qua ấy. Nói rõ ra,
Anh rất
dễ xí xóa bỏ qua mọi chuyện. Sự thứ tha nơi Anh không khó lắm, đôi khi
cũng nhờ
thời gian giúp Anh mau quên tất cả, vì Anh vốn là một Phật tử, hiểu tận
tường
giáo lý nhà Phật, từ bi hỉ xã.
Nhiều lần, tôi bất đồng ý
kiến với Anh về một đoạn văn dính liếu đến thời
sự chung quanh những vấn đề chánh trị phức tạp, sôi động, có thể gây
hiểu lầm
hoặc vô tình tạo tranh luận vô ích, làm mất tình đoàn kết trong cộng
đồng tỵ
nạn cộng sản. Hay những ghi nhận hồi ức liên quan đến hành vi cùng
những lời
tuyên bố bất lợi của một nhân vật tên tuổi có thật ngoài đời. Những lúc
đó tôi
thành thật góp ý góp lời với Anh. Lắm lúc vì nghĩ suy nong cạn, tôi cứ
ngỡ Anh
có thể sẽ hờn giận tôi vì những lời nói thành thật và dứt khoát ấy của
tôi.
Nhưng không.
Tuyệt đối không.
Anh vẫn hồi âm
tôi ngay sau đó ít ngày, chỉ ít
ngày ngắn ngủi thôi, có lẽ vì Anh sợ tôi trông chờ chăng? Chẳng những
Anh không
phiền hà giận hờn gì tôi, mà trái lại còn vui vẻ xác nhận những sơ hở
vô tình
đó của Anh. Chẳng những Anh không hẹp hòi cố chấp, Anh còn tỏ ra biết
phục thiện
nữa.
Anh vốn là một
Phật tử thuần thành, một Phật tử
tu tại gia thì đúng hơn. Hoặc một thiền giả cũng không sai hẳn. Anh lại
chung
thủy với mọi người đã có một thời đi qua đời Anh và đã để lại trong Anh
nhiều
kỷ niệm đẹp. Ai cũng biết trước 1975, Anh có mối quan hệ nghề nghiệp
khá khắng
khít với nhà xuất bản L. B., lúc ấy hình thành và sanh hoạt vững mạnh
một thời
gian khá dài ở Sài Gòn. Anh có cho tôi biết cơ sở này do nguồn tài
chánh quan
trọng hầu như duy nhứt của thiền sư Nh. H. từ ngoại quốc liên tục gởi
về chi
viện.
Đó là thời kỳ
chiến tranh lên cao độ. Cộng sản
miền Bắc chủ trương xâm lăng Miền Nam bằng mọi giá, với sự hổ trợ đắc
lực,
không giới hạn về nhân lực và tài lực của cả khối cộng sản quốc tế Nga,
Tàu và
các nước Đông Âu. Quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa mọi cấp, mọi
ngành bắt
buộc phải hy sinh xương máu, chiến đấu để tự vệ. Có lúc họ phải chiến
đấu đơn
phương trong hoàn cảnh cực kỳ thiếu thốn, nhằm bảo toàn lãnh thổ quốc
gia, cùng
duy trì nền tự do dân chủ và quyền sống của mình.
Cộng sản miền
Bắc bản chất dối gian, ma giáo, quỷ
quyệt đưa ra chiêu bài hấp dẫn thời chiến:
chấm dứt chiến tranh. Chúng không ngớt huênh hoang tuyên truyền đòi
Miền Nam và
Hoa Kỳ phải lập lại hòa bình tức khắc trong những lúc tiềm lực chiến
tranh của
chúng suy yếu, thực sự có nhiều bất lợi cho mộng xâm lược của Bắc bộ
phủ. Dù
vậy, chúng cũng gây được phong trào phản chiến qui mô rầm rộ ở Hoa Kỳ
và ở hầu
hết các nước kỹ nghệ tân tiến, nhờ sự tiếp tay đui chột, mù quáng của
giới
truyền thông cùng báo chí thiên tả và nhứt là đám “trí thức“ khoa bảng
ngây ngô
cứ tưởng mình tiến bộ, tiên phong dẫn dắt dư luận thế giới và thời đại.
Thiền sư Nh. H.
là một trong những phần tử Việt
Nam hiếm hoi ở hải ngoại thời bấy giờ đã liên tục cổ võ nhiệt tình cho
“phong
trào hòa bình“ nầy. Một phong trào quốc tế có tầm cở rộng lớn vô cùng
bất lợi
cho công cuộc chiến đấu tự vệ vì chánh nghĩa và sự sống còn tất yếu của
Miền
Nam. Một trong những lý do quyết định đã đưa đến thảm họa đau thương
ngày 30
tháng tư năm 1975.
Nên nhớ ở trong
nước, nhà xuất bản L. B. được hai
thầy T M. V Th. T. và Th. T. trông coi mọi việc xuất bản và điều hành
cho đến
ngày Miền Nam bị cưởng chiếm. Sau này, thầy T. M. thành lập nhà sách và
nhà
xuất bản V. Ngh. ở Californie, Hoa Kỳ. Trong khi thầy Th. T. lập ra một
nhà
xuất bản riêng lấy tên là A. T. Cả hai tiếp tục in sách ở hải ngoại
nhiều thập
niên qua, nhưng nay đã ngưng hẳn hoạt động.
Ai cũng biết
thiền sư Nh. H. mang quá nhiều tai
tiếng trong cộng đồng tỵ nạn cộng sản. Những việc làm bấy nay và những
lời
tuyên bố có lợi cho cộng sản của thiền sư nhằm đánh phá chánh nghĩa
quốc gia,
báo chí đấu tranh khắp nơi trên thế giới đã trung thực và thường xuyên
phơi bày
cặn kẽ. Nơi đây tôi không có ý thêm bớt chi cả. Nhưng những sự kiện
hiển nhiên
có đầy đủ bằng cớ nầy không một ai có thể nói khác hơn được, ngoại trừ
bọn cộng
sản nằm vùng và tai sai khuyển mã của chúng, đến nay vẫn tiếp tục bênh
vực,
thay đen đổi trắng.
Trong những bài
viết, thỉnh thoảng anh Hiếu Đệ có
nhắc nhở, dù phớt qua vài câu hay vài đoạn đến thiền sư Nh. H., do chỗ
có qua
có lại ngày xưa với nhau. Việc nhắc nhở này theo tôi nghĩ và biết rõ
ràng như
là một kỷ niệm, một chứng nhân trong vô vàn kỷ niệm và chứng nhân khác
trong
các ký ức của Anh thôi. Vì Anh không hề cố tình. Vì Anh không có một
hậu ý đen
tối nào khác.
Nhưng chính
những lần đó, tôi khuyên Anh nên mạnh
dạng cắt bỏ, không nên giữ lại những đoạn văn ấy, tức tôi muốn Anh
không cần
thiết phải nhắc đến tên thiền sư Nh. H. Việc nầy chỉ để tránh khơi dậy
niềm đau
trầm thống và sự phẫn uất chất ngất của những người quốc gia chân chính
đang
sống lưu vong nơi xứ người hay những người vô phước vô phần còn đang dở
sống dở
chết ở trong nước. Nhứt là đối với đông đảo gia đình thương phế binh và
tử sĩ
Việt Nam Cộng Hòa, cùng những người đã anh dũng nằm xuống đâu đó trên
quê hương
vì đại nghĩa trong cuộc chiến tự vệ khốc liệt vừa qua.
Và cũng vì lẽ
đó cho nên trong những trường hợp
bất khả kháng, chẳng đặng đừng, chúng tôi viết tắt hai chữ: Nh. H. mà
thôi.
Hoặc ghi đại khái là một thiền sư, không xác nhận rõ tên họ... Đó là
trường hợp
gần đây, Anh viết một bài hoài niệm nhạc sĩ Anh Việt tức Đại tá Trần
Văn Trọng,
tác giả nhạc phẩm bất hủ Bến Cũ. Những lần này, Anh không hề tự ái,
phiền hà
giận hờn gì tôi và tiếp tục cư xử với tôi như bát nước đầy, không một
chút gợn.
Sống trong các
trại cải tạo của cộng sản, những
nhà tù trá hình khổng lồ và khủng khiếp nhứt trong lịch sử loài người
từ thượng
cổ đến nay, con người không thể nào tránh khỏi đôi lúc thể hiện đầy đủ
và rõ
nét cá tánh cùng bản chất của mình. Thường xuyên bị rúng ép kềm kẹp, bị
khống
chế tình cảm và tinh thần, thiếu thốn về mọi mặt, trong khi sức chịu
đựng của
con người dù sao cũng có giới hạn, họ rất dễ dàng phản ứng khác ngày
thường,
đôi khi thiếu hẳn suy nghĩ. Chỉ vì một lời nói, một cử chỉ, một chi
tiết nhỏ
nhặt không đâu. Một người bạn tù của anh Hiếu Đệ có thuật lại giai
thoại sau
đây chung quanh một cục sà bông.
Anh tên là Bùi Phú. Sau
thời gian “trả nợ máu” dài hạn, rốt cuộc anh cũng
qua được Hoa Kỳ theo diện H.O. Anh may mắn gặp lại anh Hiếu Đệ ở
Chicago, nhân
một buổi hợp mặt đông đảo của cộng đồng người Việt tại
đây dịp hội Tết Nguyên Đán.
Ngồi nơi bàn tiệc, Bùi Phú mới kể chuyện về Hiếu Đệ ở trong trại cải
tạo cho
mọi người cùng nghe.
«Anh ta
nói:
«-
Buổi chiều hôm đó, anh em đi lao động về kéo nhau xuống suối tắm. Có
anh nọ
được vợ cho một cục sà bông Dove thơm phức. Anh ta ra điều kiện chỉ cho
mỗi đứa
chà sà bông lên đầu một phát thôi. Trong lúc anh Đệ với tay tìm cục sà
bông thì
mắt nó bị cay xè nhìn không rõ, chụp lấy tay anh Đệ chửi thề:
«-
Con C... nè! Tao thấy chú mầy đã chà lên đầu đến phát thứ hai rồi...».
Bùi
Phú nói tiếp:
«- Tôi
thấy anh Đệ bị oan. Tôi tưởng đâu anh ta sẽ giận. Nhè đâu anh Đệ vẫn
cười khà
khà nói khôi hài:
«-
Tao cám ơn mầy hết sức đã nhắc
tao về tên tuổi cái con C... nầy. Thật ra ba bốn năm nay tao cũng có tắm rửa
kỳ cọ săn sóc cho nó.
