|
Những
hệ
thống quyền lực trên thế giới
Hội Tam Điểm
( La Franc- Maçonnerie / Freemasonry )
- Hứa
Vạng Thọ -
|
|
...
Tiếp theo
Từ thời kỳ Trung Hưng
triều đại dòng Bourbon đến nền Cộng Hòa
đệ III
Từ cuộc cách mạng Pháp từ năm 1789 đến nền đệ III Cộng Hòa Pháp 1879,
chúng ta có thể nói là Hội Tam Điểm đã đóng vai trò chủ động trong việc
xây dựng chánh thể Cộng Hòa Pháp gần suốt 1 thế kỷ đó.
Sau khi Hoàng Đế Napoléon đệ I bị lưu đày trên đảo Sainte Hélène,
nền quân chủ Pháp của dòng họ Bourbon được tái lập với các vị vua Louis
18, Charles X, Louis Philippe trong khoảng thời gian từ năm 1815 đến
năm 1848.
Lúc đầu Hội Tam Điểm vì ủng hộ Napoléon đệ I
nên bị bức hại. Nhiều hội viên phải trốn ra nước ngoài để lánh nạn. Sau
đó vài năm, vua Louis XVIII cho chiêu dụ lại các vị lãnh đạo của Hội
Tam Điểm Pháp, nên HTĐ Pháp được phát triển bình thường.
Phong Trào Carbonari
Trong lúc đó, bên Ý, phong trào Carbonari được tổ
chức theo lối hội kín
từ cuối thế kỷ thứ 18 nhằm lật đổ các chế độ quân chủ. Các chi hội
Carbonari (gọi là VENTE) gồm 20 hội viên. Ban lãnh đạo trung ương gọi
là Haute-Vente. Sau nhiều cuộc nổi dậy vũ trang thất bại, phong trào
Carbonari bị tan vỡ, nên số đông hội viên chạy trốn sang Pháp, với số
hội viên của HTĐ Pháp, trong đó có những hội viên nổi tiếng như La
Fayette Buchez.
Sau vụ ám sát Công Tước De Berry năm 1820, phe
bảo hoàng đổ tội cho HTĐ chủ mưu cùng với phong trào Carbonari để lật
đổ chế độ quân chủ.
Cuộc tổng nổi dậy chống chánh quyền Pháp đương
thời bắt đầu tại Belfort vào ngày 29 tháng 12 năm 1821, và tiếp theo
tại Colmar, Niort, Poitiers, Bordeaux và Toulouse.
Cuộc nổi dậy, vì bị nội tuyến nên thất bại.
Những người cầm đầu, phần đông là hội viên Carbonari và Tam Điểm bị bắt
và bị xử tử trong đó có đại tướng Berton.
Ngày 13 tháng 9 năm
1821, Đức Giáo Hoàng PIE
VII qua ấn chiếu "Ecclesiam a JESU CHRISTO" lên án Hội Tam Điểm và
Carbonari (được coi như biến thể của HTĐ) .
Ngày 18 tháng 1 năm 1823, chánh quyền Pháp ra
lệnh giải tán Hội Tam Điểm, hệ phái Misraim.
Hội Tam Điểm Đại Đông Pháp nhờ có Công Tước
Decaze làm Đại Sư nên được để yên.
hội Tam Điểm với tư tưởng cấp tiến
Tuy nhiên, các sinh hoạt trong HTĐ đều bị thấm
nhuần các tư tưởng chánh trị cấp tiến như:
"Người công
nhân phải được hưởng trọn thành
quả lao động của mình - không một ai có thể làm công cụ cho người khác"
Đến năm 1830, chánh quyền ra mặt đàn áp thẳng
tay HTĐ. Nhiều hội viên phải xuất ngoại để lánh nạn. Các chi hội ra mặt
phản đối ban lãnh đạo Trung Ương HTĐ cấu kết với chánh quyền. Một cuộc
nổi dậy (12/5/1839) thành lập chính phủ lâm thời gồm có các hội viên TĐ
như Barbès Auguste Blanqui, Lamennais... Chánh quyền đàn áp thẳng tay.
Các người lãnh đạo suốt cuộc nổi dậy bị kết án tử hình, nhưng sau được
giảm xuống còn án tù chung thân.