Nhưng tao vẫn quên nó mất. Tao chẳng biết tên tuổi nó là cái gì. Hay có
lẽ nó
là đồ vô tích sự. Đến nay, tao được mầy kêu tên nó một cách rất là quan
trọng.
May quá! Không thì tao bỏ quên nó mất rồi!
«Cả
bọn ở dưới suối cùng phá lên cười» (7).
Không
hề giận đúng theo lối sống bất cần đời nên anh Hiếu Đệ luôn trân quý và
yêu
chuộng cái cười. Anh lấy cái cười hiền hòa, cái cười hề hà cởi mở, cái
cười cảm
thông để giải tỏa những ẩn ức, những buồn phiền trong lòng. Mà cũng để
hóa
giải, lùa xa không khí căng thẳng, có cơ gây mất đoàn kết, làm tổn
thương tình
cảm của nhau trong một hoàn cảnh nghiệt ngã, gần như cận kề cái chết
không biết
đến lúc nào. Chính nơi đây và lúc nầy, điều cần nhứt là sự nương tựa,
tương
thân tương ái để cùng chung nhau vượt qua khổ ải, nhằm duy trì mạng
sống. Mạng
sống hơn lúc nào hết quý giá nhứt. Nụ cười đối với Anh Hiếu Đệ là tôn
chỉ của
cuộc sống, là kim chỉ nam xử thế trong chung đụng hằng ngày, dù bất cứ
ở đâu,
trong hoàn cảnh khó khăn nào.
Bây giờ, ta hãy nghe quan
niệm của Anh về cái cười để hiểu rõ hơn con
người của Anh:
«Những ngày đi cải tạo,
tôi bị đổi trại đến năm lần. Tôi vác chiếu đi đến
đâu cũng đều bị bọn Việt cộng xỉ vả:
«- Cả miền Bắc đều lên
án, biết mầy là tên Hiếu Đệ. Mầy đã từng vẽ chục
thằng Việt cộng ốm nhách còn tệ hơn con khỉ, cả chục thằng đeo không
rụng cọng
đu đủ (8).
Mầy khi dễ tụi
tao vừa thôi nhé! Nay
đảng ta phải bắt mầy trả nợ máu, đi cải tạo mút mùa lệ thỉ cho chết
luôn.
“Tôi muốn
tức cười vỡ bụng
nhưng vẫn cố làm thinh. Ở đời, nếu mình
coi tất cả chỉ là một trận cười thì đúng nó là một trận
cười. Nếu mình cứ coi nó là khổ đau thì coi chừng có bữa sự khổ đau đè
mình
chết. Đức Phật cũng có nói vạn pháp đều do Tâm, Tâm dẫn đầu, Tâm tạo
tác nên
tất cả. Nếu Tâm ô nhiễm, khổ ải sẽ theo ta như bánh xe lăn theo bước
chân con
vật (Kinh Pháp Cú)“ (9).
Mà thật vậy.
Trong những hoàn cảnh khốn khổ trầm
thống, Anh thường bảo nếu không cười cho tan biến, cho trào ra, dù là
cái cười
ràng rụa nước mắt, héo mòn tim gan thì những khổ đau ủ rũ sẽ đưa mình
sớm về
với ông bà. Việc này nên tránh vì chẳng có ích gì đến sức khoẻ, mà chỉ
thiệt
thân thôi.
Cuộc đời đối
với Anh Hiếu Đệ chung cuộc chỉ là
một vỡ bi hài kịch ngàn đời không đổi thay, để nói theo nhà soạn kịch
bất hủ
của Anh Quốc, W. Shakespeare. Anh đã chẳng những tâm sự nhiều lần với
mọi người
gặp gỡ đó đây hoặc trong những hồi ức về những trại tù cải tạo của cộng
sản. Nơi đây, Anh cho là một địa ngục,
một nơi khốn đốn nhứt trên thế gian đối với những người bị giam giữ. Và
cũng
nơi đây, đối với bọn cộng sản “quản giáo“ ma mãnh gian xảo, đám “vệ
binh“ nhốc
con hống hách..., việc quan trọng nhứt là những giờ lên lớp. Những giờ
này được
chúng gọi là học tập chánh trị để chúng phát động tuyên truyền tẩy não.
Trại cải tạo
quả thật là địa ngục trần gian. Thế mà lũ bạn của Anh cứ bu
lại chung quanh chỗ Anh ngồi để được vui cười, để được nghe những trận
cười
“quên sự đời“. Đa số đều cùng một ý kiến như nhau. Các anh nói chẳng
thấy anh
Hiếu Đệ khóc bao giờ. Nhưng có người lên tiếng nhắc lời một thi sĩ nào
đó đã
nói: "Nụ cười là tiếng khóc khô không lệ". Đối với anh Hiếu Đệ,
trường hợp này quả đúng phần nào.
Nếu muốn tìm nụ
cười đó của Anh, thiết nghĩ không
gì bằng đưa mắt xem qua những bức tranh biếm họa mà Anh đã vẽ từ ngày
còn là
sinh viên trường Mỹ Thuật Gia Định cho đến ngày Anh qua đời ở Michigan,
Hoa Kỳ.
Nó rất phong phú, đa dạng và rất cập nhựt thời sự. Từ những bức tranh
thuở
thiếu thời có tánh cách chọc cười “bình dân“, “thọc lét“ hồn nhiên, vô
thưởng
vô phạt, nhằm giúp giới lao động buôn gánh bán bưng ở các chợ chung
quanh Sài
Gòn Chợ Lớn trước 1975 dùng để bàn bạc đánh đề ba mươi sáu con, đến
những bức
hí họa sắc sảo, độc đáo có hậu ý trình bày trước công luận quần chúng
nhằm chỉ
trích, đánh phá, đạp đổ những áp bức bất công trong xã hội và những
tang tóc,
chém giết tàn bạo của chiến tranh xâm lược. Đó là những chấm phá hằng
ngày của
Anh có nội dung chánh trị rõ rệt và quyết liệt. Nhưng trọng tâm chính
yếu của
những bức tranh biếm họa chánh trị này vẫn là cuộc chiến đấu sống còn
trước sau
như một, chống lại chủ nghĩa cộng sản vô thần và chế độ xã hội chủ
nghĩa tai
hại nơi quê hương mà Anh đã có một thời là nạn nhân trong thời kỳ kháng
chiến
chống Pháp ở tỉnh nhà.
Nghề vẽ biếm
họa của Anh, xuất phát từ nỗi đam mê
bẩm sinh, từ sự réo gọi của nội tâm và qua quá trình sáng tạo nghệ
thuật công
phu, không phải suôn sẻ dễ dàng. Trái lại, nó giăng mắc đầy rẫy những
chông gai
chướng ngại không sao tránh khỏi, đôi lúc rất nguy hiểm, có thể đưa đến
tù tội
hoặc cái chết bất ngờ vì bị thanh toán, ám sát đến từ mọi phía.
Người ta thường
nói “viết phải lách“. “Lách“ để
tránh những tai họa, những hiểm nguy bất cập đến với mình, trong khi
ngoài ngòi
bút mình không có một chút phương tiện nào khả dĩ để tự vệ. Đối với
Anh, nghề
vẽ biếm họa cũng phải “biết lách“, phải sáng suốt biết uyển chuyển
tránh né mới
mong tránh khỏi những điều phiền phức.
Anh chẳng đã
từng phát biểu:
“Người Việt
chúng ta thường không thích châm biếm, không
thích vui cười. Bị châm chọc, người ta hay nổi giận. Bạn bè tôi thường
bị mang
họa vì ba cái tranh vui cười của tôi“.
Anh có nhắc
giai thoại sau đây rất lý thú. Tôi xin được phép trích dẫn vài
phân đoạn để chứng minh cái bề trái cũng như hậu quả của những tranh
biếm họa
vui cười của Anh. Và cũng để mọi người cùng suy gẩm:
“Anh Hồng Sơn,
làm việc ở Phòng Kiểm Duyệt của Sở Thông
Tin trên đường Phan Đình Phùng. Anh có ra tờ
báo Sinh Hoạt. Trang bìa đăng cái tranh của Hiếu Đệ vẽ nông
dân Việt Nam thấy cái thùng đồ Mỹ viện trợ có in hình hai bàn tay bắt
lại với
nhau, mừng vô cùng mới nói:
“- Lúc này
nước mình giàu to.
“Thì ra khi
chiếc máy bay Mỹ thả thùng đồ xuống lại đè
phải nông dân xệp ruột. Thùng bị vỡ ra toàn là súng ống và bom đạn.
“Thôi thì đành chết một
cửa tứ.
“Bức
tranh này làm anh Hồng Sơn bị mất sở. Tờ Sinh Hoạt bị đóng cửa. Anh
Hồng Sơn bị
đổi đi làm Trưởng phòng Thông Tin tỉnh Cà Mau...” (10).
Anh
An Khê Nguyễn Bính Thinh có ghi như sau trong hồi ký Hai Mươi Lăm Năm
Vinh Nhục
Trong Làng Báo Sài Gòn Trước 1975. Lúc đó, Anh bỏ Sài Gòn, bỏ viết tiểu
thuyết
hằng ngày trên mười ba tờ nhựt báo lớn với lương bổng đảm bảo trọng hậu
hằng
tháng để về thủ phủ miền Tây làm Giám Đốc Đài Phát Thanh và xuất bản tờ
báo
Miền Tây, tờ báo hằng ngày duy nhứt ở tỉnh lẻ từ trước đến nay.
Trong lần
bầu cử Quốc Hội ở đơn vị Cần Thơ, có ông bác
sĩ nọ ở địa phương ra ứng cử dân biểu. Tờ
báo có đăng cái tranh của Hiếu Đệ vẽ bà nọ bế đứa con đi khám bịnh, cái
đít đứa
bé đang chảy re. Còn ông bác sĩ thì đưa cái toa ra đòi phải trả năm
chục đồng.
Nếu không có thì ông không chịu chữa bịnh.
Ngặc một nỗi
là lúc đó anh An Khê không có mặt ở Cần
Thơ vì Anh phải đích thân đi làm một thiên phóng sự đặc biệt “bắt hạm”
ở ngay
tại tỉnh lỵ Rạch Giá, quê hương của Anh. Cũng trong thời gian vắng mặt
đó, tờ
báo Miền Tây có đăng một cái tin ngắn “cán chó” của một sinh viên ham
thích làm
báo thì phải. Nhưng ban biên tập vì bận rộn quá nhiều việc, sơ ý phạm
một lỗi
kỹ thuật nên bị người trong cuộc kiện ra tòa đòi bồi thường thiệt hại
danh dự.
Báo hại lúc về, anh An Khê nhận được trác đòi phải ra hầu tòa với tư
cách là
chủ nhiệm, người hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung tờ báo. Kết quả
Anh mất
chân Giám Đốc Đài Phát Thanh, tờ báo Miền Tây bị đóng cửa, còn anh bị
án tù
treo sáu tháng.
Lý do là ông ứng cử
viên bác sĩ này có ông anh làm chánh án. Ông này lại đang ngồi xử vụ
kiện nói
trên. Và dĩ nhiên, ông tòa này có trí nhớ dai. Ông không sao quên được
bức
tranh biếm họa của Hiếu Đệ có tác dụng truyền thông quảng bá rộng rãi
đã làm
cho ông em mình bị thất cử chua cay. Sau đó, anh An Khê cười hề hà kết
luận với
các cộng sự viên thân tính của mình là Anh thất kiện đau như bị bò đá,
không
phải vì nội dung bài báo không quan trọng này, mà chỉ vì một lý do duy
nhứt là
sự liên hệ gia đình của ông chánh án mà thôi.
Anh Hiếu Đệ cũng có kể tiếp:
“Có lần tôi giữ trang
đặc biệt về bầu cử Quốc Hội, đơn vị Sài Gòn Chợ Lớn sau khi Thủ tướng
Ngô Đình
Diệm truất phế Quốc Trưởng Bảo Đại và tổ chức bầu cử thành lập quốc
hội. Tôi vẽ ứng cử viên toàn là mấy chàng mặt dày mày
dạn, cọ xuống đường nhựa xẹt lửa.
“Thầy thuốc Quách Tân
Xuân chuyên moi bịnh trỉ của mấy bà già nhà quê. Nhà đầu cơ gạo thóc
Phạm Văn
Út đang ngồi trên bao gạo bóp cổ dân nghèo.
“Họ cho công
an đi hỏi tội, làm tôi cả tháng không dám
xuống tòa soạn nhà báo. Tôi cũng chẳng chui ra khỏi ký túc xá của nhà
trường.
“Sau nhất là mới đây
năm 1996, bức tranh tên Việt cộng nói chuyện với con vịt. Vịt
đây là tượng trưng cho ngành
báo chí. Tên cán bộ dạy đời lũ vịt rằng:
“- Làm báo ở
Việt Nam thì phải có đảng tính. Làm báo ở
Mỹ, ở nước tự do thì phải có đĩ tính, phải biết vẫy mực vào mặt cộng
đồng để
xin quảng cáo. Như thế mới làm ăn khá được.
“Báo hại,
chuyện thinh không lại xảy ra rắc rối một
thời gian. Một số mấy bà chủ báo đòi giải thợ vẽ ra tòa. Thật ra, bức
tranh tôi
vẽ từ lâu. Người ta lên báo trong lúc họ gay cấn với nhau, chớ tôi
không hề
đụng chạm đến một cá nhân nào. Hơn nữa, tôi cũng chẳng biết mặt mũi mấy
bà chủ
báo này là ai cả. Thật oan ơi ông Địa!” (11).
Anh Hiếu Đệ thường tâm
tình với bạn bè. Nghề làm báo cũng có mang đến cho Anh những giờ phút
ngập tràn
niềm vui thanh tao cao nhã, được quen biết nhiều, quan hệ rộng với
nhiều giới,
nhiều thành phần khác nhau trong xã hội, nhưng nghĩ cho cùng không được
yên ổn
mấy, đôi khi còn rất nguy hiểm nữa. Như thời chánh phủ Ngô Đình Diệm
lên cầm
quyền thành lập nền Đệ Nhứt Cộng Hòa, phủ định hiệp định đình chiến
Genève, do
có nhiều điều khoản bất lợi cho Miền Nam. Đại diện phái đoàn Cộng
sản đều bị
đuổi cổ về Hà Nội. Đương nhiên dẹp bỏ vụ Hiệp thương hai miền để tiến
tới tổng
tuyển cử tự do trên toàn quốc theo lời đề nghị của Hiệp định. Các lực
lượng võ trang Cao Đài, Hòa Hảo và Bình
Xuyên sau đó bị giải giới để thống nhứt quân đội quốc gia đang hình
thành.
Trong hoàn
cảnh rối reng đó, nhiều thành phần đảng phái bị thanh lọc và truy quét.
Một số
đông anh em ký giả làm báo ở Đô thành bị vồ vô ấp vì bị nghi ngờ có
nhúng tay
xa gần trong việc phát động bản cương lĩnh của Mặt trận Giải phóng Miền
Nam.
Trong số này dĩ nhiên có đám cán bộ cộng sản được trường kỳ mai phục,
không tập
kết ra Bắc nhằm thừa cơ hội gây rối, đánh phá thể chế Miền Nam. Nhưng
cũng có
những thành phần không hẳn theo cộng sản. Mà chỉ vì họ nhạy bén, hăng
say phê
bình, chỉ trích những sai trái hoặc thiếu sót, sơ hở của chánh quyền,
cũng như
từng tích cực binh vực giới bình dân lao động nghèo khổ.
Anh Hiếu
Đệ cũng bị bắt câu lưu hai tuần lễ ở sở Công an đường Ngô Quyền, giáp
với bến
Hàm Tử Chợ Lớn, về sau được đổi thành Biệt Kích Đội IV trực thuộc Tổng
Nha Cảnh
Sát Quốc Gia. Theo tôi được biết chỉ vì Anh nằm trong ban biên tập hoặc
hợp tác
với những tờ báo bị chánh quyền theo dỏi lúc đó. Mặc khác, Anh còn có
mối liên
hệ bằng hữu rộng rãi với đám ký giả cộng sản hay thiên tả như Nguyễn
Văn Hiếu
sau tháng Tư Đen làm Giám đốc Sở Thông Tin Văn Hóa Thành phố Hồ Chí
Minh và sau
ngày thống nhứt Bắc Nam trở thành Bộ trưởng Thông Tin Văn Hóa trong
chánh phủ
trung ương, ký giả Việt Quang, Tổng Thư ký nhựt báo Tiếng Chuông, tác
giả tập
truyện nhi đồng kháng chiến Xin Đắp Mặt Tôi Mảnh Lụa Hồng, phóng viên
Quốc
Phượng Trương Thanh Vân sau này làm việc ở tờ Sài Gòn Giải Phóng, ký
giả Phong
Đạm, Văn Mại v.v… nên bị liên lụy. May cũng nhờ có vụ Tỉnh trưởng
Nguyễn Trân ở
Mỹ Tho đối chất với hai mươi mốt ký giả đang bị câu lưu nên tất cả được
trả tự
do trong đó có Anh. Nhưng sau đó, một số ký giả đảng viên hay có cảm
tình với
cộng sản đã bỏ đi vào chiến khu.
Anh viết:
«Tôi
về thấy nhà cửa bê bối. Công an còn ngồi tán dóc ở trong nhà để chờ bạn
bè đến
thăm hỏi tôi thì bắt. Vợ tôi mới sanh cháu nhỏ bế về, lo lắng sợ sệt.
Hoàn cảnh
rất khổ sở.
«Thật
ra tôi đã tốt nghiệp trường Mỹ Thuật và Sư Phạm cũng đã được cả năm
rồi. Bộ
Quốc Gia Giáo Dục làm sự vụ lệnh bổ nhiệm tôi đi Cần Thơ dạy học để
thay thế
họa sĩ Nguyễn Đình Cường. Anh ta về làm Giám đốc trường Kỹ Thuật Bình
Dương.
«Nhưng lúc
ấy tôi không chịu đi nhận việc. Bây giờ kẹt quá phải đành thôi.
«Cũng
nhờ nghề làm báo và vẽ tranh
vui cười nổi tiếng chọc cười thiên hạ nên khi vào lính tôi được đưa về
phòng
Chiến Tranh Chánh Trị ngồi với anh Nguyễn Đạt Thịnh, Thanh Nam, Mặc Thu
trông
coi tờ Chiến Sĩ Cộng Hòa và tờ Chỉ Đạo. Trôi dạt khắp nơi rồi cũng về
lại Sài
Gòn thôi» (12).
Anh
Hiếu Đệ được minh oan vì một sự
hiểu lầm. Anh được chánh quyền quốc gia trả tự do. Chẳng những Anh trở
lại cuộc
sống bình thường như bao công dân lương thiện khác, mà còn được tính
nhiệm,
trọng dụng trong guồng máy hành chánh và giáo dục, cũng như ở lãnh vực
quân sự.
Chánh thể Miền Nam Tự Do rõ ràng khác hẳn chế độ xã hội chủ nghĩa miền
Bắc. Giá
Anh sống trong “thiên đường” cộng sản, chắc chắn Anh sẽ bị truy
đì suốt
đời đến chết, không sao ngốc đầu dậy nổi. Vì chính sách của chúng là
«thà giết
lầm» để trừ hậu họa.
Anh
Hiếu Đệ thường trao đổi với tôi
về vị trí của con người trong xã hội, trong cộng đồng, cũng như trong
mọi lãnh
vực của cuộc sống hằng ngày. Mọi người phải biết vị trí của mình, phải
biết chỗ
đứng rõ rệt của mình để giải quyết mọi tình huống, để vượt qua những
khó khăn
chướng ngại của môi trường đang chi phối mình. Do biết xác minh vị trí
đó, Anh
đã thoát khỏi bao cạm bẫy mắc giăng suốt chuỗi dài ngày tháng lao tù và
những
phiền toái trong thời gian Anh lang bạt tìm sống trong xứ tù chung thân
xã hội
chủ nghĩa.
Là một nghệ sĩ dấn thân,
một họa sĩ sáng tác tự do và với vị trí này Anh quan niệm về nghệ thuật
như
sau:
“Người nghệ sĩ ngồi trước
giá vẽ phải thật tình với chính mình, tức là
dân tộc và nghệ thuật. Chúng ta không
được làm dáng, không được a dua chạy theo bè phái, kể cả
thị hiếu của đám đông. Chẳng cần đi tìm ở đâu xa vời. Nghệ thuật chân
chính
đang nằm trong trái tim của mình đây” (13).
“Chỉ có nghệ
thuật mới sống
hơn con người và vĩnh hằng hơn con người. Tác phẩm nghệ thuật muôn đời
như dòng
sông rì rào, như ngàn sao lấp lánh” (14).
Làm nghệ
thuật sau ngày Miền
Nam bị cộng sản hoàn toàn cưởng chiếm năm 1975 là đặc quyền đặc lợi của
chế độ.