Năm 1848, bảy chi hội TĐ tách rời khỏi HTĐ để
thành lập Hội Đại Đường Quốc Gia Pháp (Grande Loge Nationale de France)
vì trách cứ Ban Lãnh Đạo không dấn thân trước tình hình của đất nước.
hội tam điểm và cuộc đảo chánh của napoléon iii
Ngày 22 tháng 2 năm 1848, cuộc cách mạng lật
đổ nền quân chủ đã diễn ra. Một chánh phủ lâm thời được thành lập
với đa số là hội viên Tam Điểm như Adolphe Crémieux, Louis Blanc v.v...
Phe đối lập cũng do các hội viên TĐ lãnh đạo với tư tưởng xã hội như
Proudhon, Raspail. Các chi hội TĐ công khai ủng hộ ứng cử viên của mình
không cần giấu chi hết.
Những hội viên TĐ nổi tiếng như Adolphe
Crémieux, Léon Gambette, Jules Ferry, Pierre Napoléon Bonaparte cháu
của hoàng đế Napoléon đệ I v.v... đều được đắc cử, với sự ủng hộ của
hội viên TĐ, Louis Napoléon Bonaparte (cháu của Napoléon đệ I)
được đắc cử Tổng Thống Pháp ngày 10 tháng 12 năm 1848 đánh bại đại
tướng Cavaignac do giáo hội Thiên Chúa và phe bảo hoàng liên kết yểm
trợ. Nhưng sau đó, vì sợ không được tái đắc cử vào năm 1852, Louis
Napoléon Bonaparte làm một cú đảo chánh ngày 2 tháng 12 năm 1851 , thay
đổi Hiến Pháp ngày 4 tháng 1 năm 1852 và lên ngôi Hoàng Đế ngày 7 tháng
11 năm 1852 với đế hiệu Napoléon III.
Dưới triều đại Napoléon III, nước Pháp bắt đầu
xâm chiếm nước Việt Nam vào năm 1859. Ngay sau vụ đảo chánh 1851, Giáo
Hoàng PIE IX ủng hộ hoàn toàn Napoléon III. Nhiều hội viên TĐ tranh đấu
cho tự do dân chủ, ra mặt chống đối chánh quyền, nên bị đàn áp, tù đày
và bị xử tử.
Hoàng Tử Murat, Thống Chế Magnan và Đại Tướng
Mellinet ủng hộ Napoléon III. Ngày 9 tháng 1 năm 1852, Hoàng Tử Murat
được bầu lên chức Đại Sư hệ Đại Đông Pháp. Dù vậy, hoàng tử Murat vẫn
không bao giờ được các hội viên Tam Điểm coi trọng.
Ngày 14 tháng 1 năm 1858 một hội viên TĐ tên
Pierri, ám sát hoàng đế Napoléon III nhưng bất thành.
Năm 1860, hội Tam Điểm bất tín nhiệm hoàng tử
Murat nhưng ông này không chịu nhường chức lại cho người kế vị.
Ngày 11 tháng 1 năm 1862, hoàng đế Napoléon
III ban hành nghị định, chỉ định Thống Chế Magnan làm vị Đại Sư của Hội
Tam Điểm Đại Đông Pháp. Nhờ vậy, nhiều thành phần cách mạng tiến bộ vào
núp bóng Hội Tam Điểm để dễ bề hoạt động, không bị chánh quyền làm khó
dễ.
Khi Thống Chế Magnan từ trần năm 1865, Đức
Tổng Giám Mục Darboy của thành phố Paris ban phép lành cho linh cữu của
vị Đại Sư Magnan.
Đức Giáo Hoàng PIE IX và giáo hội Thiên Chúa
Pháp lên tiếng kết án Tổng Giám Mục Darboy, không tôn trọng ấn chiếu
của Hội Thánh về Hội Tam Điểm.
Kể từ năm 1865, khuynh hướng chống đối
Napoléon III gia tăng trong Hội Tam Điểm Pháp. Tháng 2 năm 1870, nước
Pháp tuyên chiến với nước Phổ. Ngày 2 tháng 9 năm 1870 quân đội Pháp
đầu hàng tại SEDAN.
Tối đêm 2 tháng 9 năm 1870, một chánh phủ lâm
thời được thành lập trong đó có các hội viên Tam Điểm như Léon
Gambette, Jules Simon, Crémieux, Pelletan, Arago.
Một quyết định truất phế hoàng đế Napoléon III
được công bố.