Không phải ai có năng khiếu, có kiến thức nghệ thuật mà có quyền tự do
sáng
tác. Anh Hiếu Đệ cho rằng nghệ thuật hôm nay dưới thể chế xã hội chủ
nghĩa là
tiếng nói của đảng, phải do đảng trực tiếp chỉ đạo theo khuôn mẫu đường
lối của
ban lãnh đạo tư tưởng trung ương.
Nói cách
khác, người “nghệ
sĩ” trong chế độ này phải có vị trí đảng tính hay nói chung chung là
phải được
huấn luyện, đào tạo từ Hà Nội hay từ Liên Xô hoặc các nước Đông Âu. Do
đó, họ
phải có giấy chứng nhận hành nghề chánh thức giống rập khuôn như trong
lãnh vực
kinh doanh thương trường. Nghĩa là họ nhứt thiết phải có “ba tăng”, chỉ
có mỗi
một việc ngoan ngoản sáng tác một chiều theo đơn đặt hàng của đảng,
nhằm để câu
cơm, để luồng lách trèo cao trên nấc thang danh vọng.
Vì lẽ ấy,
anh Hiếu Đệ từng
chán ngán xác nhận vị trí của Anh là thành phần “có nợ máu với nhân
dân” vừa
cải tạo trở về nên luôn luôn hành xử đúng theo vị trí đó. Anh quyết
định thà đi
đạp xích lô mướn hằng ngày để sinh sống cho khoẻ cái thân già. Rồi
những khi
rổi rảnh ế khách hoặc những lúc mõi mệt, Anh lang thang, lê la đầu
đường cuối
hẻm tán gẩu với bạn bè ngày cũ cho qua ngày tháng. Anh hay gọi đùa là
Anh đang
“rong chơi ca múa” chờ ngày hoàn tất thủ tục đi Hoa Kỳ theo diện H.O.,
sau khi
thất bại không biết bao nhiêu lần vượt biên. Anh cũng nhiều lần hóm
hỉnh bảo
rằng hiện giờ mình chẳng có cái tích sự gì để “xây dựng xã hội chủ
nghĩa giàu
đẹp” cả.
Anh lưu ý
một vài thân hữu
trong nghề còn có thể ký gởi được tâm sự mình trong hoàn cảnh nghi kỵ
nghẹt thở
ở Đô thành. Đừng tưởng lầm hay non lòng cứ ngỡ rằng mình đã “giác ngộ”,
“sáng
mắt sáng lòng” sau những đợt cải tạo nên lao vào vẽ chân dung hoặc nặn
tượng
Bác Hồ mà mang lấy họa vào thân. Dù họ có vẽ, có nặn khéo léo đến đâu,
đạt mức
mỹ thuật như thế nào, chắc chắn cũng không sao tránh khỏi bị đảng phê
bình là
đánh phá chế độ, bôi bẩn nhà nước, chống lại đảng.
Với trình độ
ngu dốt, cộng
thêm tánh ngang ngược xem trời bằng vung, dưới con mắt thiển cận bít
bôi của
chúng, những chân dung hay những bức tượng này trông sao nó giống rặc
như khuôn
đúc mặt “thằng Thiệu thằng Kỳ”. Anh kết luận chẳng qua những người nhẹ
dạ hời
hợt này không quán triệt được vị trí của mình trong chế độ độc tài đảng
trị.
Người chiến thắng vô tâm, loạn ngôn muốn nói quấy nói quá ra sao thì
mặc mà tha
hồ vung vít nói.
Trong truyện
Họa sĩ Lê Chánh
(Nước Lớn Nước Ròng) anh Hiếu Đệ, ngoài việc cống hiến cho chúng ta
biết thâm
cung bí sử của Tổng bí thư Lê Duẫn, có thuật chuyện về một họa sĩ đảng
viên
cộng sản mà Anh cho là một thứ phong kiến nặng, cộng với tinh thần cộng
sản nhà
quê hết thuốc chữa. Qua câu chuyện đó, Anh xác định thêm một lần nữa
quan điểm
nghệ thuật của mình, nhứt là xác minh vị trí của Anh, một người sa cơ
thất thế
đang sống trong gọng kềm của bộ máy đàn áp tư tưởng và khống chế óc
sáng tạo
của con người nghệ sĩ chơn chính.
Anh kể,
trong một bữa nhậu
tại nhà họa sĩ Lê Thanh có sự hiện diện của bạn Anh là Nguyễn Phi Hùng,
một nhà
thầu xây cất. Lúc bấy giờ, đô thị Sài Gòn mặt ngoài có vẻ đang bắt đầu
phát
triển sau nhiều năm nghẹt thở do đường lối và chủ trương hận thù của
đảng, nhằm
bần cùng hóa người dân đô thị. Đó chẳng qua là nhờ phong trào “đổi
mới”, chánh
sách “cởi trói” của đảng và nhà nước nên đám nhà thầu xây cất thường
nhập bọn
với anh em kiến trúc sư và họa sĩ để có được công ăn việc làm.
Anh viết:
“Nguyễn Phi
Hùng bảo ở nhà
anh còn có chai Martell cổ lùn, rủ mọi người kéo nhau về dứt điểm. Đến
nơi, tôi
mới biết ông Nguyễn Phi Hoanh là bố của anh Hùng.
“Ông ta là
người Bến Tre tập
kết ra Bắc, tác giả Bộ Lịch Sử Mỹ Thuật Việt Nam. Quyển sách được in
bằng mấy
thứ tiếng trong đó có tiếng Liên Xô, in màu rất đẹp.
“Có điều khi
đề cập đến phần
mỹ thuật Miền Nam, ông ta chửi Hiếu Đệ như tác nước. Ông cụ dựa vào bài
của
Nguyễn Ngu Ý phỏng vấn Hiếu Đệ đăng trên tạp chí Bách Khoa ngày
10.01.1961,
trong đó tôi nói:
“Khách
thưởng ngoạn đi
vào xem tranh không phải như đi schopping mà là đi vào một mê đồ. Người
xem
cũng nên chuẩn bị một ít tình cảm để ngắm nhìn mới dễ bề cảm thông với
người
vẽ. Tôi vẽ con người bị méo mó là vì cuộc đời làm cho nó phải vong thân
hủy
thể. Tự nhiên con người biến thành món hàng, thành quả bom, quả lựu đạn
hay một
đống sắt vụn như bức tranh lập thể, chứ không phải con người mơ màng
trong bức
tranh lãng mạn”.
“Chính vì
câu này khiến ông Nguyễn Phi Hoanh dập cho tôi vài trang sách. Hôm nay
ông tình
cờ gặp tôi, tuy ông không uống rượu với bọn trẻ nhưng cũng xỏ dép ra
ngồi hỏi
tội.
“Tôi nói với
ông ta là tôi
không phải là văn nghệ sĩ miền Bắc, tôi không làm nghệ thuật theo đường
lối
hiện thực xã hội chủ nghĩa. Tôi đã xách khăn gói quả mướp đi cải tạo để
trả nợ
năm năm rồi. Bây giờ tôi làm người dân lương thiện kiếm lấy ngày hai
bữa cơm,
còn chuyện văn hóa văn nghệ xin để lại cho quý vị. Tụi nầy xin “rửa tay
gác
kiếm”, không có mặt trong chốn võ lâm.
…
“Ông nói tôi
phủ nhận tác
phẩm của ông, coi như cuốn Lịch Sử Mỹ Thuật Việt Nam là thứ lỗi
thời mặc dù nhà nước
đã tái bản đến cả chục lần.
“Uống rượu
là điều không
thuận lợi, lại đi cải lý với một đảng viên trung kiên như ông Nguyễn
Phi Hoang
thì chỉ có từ chết tới bị thương thôi. Tôi bèn vận dụng chiêu pháp Lăng
Ba Vi
Bộ của Đoàn Dự trong Lục Mạch Thần Kiếm cho chắc ăn.
“Ông Nguyễn Phi Hoanh xưa học ở trường Mỹ Thuật
Paris, vẽ kiểu ánh
sáng mờ của tranh cổ điển. Ông là một thứ phong kiến cộng với tinh thần
cộng
sản nhà quê, hết thuốc chữa” (15).
Anh Hiếu Đệ
luôn để ý và quan
tâm đến vị trí của mình như kim chỉ nam hành xử ngoài đời. Trong hoàn
cảnh và
môi trường bất lợi vừa kể, hẳn Anh biết hơn ai hết không hề có tự do
đối chất,
không hề có sự bình đẳng trong tranh luận ở một đất nước cai trị bởi
bọn cán bộ
đảng viên đần độn và mạn lưới kềm kẹp của công an, tình báo và vệ binh
nhan
nhản khắp nơi. Việc này hoàn toàn không có lợi cho Anh, khi Anh nói lên
những
lời trung thực của trái tim mình. Anh chọn lấy một thái độ trầm tĩnh,
ôn hòa,
lùi một bước, “rửa tay gác kiếm, không có mặt trong chốn võ lâm”. Anh
coi đây
như một phương cách tránh né tốt hơn hết, ổn thỏa hơn hết.
Tuy nhiên,
không vì vậy mà
Anh đánh mất cái tánh ngang tàng một thời đã qua, cái nét hào hùng cố
hữu của
mình. Khi Anh cất tiếng minh định trước một đảng viên cộng sản kỳ cựu
có nhiều
năm công tác ở lãnh vực văn hóa tư tưởng là Anh “không phải là văn nghệ
sĩ miền
Bắc”. Anh còn dứt khoát “không làm nghệ thuật theo đường lối hiện thực
xã hội
chủ nghĩa“ nữa. Tôi mến phục Anh ở thái độ và phản ứng, vừa khí khái
vừa
tế nhị này trước một người không cùng
chung
chiến tuyến, đã quá khích lại cực đoan thầy phải chạy.
Tôi xin nhắc
lại ở đây quan
niệm nghệ thuật của anh Hiếu Đệ trước sau được tóm gọn qua dòng chữ
này: “Tác
phẩm nghệ thuật muôn đời như dòng sông rì rào, như ngàn sao lấp lánh”.
Chính Anh đã chọn bốn chữ Ngàn Sao Lấp Lánh để đặt cho cái tựa của tập
truyện
viết chung với tôi, đã được nhà Hương Cau in ấn và phát hành năm 2008
tại Pháp.
Một cái tựa dạt dào âm hưởng lãng mạn với nỗi buồn man mát sâu kín,
riêng đối
với anh em chúng tôi, mỗi người tính đến thời điểm đó đều đã quá xa cái
tuổi cổ
lai hi, gần đất xa trời. Chết nay chết mai không biết trước được. Dù
vậy, Anh
hay đùa với tôi: “Anh em mình sống được đến đây là đã quá lời rồi. Lời lắm anh
Trung à! Nếu mình
so sánh với bạn bè thân hữu cùng lứa tuổi, một số không ít, kẻ trước
người sau
tranh nhau lần lượt bỏ cuộc từ lâu”.
Sau khi phát
hành tập sách vào trung tuần tháng 3
năm 2008, anh em chúng tôi hẹn nhau sẽ cố gắng viết tiếp một tập sách
cuối cùng
trong đời mình và sau đó sẽ thực sự “gác kiếm” giã từ vĩnh viễn chữ
nghĩa. Nghĩ
rằng đến đây sức khoẻ không cho phép chúng tôi đi xa hơn nữa trong ước
mơ của
buổi đầu đời. Chúng tôi dự trù sẽ cho ra mắt khoảng đầu năm 2009 tập
truyện mới
dày độ ba trăm trang này.
Tựa của quyển
sách cũng đã được Anh đắn đo lựa
kỹ, sau khi hội ý với tôi chọn trong số khá nhiều tựa mà Anh cân phân
một thời
gian khá lâu. Cuối
cùng, Anh đề nghị nên lấy cái tựa Nước Chảy Huê Trôi và Anh còn cẩn
thận gởi
cho tôi bài Tống Biệt của thi sĩ tài danh một thời là Tản Đà Nguyễn
Khắc Hiếu.
Lá đào rơi
rắc lối Thiên Thai
Suối tiễn,
oanh đưa những ngậm ngùi
Nửa năm Tiên
Cảnh,
Một bước
trần ai,
Lối cũ,
duyên thừa có thế thôi.
Đá mòn, rêu
nhạt,
Nước chảy,
huê trôi
Cái hạc bay
lên vút tận Trời
Trời Đất từ
đây xa cách mãi,
Cửa động,
đầu non, đường lối cũ,
Ngàn năm thơ
thẩn bóng trăng chơi.
(Tống Biệt)
Nước Chảy
Huê Trôi là bốn
chữ được trích trong bài thơ nổi tiếng để đời này của nhà thơ núi Tản
sông Đà. Trong
một bức thơ gởi cho tôi dịp đó, Anh căn dặn tôi nên giữ chữ “Huê“
nguyên bản
như tác giả đã dùng, thay vì viết chữ “Hoa” (Nước Chảy Hoa Trôi) như
một số
người viết văn thường viết thời buổi bây giờ. Anh nói chỉ để tôn trọng
một thi
tài có quá nhiều lận đận trong trường đời.
Đọc cái tựa,
tôi bỗng nhiên
bùi ngùi xúc động. Xúc động bùi ngùi khi nghĩ tới một điềm không may
mắn nào đó
về một cuộc chia ly cách biệt không tránh khỏi giữa anh em chúng tôi.
Người
Việt Nam mình thường hay tin dị đoan, nhưng tôi không hẳn tin, mà sao
thỉnh
thoảng cái điềm không may này lại cứ đeo đuổi ám ảnh tôi mãi. Dầu cho
có nghĩ
quẩn vớ vẩn như vậy, nhưng tôi không hề có can đảm dám phơi bày cảm
nghĩ của
mình và cứ âm thầm tập trung làm việc, mong sớm thực hiện tập sách cuối
cùng
này đúng thời hạn ấn định.
Riêng về
phần anh Hiếu Đệ,
Anh không quên nhờ con trai Anh là họa sĩ Nguyễn Thảo (tên thật Nguyễn
Tánh
Thảo), hiện định cư cũng ở Michigan, Hoa Kỳ, trình bày trước một cái
bìa màu
rất mỹ thuật. Không ngờ từ Ngàn Sao Lấp Lánh bước sang qua Nước Chảy
Huê Trôi
lấy từ Tống Biệt là cái điềm không may nhưng cuối cùng lại là sự thật
đến với
anh em chúng tôi. Đúng là cuộc đời chung qui không có nghĩa lý gì như
lời Anh
thường hay nói. Có đến ắt có đi…
Vì sau đó,
sức khỏe của Anh
cũng bắt đầu suy yếu dần. Luật tạo hóa sinh diệt, bất biến từ ngàn xưa,
không
một ai tránh khỏi được. Lúc này Anh thường xuyên mang bình dưỡng khí
trong mình
theo lời khuyên của y sĩ điều trị. Đi đâu Anh cũng phải mang theo nó
như hình
với bóng, như một tình nhân đầu đời không bằng. Nếu sơ ý hoặc đêm hôm
lỡ để
vuột bình dưỡng khí có thể gây nguy hiểm đến tánh mạng.
Trong hoàn
cảnh khó khăn cực
kỳ bất tiện đó, Anh vẫn cố gắng viết một loạt bài hồi ức về một số bậc
đàn Anh
đã từng dìu dắt nâng đỡ, đã từng tích cực giúp Anh trong những ngày đầu
bỡ ngỡ
vào nghề, cũng như sau đó giang tay cứu vớt Anh trong những hoàn cảnh
lận đận,
khó khăn bế tắc. Tôi rất cảm phục và quý mến Anh cũng như hết tình
ngưỡng mộ
Anh qua ý chí cương quyết và tấm lòng trong sáng ấy của Anh. Anh muốn
qua đó
gởi những lời tạ từ sau cùng, những lời cám ơn và tri ân cuối đời của
Anh đối
với những bậc ân nhân nay không còn nữa.
Tôi lại càng
xúc động có
những nhận xét sau đây khi tiếp đón loạt bài cuối đời này của Anh:
Thứ nhứt là
Anh không còn viết
dong dài tràng giang đại hải, thao thao lả lướt bay bướm với giọng văn
trào
lộng hóm hỉnh bất cần đời quen thuộc ngày xưa nữa. Trái lại, mỗi bài
viết hôm
nay hầu hết đều rất súc tích, cô đọng ngắn gọn, độ mười trang giấy viết
tay rất
thoáng, rất rộng rãi với nét chữ khá to. Anh viết một cách trung thực,
lời văn
thành thật chơn chất, nhưng đượm một nét buồn đậm đà thấm thía về vài
khía cạnh
cuộc đời và sự nghiệp của những người đã ra đi trước Anh. Anh hoài niệm
với tất
cả tấm lòng thương yêu tiếc nuối vô bờ bến.
Nhận xét thứ
hai của tôi là
nét chữ của Anh bây giờ không còn sắc bén, cứng cáp như ngày trước, đôi
lúc có
nhiều đoạn không được ngay hàng thẳng lối mà lại xiêu vẹo rung rung.
Nhứt là ở
bài viết sau cùng, bài viết Anh trăn trở nhưng lại dang dở về nhà văn
bất hạnh
Vũ Anh Khanh, người bạn nối khố ở trường Nam tiểu học Phan Thiết ngày
xưa. Tôi
bắt đầu lo lắng cho sức khỏe của Anh.
Nhiều lần
tôi khuyên Anh nên
thong thả viết, cứ triển khai từ từ theo nhịp độ của trí lực những lúc
Anh thấy
sảng khoái và khoẻ khoắn trong người. Anh nên dành thì giờ quý báu chăm
lo giữ
gìn sức khỏe trước tiên. Việc làm văn hóa là công tác trường kỳ dai
dẳng và có
tánh cách tình nguyện, không ai bắt buộc ép uổn mình phải làm cả. Bây
giờ trọng
tuổi rồi lại đau ốm bịnh hoạn nữa, mình cứ làm đến đâu hay đến đó, miễn
trong
thâm tâm mình có thiện chí và ý hướng tốt. Mình vẫn chung thủy với
những ước
nguyện đầu đời mà.
Nhưng trong
những lần viết
thơ cho tôi, Anh một mực thối thoát quyết liệt và cứ một hai tuần, tôi
lại nhận
được một bài viết mới của Anh. Quả Anh là một nghệ sĩ đích thực.
Một nghệ sĩ
dấn thân.
Một nghệ sĩ
quyết tâm đi đến
cùng như kiếp tằm nhã tơ đến chết.
Một nghệ sĩ
thủy chung với
văn chương nghệ thuật.
Anh chung
thủy đối với bạn
bè bằng hữu đã đành nhưng quan trọng hơn hết Anh lại chung thủy với
chính mình.
Đến khoảng cuối đời, gần cận kề cái chết, Anh vẫn âm thầm tiếp tục đeo
đuổi sự
réo gọi trong âm thầm nhưng thúc giục của đam mê, của nghệ thuật, của
lương
tâm. Anh vẫn không quên trang trải trọn vẹn tấm lòng của mình.
Do đó, Anh
viết một loạt bài
hoài niệm những bậc đàn anh đã khuất như cụ chủ nhiệm tuần báo Đời Mới,
Văn
Lang Trần Văn Ân, người đã dìu dắt Anh vào nghiệp văn chương báo chí
lúc Anh
còn là một bạch diện thư sinh, giáo sư hội họa Lê Văn Đệ, một thời là
Giám Đốc
trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định, từng là họa sĩ chánh thức của Tòa
Thánh La
Mã, cụ chủ nhiệm nhựt báo Tiếng Chuông Đinh Văn Khai, người đã phát
hiện rất
sớm khả năng vẽ biếm họa của Anh, họa sĩ Nguyễn Siên, người “bạn nghệ
thuật” và
cũng là “bạn rượu” những ngày cả hai sống thiếu thốn khổ sở trong xứ tù
chung
thân xã hội chủ nghĩa, nhạc sĩ Anh Việt tức đại tá Trần Văn Trọng, tác
giả nhạc
phẩm nổi tiếng Bến Cũ, nhà văn An Khê Nguyễn Bính Thinh, người đã
khuyến khích
và tích cực giúp đỡ Anh lao vào sự nghiệp văn chương báo chí ở hải
ngoại, khi
Anh vừa định cư ở Hoa Kỳ.
Như tôi đã
nói trên đây, sức
khoẻ của Anh vào những tháng sau cùng không cho phép Anh viết tiếp để
kết thúc
những trang hoài niệm các bậc đàn anh mà Anh hằng ấp ủ trong lòng. Bằng
cớ là
Anh viết dở dang bài tưởng nhớ nhà văn Vũ Anh Khanh. Trước đây, Anh đã
có lần
nhắc sơ qua người bạn nối khố ở trường Nam tiểu học Phan Thiết này. Anh
nhớ
người bạn cũ vắng số và cảm thông nỗi bất hạnh của bạn qua những dòng
ôn cố sau
đây:
“Tôi rất
quen biết Vũ Anh
Khanh vì nó là đứa bạn đánh đáo với tôi ở sân trường tiểu học. Sau mấy năm
loạn lạc, tới khi
gặp lại ở Sài Gòn, anh
ta đang phụ trách trang trong của nhựt báo Tiếng Chuông và lại là nhà
văn nữa.