Hội Tam Điểm Pháp và công
xã Paris
Có thể nói chánh phủ lâm thời của
đệ III Cộng Hòa do
hội viên Tam Điểm thành lập và điều khiển.
Trong lúc đó thì Paris bị quân Phổ bao vây.
Điều kiện đầu hàng là phải nhường vùng Alsace-Lorraine cho nước Phổ.
Trong cuộc bầu cử ngày 8 tháng 2 năm 1871, phe quân
chủ thắng, thành lập một chánh phủ để thương thuyết với nước Phổ và ký
hiệp ước Francfort tháng 5 năm 1871 với điều kiện mất đất như trên.
Công Xã Paris nổi loạn không đầu hàng với sự chiến đấu của hội viên Tam
Điểm.
Quân chánh phủ Pháp do Thiers điều khiển đàn
áp Công Xã Paris trong biển máu, khoảng 30 ngàn người chết và bị
thương, trên 50 ngàn người bị án tù và bị xử tử.
Cuối năm 1873, Thiers mất chức và giao quyền
lại cho Thống Chế Mac Mahon. Với Hiến Pháp mới 1875, Quốc Hội Pháp được
bầu lại năm 1876 và phe Cộng Hòa đã thắng cử vẻ vang 360 ghế, trong khi
phe Quân Chủ được 160 ghế.
Được áp lực của giáo hội Pháp, Mac Mahon cho
giải tán Quốc Hội và tổ chức bầu cử mới. Lần này phe Cộng Hòa lại chiếm
thượng phong với 363 ghế thay vì 360 như lần trước.
jules grévy một hội viên tam điểm đầu tiên lên
làm tổng thống
Năm 1879, Thống Chế Mac Mahon từ chức và Jules
Grévy một hội viên Tam Điểm đầu tiên lên làm tổng thống Cộng Hòa Pháp.
Sở dĩ nền đệ III Cộng Hòa của Pháp còn tồn tại là nhờ sự tranh đấu của
các hội viên Tam Điểm chống lại giáo hội Thiên Chúa lúc nào cũng muốn
trở lại chế độ quân chủ để hưởng đặc quyền đặc lợi.
Nhìn lại các biến chuyển chánh trị, từ cuộc
cách mạng Pháp từ năm 1789 đến nền đệ III Cộng Hòa Pháp 1879,
chúng ta có thể nói là Hội Tam Điểm đã đóng vai trò chủ động trong việc
xây dựng chánh thể Cộng Hòa Pháp trong gần suốt 1 thế kỷ.
Lúc đầu, hội viên Tam Điểm gồm toàn những
thành phần quý tộc, tăng lữ và ưu tú, nhưng dần dần về sau, thì đa số
hội viên là quân nhân và những thành phần tiến bộ.
Do dó, hội Tam Điểm quan tâm nhiều về hoạt
động chánh trị và cách mạng, các hội viên không bắt buộc phải có một
đường lối hoạt động thống nhất, họ có thể chống đối lẫn nhau, nhưng có
một điều chắc chắn là họ không ủng hộ giáo hội Thiên Chúa Giáo.
Ngoài ra, cuộc cách mạng Pháp lật đổ vương
quyền cũng phải mất gần 100 năm mới ổn định được để khỏi trở lại chế độ
quân chủ như dưới thời Napoléon đệ I, Charles X, Louis 18, hay Napoléon
III.
Từ đó có thể nói là cuộc tranh đấu chánh trị
tại Pháp , từ cuộc cách mạng Pháp đến đầu thế kỷ 20, là cuộc tranh đấu
không ngừng giữa phe bảo hoàng liên kết với giáo hội Thiên Chúa chống
lại các hội viên Tam Điểm, cuối cùng phe Cộng Hòa đã chiến thắng và
phương châm của Hội Tam Điểm "Liberté, Égalité, Fraternité" (dịch là Tự
Do, Bình Đẳng, Tình Huynh Đệ) đã trở nên tiêu đề của Cộng Hòa Pháp.
ỨỨỨ
Nhiều bạn đọc có hỏi thăm chúng tôi về tài liệu bằng Pháp Ngữ của Hội
Tam Điểm, chúng tôi xin trả lời với các bạn là bất cứ tiệm sách lớn nào
như FNAC, Flammarion v.v... đều có bán các quyển sách nói về Hội Tam
Điểm. Nhưng sách nói về các nghi thức hội họp, các dấu hiệu của các Hội
Tam Điểm thì bạn có thể mua tại các thư viện của trụ sở trung ương HTĐ.