Anh cùng với một nhóm anh em nhà văn như Lý Văn Sâm, Thẩm Thệ Hà...
trông coi
nhà xuất bản Tân Việt Nam của ông Nguyễn Văn Chà, giám đốc cơ sở phát
hành báo
chí Nam Cường nằm ở đường Kitchener, phía sau ga xe lửa Sài Gòn.
“Thật ra hồi đi
học, anh tên là
Võ Văn Khánh. Gia đình anh có một hãng sản xuất nước mắm ở Mũi Né, Phan
Thiết.
“Khánh bảo tôi:
“Hồi đi học,
thầy giáo Trạch
hay lấy mấy bài luận văn của anh làm bài mẫu, đọc cho cả lớp cùng nghe.
Anh có
tài viết lách đấy. Anh có thể viết nhiều quyển truyện để tôi bán giùm.
Cứ viết đầy
cuốn tập vở một trăm trang sẽ được trả cho năm trăm đồng.
“Nhà sách đã
mua và in cho tôi
năm quyển loại thiếu nhi kháng chiến chống Pháp trong tủ sách Thần Đồng
của nhà
xuất bản Tân Việt Nam. Tôi thường viết nắn nót tập bản thảo và vẽ bông
hoa. Đôi
khi, tôi lại vẽ cả phong cảnh nữa nên lũ bạn gọi tôi là họa sĩ.
“Vũ Anh Khanh
sau khi xuất bản
quyển Nửa Bồ Xương Khô bỏ vào chiến khu.
“Năm 1975, tôi
gặp lại mấy đứa
bạn ở sân trường tiểu học. Bọn này tập kết ra Bắc trở về trong số đó có
Mười
Út.
“Chính Mười Út
kể chuyện nhà
văn Vũ Anh Khanh. Sau khi xuất bản quyển Nửa Bồ Xương Khô
có đăng nguyên văn bản cương lĩnh
của Đảng Lao Động Việt Nam rồi anh bỏ trốn ra chiến khu chống lại chính
phủ Sài
Gòn. Anh ta được tập kết ra Bắc. Một thời gian, Khánh thấy rõ sự kỳ thị
giữa
Nam Bắc quá lộ liễu, nhứt là chánh sách đối đãi con em miền Nam. Khánh
cùng một
đám bạn lội qua sông Bến Hải trở về. Qua đến nửa sông bị bộ đội biên
phòng bắn
chết. Mộ của Khánh được chôn ở bờ sông, không được lập bia viết tên họ“
(16).
Trong một bức
thư, Anh tâm sự
với tôi cho rằng nhắc nhớ một người bạn cũ và lại là một nhà văn tên
tuổi lớn
một thời mà viết quá ngắn ngủi,
giản đơn như
vậy, cho dù định mệnh khắc khe và trớ trêu dẫn dắt anh ta chọn
lầm con đường phục vụ tổ quốc, phục vụ đất nước và dân tộc, để chung
cuộc đến
phải vỡ mộng một cách uất ức, phũ phàng, phải trả một giá quá đắc qua
cái chết
đau thương đầy bi hận, rõ là không tương xứng chút nào cả.
Anh suy nghĩ
đắn đo. Anh cân
phân dư luận nhưng rồi cuối cùng quyết định sẽ viết riêng cho bạn mình
một bài
để người vắng số bất hạnh không tủi hổ nơi chín suối. Và cũng để Anh
kết thúc
loạt bài hoài niệm của mình.
Sau đó, Anh
tiếp gởi cho tôi những dòng sau đây.
Tôi xin được ghi lại nguyên văn nơi này vì nghĩ rằng đây là một kỷ niệm
đẹp
trong đời Anh và chắc chắn đây cũng là bài viết cuối cùng trong sự
nghiệp cầm
bút xuyên suốt mấy mươi năm của Anh:
“Nói đến viết
văn, tôi cũng
mang tiếng tập tò viết lách từ hồi mười lăm tuổi lúc còn học ở trường
tiểu học.
Tôi tập viết truyện nhi đồng. Quyển đầu tiên là Khói Lửa. Kế đó Con
Thuyền Đẫm
Máu viết với Nguyễn Văn Phú là một bạn học lúc đó, ký tên chung là Phú
Đệ. Bạn
học trong lớp thường nói láy lại để chọc tức hai đứa chúng tôi. Hai
quyển này
gởi cho nhà xuất bản Tân Việt Nam ở Sài Gòn là nhà sách Nam Cường, được
in ngay
thời đó.
“Ngày xưa, trẻ
con bọn tôi hay
bị cộng sản xúi bậy làm Lê Văn Tám, em bé tẩm dầu, làm cán bộ quăn lựu
đạn, làm
trẻ con rải truyền đơn... Thứ trẻ nhỏ phá xóm phá làng này bị lính Pháp
vây bắt
được, họ không cần xét xử mà bắn bỏ hằng loạt. Mẹ tôi lo sợ hằng đêm
mỗi khi
lính Pháp đi ruồng bắt trong xóm trong làng. Bà lén lút mang tôi vô Sài
Gòn gởi
cho người cô ruột ở đường Hẽm Số 4 trước Sở Cứu Hỏa đường Trần Hưng Đạo
nuôi
cho ăn đi học.
“Nhờ đó trên
đường đi học chạy
ngang qua nhà xuất bản Nam Cường, nhất là buổi chiều, tôi gặp lại đám
Vũ Anh
Khanh, Thẩm Thệ Hà, giám đốc coi sóc bài vở cho nhà xuất bản. Vũ Anh
Khanh ngày
đi học tên là Võ Văn Khánh học trường Nam Phan Thiết. Anh nổi tiếng
trước bọn tôi nhiều. Trong các sách
giáo khoa đã có in các bài của anh như bài Ai Điểm Tô Mà Em Phấn Son.
“Giai đoạn này
anh viết rất
hăng. Ở nhà xuất bản Nam Cường, chúng tôi còn gặp được các văn hữu khác
như các
văn nhân, tác giả Xin Đắp Mặt Tôi Mảnh Lụa Hồng, Em Không Về Nữa Chị
Ơi! Họ là
những người cổ động cho người ở thành phố đi kháng chiến. Còn tôi là
dân kháng
chiến về thành đi kiếm ăn.
“Thật tình mà
nói, những năm
1951/1952 tình hình rất là lộn xộn, học hành
cũng
chẳng được
yên thân. Nay bãi khóa, mai thì biểu tình. Chính mấy ông thầy đang dạy
học cho
chúng tôi cũng bỏ đi ra chiến khu nữa. Như anh Nguyễn Văn
Hiếu, Nguyễn Văn Mười...
“Vũ Anh Khanh
cũng khuyến khích
tôi viết văn. Ý tưởng của anh ta trong văn chương rất rộng rãi, có rất
nhiều
không khí Miền Nam như bài Tha La Xóm Đạo.
“Quyển tiểu
thuyết sau cùng của
anh ta là quyển Nửa Bồ Xương Khô. Anh ta viết dở dang quyển I nhưng bán
rất
chạy. Anh ta thường bày tôi viết truyện ngắn cho báo hằng mỗi tuần cho
các nhựt
báo Tiếng Chuông, SàiGòn Mới...
“Trước khi anh
ta ra đi, tôi có
đưa cho anh ta một mớ hành trang rách rưới để mặc trong chiến khu và
một ít
tiền dằng túi để đi đường. Bọn tôi lấy phòng ngủ ở gần Cầu Ba Cẳng Chợ
Lớn ngủ
một đêm để tâm sự. Việc này chỉ để cho trọn tình trọn nghĩa đối với bạn
bè chớ
tôi không hề có một ý nghĩ gì khác, tức khuyến khích hay ủng hộ việc
anh ta ra
đi.
“Tôi là đứa ở
chiến khu về đi
học còn anh có người liên lạc đến dẫn đi chiến khu. Bọn tôi không biết
dặn dò
với nhau những lời gì trong lúc tình thế mỗi ngày một không yên.
“Chủ nghĩa cộng
sản như nhà văn
Dương Hùng Cường kể lại trong chuyện Trương Chi Mỵ Nương
của anh là để nhìn từ xa thôi, chớ đến gần nó
đầy máu và nước mắt. Trương Chi có tiếng sáo nghe vun vít lắm, đến
chừng gặp
mặt thì nàng Mỵ Nương phải vỡ mộng thì lúc đó cũng đã muộn màng.
“Tôi có người
bạn là Út Mười ở
ngoài Bắc về kể lại. Vũ Anh Khanh ra Bắc thấy tận mắt chánh sách đối
đải với
con em Miền Nam thật là tàn nhẫn không như bác Hồ nói. Thật ra nó còn
tồi hơn
cả phong kiến nữa. Với chủ nghĩa phong kiến trong vụ thu thuế chẳng
hạn, người
ta còn than trời trách đất được. Đàn nầy dưới chế độ xã hội chủ nghĩa,
cộng sản
bố ráp nổi lửa bừng bừng như một đêm bị càn, bà già con trẻ không ai
tránh đi
đâu được.
“Lúc đó anh ta
mơ ước trở lại
Miền Nam thì đã muộn. Bây giờ chỉ còn cách vượt biên giới đi chui thôi.
“Vũ Anh Khanh
cùng một số bạn
bè vượt sông Bến Hải để lội ngược về Nam. Nửa sông bị lính biên phòng
xã súng
bắn chết. Xác không được dựng bia và vung nấm. Anh ta chết bên bờ sông
lạnh
lùng và tăm tối“.
Anh Hiếu Đệ chỉ
viết đến đó thì dừng bút hẳn với
lời Tái Bút dưới đây:
T.B.: Nơi
bài Vũ Anh Khanh,
anh kiếm cho tôi mấy bài thơ của anh ta để chạy vô bài cho nó thêm ý
nghĩa. Ví
dụ như bài Tha La Xóm Đạo. Bài này được thi sĩ Kiên Giang Hà Huy Hà mô
phỏng trở
lại thành bài Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím.
Ký tên Hiếu Đệ.
Đọc bài viết
dang dở, đứt ngang
tức tửi này, tôi bỗng hồi nhớ đâu đó anh Hiếu Đệ có viết để đau xót
ngậm ngùi
về một thời nhiểu nhương tao loạn, để thấm thía cho số phận đắng cay
oan nghiệt
của những thành phần yêu nước chỉ có mỗi một tấm lòng:
“Trong cuộc
chiến vừa qua, những
người có lòng với dân tộc, những người yêu nước đều không có chỗ đứng“.
Ngay sau đó,
tôi cố gắng lục
soát trong các ngăn ngách chằn chịt của ký ức rồi tìm tòi trong tủ sách
gia
đình, cùng hỏi han các văn hữu bạn bè bốn phương để tìm kiếm bài thơ
Tha La Xóm
Đạo. Trong thâm tâm, tôi chỉ mong giúp Anh kết thúc nhanh chóng và mỹ
mãn hồi
ký về người bạn thân của Anh.
Trong quyển Văn Học Sử Việt Nam – Văn Học Hiện Đại do Gia
Hội Canada xuất bản năm 2006 cũng như trong Văn Học Việt Nam Thế Kỷ 20
- Một Số
Hiện Tượng Và Thể Loại do Đại Nam, Hoa Kỳ xuất bản năm 2004, hai tác
giả phê
bình văn học Sơn Trung Nguyễn Thiên Thụ và Nguyễn Vy Khanh cũng có
trích dẫn
đôi đoạn của bài thơ nổi tiếng này. Nhưng chỉ đôi đoạn thôi. Do chỗ
quen biết
thân tình, tôi có hỏi nhưng cũng không thêm được gì ngoài những trích
đoạn đã
in trong sách. Tôi đành lòng viết thơ thông báo ngay cho Anh biết kết
quả không
được như ý Anh mong muốn.
Thư tôi gởi
đi ngày 07 tháng 4 năm 2009 thì ngày 12 Anh viết cho tôi như
sau:
“Anh Trung thân
mến,
“Trí nhớ của
anh em mình bây giờ không được như xưa nữa.
Thành ra cái gì không nhớ nổi, mình chịu thua đi anh à! Thành ra bài
Tha La Xóm
Đạo và bài Ai Điểm Tô Mà Em Phấn Son tôi chỉ nhớ lèm bèm thôi anh à.
Liệu không
xong thì mình bỏ bớt bài Vũ Anh Khanh cũng được, chứ chẳng sao. Không
ai ép
mình đâu. Mình làm tới đâu hay tới đó. Tôi lúc này già cả rồi, sức khoẻ
yếu...“.
Tôi rất đỗi
ngạc nhiên qua thái độ bỏ cuộc nửa chừng đó của Anh. Một thái
độ tôi chưa hằng thấy một lần trong những năm dài hợp tác với Anh qua
kiếp đam
mê của nghiệp chữ nghĩa. Từ trước, Anh vẫn luôn luôn cương quyết thực
hiện cho
bằng được những gì Anh suy nghĩ chín chắn và một khi đã bắt tay vào
việc, Anh
đều đi đến cùng, mặc dù đôi lúc có gặp khó khăn tưởng chừng không thể
vượt qua
được.
Việc Anh có ý
hoài niệm nhà văn Vũ Anh Khanh cũng nằm trong trường hợp này.
Bao lần Anh đã xác định như vậy nên yêu cầu tôi nán gát lại một thời
gian ngắn
việc thực hiện tuyển tập Nước Chảy Huê Trôi. Nhưng nay không ngờ Anh
lại bỏ
cuộc nửa chừng. Bỏ cuộc xuôi tay. Bỏ cuộc chấp nhận định luật bất biến
và phũ
phàng của Tạo Hóa.
Cũng trong thơ
đề ngày 07 tháng 4 năm 2009 nói trên, tôi có kèm theo mấy
đoạn của bài Tha La Xóm Đạo trích từ quyển Văn Học Sử Việt Nam – Văn
Học Hiện
Đại (Quyển IV) như sau:
Đây Tha La xóm đạo
Có
trái ngọt cây lành
Tôi
về thăm một dạo
Giữa mùa
nắng vàng hanh
Ngậm
ngùi Tha La bảo
- Đây
rừng xanh, rừng xanh
Bụi
đùn quanh ngõ vắng
Gió
đùng quanh mây trắng
Và lửa loạn
xây thành (a)…
…
Thôi hết
rồi, còn chi nữa Tha La!
Bao người đi
thề chẳng trở lại nhà,
Nay đã chết
giữa chiến trường ly
loạn!
Tiếng
địch càng cao, não nùng ai oán
Buồn trưa
trưa, lây lất buồn trưa
trưa
Buồn xưa
xưa, ngây ngất buồn xưa
xưa…
Tha
La giận mùa thu
Tha
La hận quốc thù
Tha
La hờn quốc biến! (b).
Vũ
Anh Khanh
Bốn
năm ngày sau, trong thơ hồi âm gởi cho tôi, Anh hoàn lại bản phóng ảnh
hai đoạn
thơ tôi gởi trên đây và tự tay Anh ghi hai chú thích (a) và (b) để
triển khai
theo trí nhớ, với lời dè dặt không biết trí nhớ của mình có phản bội
lại mình
không?
Chú thích
(a):
Khách hãy
dừng chân cho tôi thăm hỏi
Nhưng mà
thôi khách nhé…
Một ông lão
cười rung rung râu trắng
Tha
La vắng vì Tha La đã
biết
Thương
giống nòi, đau đất
nước lầm than
Ờ…ơ…ơ…
Có một đoàn chiên
lành
Quỳ
cạnh Chúa một chiều
xưa lửa dậy
Quỳ
cạnh Chúa đám chiên
lành rung rẩy
Lạy
Đức Cha, lạy Đức Mẹ,
lạy khánh phần
Chúng
con xin về cõi tạm
để làm dân
Rồi
xếp bỏ áo tu
Rồi
xếp kinh cầu nguyện
Rồi
nhẹ bước trở về trần
Thôi
hết rồi còn chi nữa
Tha La!
Chú thích (b):
Não nùng chưa Tha La
nguyện hy sinh!
Sở
dĩ tôi dong dài ở hai trích đoạn này với hai chú thích để bổ túc chỉ vì
một lẽ
rất đơn giản. Tôi vô cùng xúc động vì nét chữ của Anh bệ rạc quá. Tôi
nói bệ
rạc vì Anh không còn thần sắc và sức lực để điều khiển ngòi bút theo
kịp với
trí nhớ của anh. Đôi nơi, tôi cố gắng lắm mới đọc được những chữ quá
phóng mà
Anh không chủ động được. Đối với tôi, còn gì đau lòng cho bằng khi đọc
những
dòng chữ cuối cùng trong đời Anh. Tôi cũng xin được bạn đọc thân thương
của Anh
chia xẻ nhận thức và cảm nghĩ của tôi qua phụ bản đính kèm.

(Xin
xem phóng ảnh ở trang 75 quyển Hiếu Đệ Lão Ngoan Đồng)
Ở
đời có những cái oái oăm bất ngờ không lường trước được. Thư Anh viết
cho tôi
đề ngày 12 tháng 4 năm 2009. Bốn ngày sau tức ngày 16, Anh âm thầm lặng
lẽ ra
đi về cõi hư vô đầy bí hiểm. Anh ra đi tâm hồn thanh thản như lúc Anh
cất tiếng
chào đời bên tiếng sóng rì rào của biển xanh cồn cát Phan Thiết, dưới
vòm trời
«lấp lánh ngàn sao» của văn chương nghệ thuật, của quê hương cố thổ Anh
luôn ôm
ấp trong lòng. Anh thanh thản giã từ nhân thế, giã từ bạn bè bằng hữu
bốn
phương, giã từ cõi tạm thế gian không oán ghét, không hận thù.
Ngày 17
đọc trên TinParis do kỹ sư Hứa Vạng Thọ chủ trương, tôi bàng hoàng với
cái
thông báo ngắn gọn của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại loan tin Anh đã mất.
Rồi tiếp
đó các thi văn hữu ở Hoa Kỳ, kẻ trước người sau, dồn dập gởi điện thư
báo tôi
tin chẳng lành này. Oái oăm thay, thư Anh lại đến tôi ngày 18, tức hai
ngày sau
Anh vĩnh viễn ra đi.
Quả thư
Anh đến muộn như thể để chia tay tôi lần cuối cùng, một cử chỉ thương
mến và
thủy chung, vừa cao đẹp vừa có ý nghĩa làm cho tôi luôn thẫn thờ, bùi
ngùi xót
xa mãi trong lòng. Vì lẽ ấy tôi mạn phép hương linh Anh được công bố
công khai
nguyên văn một vài đoạn của bức thư cuối cùng này, trong khi lúc sanh
tiền Anh
đã từng gởi cho tôi không biết bao
nhiêu là thơ, gói ghém những suy nghĩ, tâm tình, những ước mơ và hoài
bảo của
Anh nơi chốn lưu đày ẩn thân mà tôi giữ như một của riêng.
«…
Tôi lúc rày cũng già cả rồi, sức khoẻ yếu. Con cái ở khắp các tiểu
bang, nhất
là mấy đứa ra Đại học bên Mỹ làm ăn khá ở tiểu bang lớn. Ở Michigan này
còn mấy
đứa đi làm ba cọc ba đồng, nhưng tình thương tụi nó ấm áp hơn, gần gũi
hơn. Tôi
ở với Thuận là con gái lớn sanh ngoài Huế. Chồng nó cũng người Huế. Tụi
nó săn
sóc tôi.
«Tôi
hồi nhỏ rong chơi ở Sài Gòn không chịu ở với mẹ nên bây giờ tôi lang
bang. Đành
vậy thôi. Mừng có một điều là tôi đem được lũ con bảy đứa qua Mỹ hết.
«Tình
hình bên Mỹ cũng bị khó khăn về kinh tế vì do toàn cầu hóa mà. Bên Pháp
cũng
vậy thôi.
« …
«Vấn
đề sách báo cũng khó khăn. Nhà xuất bản của mình cũng vậy thôi, có cố
gắng lắm
cũng nghèo thôi. Làm được tới đâu hay tới đó. Nói chung anh em tụi mình
chẳng
ai làm giàu được đâu!
«Vợ tôi nó
hay cằn nhằn kiếp sau không lấy chồng nghệ sĩ nữa, lỡ một kiếp rồi nên
bây
giờ tôi không được phàn nàn bà ta. Vì
tất cả lỗi tại tôi.