Sau đây là địa chỉ của các
trụ sở Trung Ương
của các hệ phái:
A/ Grand Orient De
France (GODF)
16 Rue
Cadet - 75009 Paris
B/ Grande Loge De France (GLDF)
8 Rue
Puteaux - 75017 Paris
C/ Grande Loge Feminine de France
8 Rue
Puteaux - 75017 Paris
D/ La Grande Loge Nationale Française
Bineau
(GLNF Bineau)
65 Bd
Bineau 92200 Neuilly sur Seine
E/ Droit Humain -
DH
hay
Ordre Maçonnique Mixte International
5 Rue
Jules-Breton - 75001 Paris
49 Bd de
Fort Royal 75005 Paris
F/ Grande Loge Nationale Française Opéra
hay Grande
Loge Traditionnelle et Symbolique
235
Faubourg Saint-Martin - 75010 Paris
G/ Le Rite Memphis-Misraim
63 Rue
Froidevaux - 75014 Paris
H/ Grande Loge Mixte Universelle
Tổng số hội viên được phân
phối như sau (1992):
GODF (35000 ) ; GL DF (18000 ) ; GL NF (13000); GLOPERA : 11000, DH
(2000), GL Féminine de France: (14000 ) và những hệ khác
(:8000)
Tổng cộng.: 100000
Thống kê trong năm 1994 cho biết tổng số trên dưới 120000. Thành phần
hội viên được chọn lọc rất kỹ lưỡng và đa số thuộc giới trung lưu.
Cách thức gia nhập hội viên
Muốn gia nhập Hội Tam Điểm, người phàm tục
(profane) phải làm đơn xin gia nhập gởi đến trụ sở Trung Ương hoặc tại
Chi Hội.
Đơn có dán hình sẽ được niêm yết trong Chi Hội
để bố cáo cho tất cả hội viên rõ (từ 3 đến 6 tháng). Đồng thời 3 hội
viên sẽ đến gặp nguyên đơn để mở cuộc điều tra và phúc trình lại cho
toàn thể hội viên.
Sau đó, Chi Hội sẽ mời nguyên đơn đến họp như
một cuộc hỏi cung (vì mắt bị bít kín).
Một cuộc bỏ phiếu kín sẽ diễn ra để chấp nhận
hay bác bỏ sự gia nhập của nguyên đơn.
Thời gian
chờ đợi trung bình là từ 6 tháng đến
1 năm. Sau cùng, nếu cho gia nhập, Chi Hội phải báo cáo lên Trung Ương
để ghi vào sổ tại Trung Ương chớ không phải sổ tại Chi Hội.
"Kẻ phàm
tục" trước khi chánh thức trở thành
hội viên, phải qua một nghi lễ thụ giáo khai tâm.

Kể từ năm 1859, dưới triều
đại của hoàng đế Napoléon III, nước Việt Nam
đã trở thành một thuộc địa của Pháp. Đạo Thiên Chúa cũng bắt đầu phát
triển mạnh tại nước ta lúc bấy giờ. Chữ Việt do linh mục Alexandre de
Rhodes sáng lập ra để truyền đạo, lần lần được phổ biến rộng rãi trong
dân gian.
Năm 1879, Jules Grévy, một hội viên Tam Điểm
được bầu lên làm Tổng Thống Pháp.
Tại các nước thuộc địa của
Pháp, các chi hội
Tam Điểm được gầy dựng lên. Lúc đầu chỉ có người Pháp mới được vào hội,
sau đó những người dân bản xứ ưu tú mới được giới thiệu vào.
Sau khi Pháp mất các thuộc địa, thì các hội
Tam Điểm tại địa phương, một phần vì hội viên Pháp giảm bớt, một phần
vì bị các chánh quyền địa phương đàn áp, nên cũng thu hẹp hoạt động và
từ từ giải tán.
Tại các nước Hồi Giáo ở Phi Châu như Algérie,
Tunisie, Maroc, Ai Cập v.v... Hội Tam Điểm coi như hoàn toàn biến mất.