«Anh Trung lúc
này thế nào? Phải luôn luôn giữ sức
khoẻ, đừng bao giờ thức khuya
dậy sớm. Khi thức dậy, hãy chểnh mảng một chút vì khi mình nằm máu lên
đầu
không được đầy đủ có hơi chóng mặt. Đi cũng chậm chạp một chút.
«Tôi chưa
bỏ sợi dây oxy được, nhất là đang đêm rớt tay ngủ quên sút sợi dây ra
là mê sản
nói bậy. Tình trạng này làm như quen tật rồi.
«Anh em
mình bây giờ chỉ có chút nhau nhiều sức khoẻ, lúc nào cũng cầu nguyện
cho nhau
được khoẻ mạnh».
Ngày 12 tháng 4 năm 2009
Hiếu Đệ
Tôi
xem đây là những lời trối trăn, một thoáng ngắn ngủi soi rọi bản thân,
một cái
nhìn trung thực nhứt, xuất phát tự đáy lòng về cuộc đời mình, nhứt là
về quan
hệ gia đình, nền tảng của đạo lý truyền thống Việt Nam. Anh nói đến vợ
con Anh
với niềm hãnh diện tự xét đã làm tròn phần nào trách nhiệm và bổn phận
của
người rường cột trong gia đình. Anh cũng không quên nhìn nhận đã có một
thời
tuổi trẻ lang bạt buông cương. Dường như Anh đang sống với quá khứ. Anh
đang
trở về trầm mình trong những ngày tháng xa xưa. Anh đang ôn cố tự vấn
lương tâm
và lương tri mình để trước khi ra đi một chuyến xa chưa biết nơi nào
phải dừng
chân, lòng Anh luôn thanh thản, nhẹ nhàng.
Thuở
sanh tiền, sau những thập niên dấn thân bay nhảy, đấu tranh không ngừng
nghỉ,
có lần anh Hiếu Đệ viết:
«Bây
giờ tôi đã nghĩ hưu nhưng vẫn chống gậy đi đây đi đó. Nhưng tôi cũng
mang cái
tật hay ngồi buổi sáng vẽ những bức tranh vui cười. Ngồi cười một mình
buổi
sáng với bình trà là một thói quen rất thú vị của tôi».
Bây
giờ cây cọ Anh dùng để vẽ những bức tranh hí họa, biếm họa để mang niềm
vui đến
mọi gia đình vẫn còn đó. Bình trà Anh dùng để uống mỗi buổi sáng vào
tuổi mông
manh ướm rụng vẫn còn nguyên đây. Nhưng nụ cười hiền hòa cởi mở với cái
«thói
quen thú vị» thuở sinh tiền của Anh nay không còn nữa. Không còn trong
đáng
tiếc bội phần!
Ở
đời, cuộc chia lìa nào mà không để trong lòng người ở lại bao mến
thương tiếc
nuối. «Cái cảnh biệt ly» nào mà không mang đến cho người thân thương
ruột thịt
những đớn đau ưu sầu. Đó chẳng qua là những cuộc chia lìa và ly biệt
thường
tình trên thế gian rối nhùi lắm chuyện này. Vì thực ra có những cuộc
chia ly,
dù cho vĩnh viễn đi nữa, cũng không hẳn là một sự ly biệt thật sự. Vì
những kỷ
niệm tốt đẹp nhứt, ý nghĩa nhứt, đáng nhớ nhứt của một thời gần gũi,
một thời
cảm thông và chia xẻ với nhau sẽ khó có thể phôi pha nhạt nhòa dễ dàng
được.
Anh Hiếu
Đệ nay không còn nữa. Anh đã thực sự đi vào vùng miên viễn bình yên,
không oán
trách, không hận thù, nhưng Anh vẫn sống mãi trong lòng tôi, trong lòng
bạn bè
quyến thuộc và trong sự ngưỡng mộ quý trọng của nhiều thế hệ mai sau
nữa.
Cũng
lúc sanh tiền, Anh thường hay nói với tôi:
«Anh em
mình sống tới tuổi này xem như mình đã lời quá rồi!».
Hôm nay, ở giờ phút này,
tôi đã
mất một người bạn thân, người bạn đồng hành hiếm hoi và tôi không hề
nghĩ đến
chuyện «lỗ» hay «lời» qua tuổi đời chồng chất theo năm tháng của nhau.
Nhưng có
một điều chắc chắn, một sự thật hiển nhiên là Anh đã thực sự sống. Sống
trọn
vẹn với đam mê. Sống trung thực với chính mình. Sống với tác phong
phóng túng
ngang tàng theo những suy nghĩ và hành động của mình. Anh quả đã thực
hiện tròn
đầy chức năng của một người nghệ sĩ đích thực.
Cách
đây mấy hôm, thi sĩ Hồ Công Tâm ở Austin, Tiểu bang Texas, Hoa Kỳ có ưu
ái gởi
tặng tôi thi phẩm Một Thời Lưu Vong (Tập I) do Hải Ngoại Nhân Văn xuất
bản năm
nay, 2009. Thật là một dịp may đến rất đúng lúc trong khi tôi đang sắp
sửa chấm
dứt những dòng hoài niệm buồn vui lẩn lộn này.
Tôi xin
phép và chân thành cám ơn thi sĩ được trích dẫn nguyên bản bài thơ sau
đây gọi
là để kết thúc bài tưởng nhớ người nghệ sĩ tài danh: Hiếu Đệ:
Tiễn đưa Họa sĩ Hiếu Đệ
Văn chương hội họa sớm
đam mê
Nhân
ái thủy chung vẹn
mọi bề
Cải
tạo… còn căm quân
cướp nước
Lưu
vong… vẫn nặng mối
tình quê
Văn
chương chân chất hồn
dân tộc
Hội
họa đậm đà nét hoạt kê
Xin
được vinh danh anh
Hiếu Đệ
Ngàn
năm sống mãi với sơn
khê.
(16.06.2009)
Dân
Mộc tiểu lộ, ngày 30-11-2009
Võ Đức Trung
(Trích Hiếu Đệ Lão
Ngoan Đồng, Hoài niệm
Nghệ sĩ Hiếu Đệ,
mất
ngày 16.04.2009 tại Michigan, Hoa Kỳ.
Sách
dầy 366 trang, bìa màu do Hương Cau in ấn và phát hành:
1
Allée des
Peupliers 59.320 Hallennes-Lez-Haubourdin, France).
Chú thích:
(1) Nước Lớn
Nước Ròng,
chuyện Thầy Tôi, trang
98, Hương Cau 2007.
(2) Nước
Lớn Nước Ròng,
chuyện Thầy Tôi, Sđs -
trang 99.
(3) Nước
Lớn Nước Ròng,
chuyện Họa sĩ Dương Tấn Minh, Sđd – trang 68.
(4)
Niềm
Đau Bạc Tóc,
chuyện Tôi Vẽ Tranh Vui Cười, Hương Cau 2005 - trang
197.
(5)
Bên
Đục Bên Trong,
chuyện Họa Sĩ Trần Quang Hiếu, Hương Cau 2004 -,các
trang 30, 31.
(6)
Bên
Đục Bên Trong,
chuyện Hai Mối Tình Của Người Tù Biệt Giam, Sđd -
các trang 54, 55.
(7) Niềm
Đau Bạc Tóc,
chuyện Tôi Vẽ Tranh Vui Cười,
Sđd – trang 214.
(8)
Phạm Thắng Vũ: Họa Sĩ Hiếu Đệ, Tác Giả
Bức Hí Họa
7 Tên Việt Cộng Đu Cành Đu Đủ Thời Chiến Tranh Việt Nam... Không Còn
Nữa:
“Đặc biệt,
ông đã vẽ một bức
tranh biếm, hí họa rất nổi tiếng thời chiến tranh tại Miền Nam Việt Nam
Cộng
Hòa. Đó là bức tranh 7 Việt Cộng bám (đánh đu) vào một cành đu đủ mà
không gãy.
Cục Chính Huấn Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã in khá nhiều tranh 7 Viêt
Cộng và
cành Đu Đủ nầy và trưng bày nhiều nơi tại Miền Nam trong thời gian đó
và đây cũng
là một trong các lý do mà Cộng sản đã hành hạ ông trong thời gian bị tù
cải tạo
sau ngày 30-04-1975 (rất tiếc là bức tranh đã không còn).
“Nhìn vào
bức tranh, hầu hết
người thưởng lãm đều nghĩ là cán binh Việt Cộng ăn uống thiếu đói nên
cả 7 tên
bám vào một cành đu đủ mà vẫn không làm gãy cành được. Đó là nghĩa đen. Thi sĩ
Nhật Hồng, một người bạn của họa sĩ Hiếu Đệ đã
giải thích ý nghĩa bức tranh nầy theo nghĩa bóng như sau:
«Cả
7 tên Việt Cộng bám vào một cành
Đu Đủ mà không làm gãy cành có nghĩa là chủ nbghĩa Cộng Sản chẳng có
giá trị
hay trọng lượng gì (nhân gấp 7 lần) trong thực tế (cây Đu Đủ là loại
cây có
cành yếu ớt nhất trong các loại cây có cành mà 7 cán binh Việt Cộng bám
vào
nhưng cũng không hề hấn). Nói cách khác, chủ thuyết Cộng Sản là một chủ
thuyết
hoang tưởng và những tiêu đề do chủ thuyết nầy xướng xuất đã không mang
lại
hạnh phúc, tự do, dân chủ, ấm no thực sự cho người dân».
(9) Niềm Đau
Bạc Tóc,
chuyện Tôi Vẽ Tranh Vui
Cười, Sđd – trang 206.
(10) Niềm
Đau Bạc Tóc,
chuyện Tôi Vẽ Tranh Vui Cười,
Sđd – trang 200.
(11) Niềm
Đau Bạc Tóc,
chuyện Tôi Vẽ Tranh Vui Cười,
Sđd - các trang 201-202.
(12)
Niềm
Đau Bạc Tóc,
chuyện Tôi Vẽ Tranh Vui Cười, Sđd – trang 204.
(13)
Niềm
Đau Bạc Tóc,
chuyện Họa sĩ Văn Đen, Sđd
- trang 116.
(14) Niềm Đau
Bạc Tóc,
chuyện Họa sĩ Văn Đen,
Sđd
- trang 128.
(15) Nước
Lớn Nước Ròng,
chuyện Họa Sĩ Lê Chánh, Sđd - các trang 93, 94 và
95.
(16) Niềm
Đau Bạc Tóc,
chuyện Tôi Vẽ Tranh Vui Cười, Sđd - các trang 194,
195 và 210
*
* *