Tại các nước Phi Châu đen như Côte d' Ivoire,
Sénégal, Gabon, trái lại Hội Tam Điểm rất có ảnh hưởng vì các giới lãnh
đạo và những thành phần ưu tú trong xã hội hiện nay của những quốc gia
đó, phần đông đều là hội viên Tam Điểm.
Từ khi Jules Grévy lên nắm quyền Tổng Thống
Pháp (1879) cho đến năm 1956 khi Pháp rút quân khỏi Việt Nam, đa số các
Tổng Bộ Trưởng Bộ Thuộc Địa của Pháp là hội viên Tam Điểm, đặc biệt là
Marius Moutet (1946-1947) có liên hệ nhiều với lịch sử Việt Nam.
Các ông
"Toàn Quyền Đông Dương" là Paul
Doumer, Merlin (1823), Varenne (1926) và thủ tướng Mendès France
(1954), người đã ký kết hiệp định Genève đều là hội viên Tam Điểm.
Nhiều giáo chức, sĩ quan và công chức Pháp cao
cấp phục vụ tại Việt Nam họp nhau thành lập các chi hội Tam Điểm tại
các thành phố lớn của Việt Nam.
Chi hội Tam Điểm đầu tiên là "LE RÉVEILLE DE
L'ORIENT" tạm dịch là "Sự tỉnh dậy của Đông Phương", tại Sài Gòn năm
1870. Sau đó 3 chi hội khác lần lượt xuất hiện tại Sài Gòn: "Les
Fervents du Progrès"; "La Ruche d'Orient"; "Khong Phu Tseu" (Khổng Phu
Tử)
Tại Hà Nội,
vào năm 1887, cùng lúc với chánh
phủ Pháp cho thiết lập chức vụ "Toàn Quyền Đông Dương Pháp", chi hội
"La Fraternité Tonkinoise" thuộc Đại Đông Pháp (Grand Orient de France)
được ra đời với nhiều hội viên nắm giữ các chức vụ quan trọng của guồng
máy hành chánh Pháp như toàn quyền giám đốc v.v... Nhiều đề nghị
tiến
bộ của chi hội đã được các hội viên đem ra áp dụng cụ thể, đôi khi gặp
phải sự khiển trách của chánh quyền trung ương tại Pháp.
Ngoài ra, tại Hà Nội, còn có các chi hội Tam
Điểm khác như "Les Ecossais du Tonkin" và "Confucius", tại Hải
Phòng có chi hội "L'étoile du Tonkin" và tại Huế có "La Libre Pensée
d'Annam".
Lúc đầu, các chi hội Tam Điểm gồm toàn người
Pháp, và mãi đến năm 1928, mới chấp nhận nguyên tắc thu nhận người Việt
Nam và hội. Theo bài thuyết trình ngày 28 tháng 10 năm 1933 tại Hà Nội
của ông Vũ Đình Mạnh "Hội Tam Điểm và người Việt Nam" (La Franc
Maçonnerie et les Annamites) thì Khổng Giáo có nhiều điểm phù hợp với
Hội Tam Điểm chứ không đối nghịch lại như nhiều người hiểu lầm.
Trong thời kỳ 1940-1941 khi nước Pháp bị Đức
chiếm đóng, Hội Tam Điểm bị Đức Quốc Xã và chánh quyền Pétain truy diệt.
Tại Đông Dương, dưới quyền của đô đốc Decouy,
hội viên Tam Điểm Pháp cũng bị đàn áp dữ dội.
Đến năm 1946, số hội viên Tam Điểm giảm sút
rất nhiều. Sau Hiệp Định Genève, chỉ còn 2 chi hội tam Điểm tại Sài
Gòn: "Le Réveille de l'Orient" và "Khong Phu Tseu".
Năm 1963, trụ sở chi hội tại số 110
đường Nguyễn Du tại Sài Gòn bị chánh quyền Miền Nam trưng dụng.
Kể từ ngày Miền Nam sụp đổ, các chi hội Tam Điểm hoan toàn biến mất tại
Việt Nam.
Như chúng ta đã biết, Hội Tam Điểm đã khởi
xướng cuộc cách mạng Pháp 1789 và chủ trương "Tự Do, Bình Đẳng và Tình
Huynh Đệ" trong một thế giới đại đồng không phân biệt chủng tộc hay màu
da.
Nhưng câu hỏi được đặt ra là Hội Tam Điểm Pháp
có chủ trương đi xâm chiếm thuộc địa hay không? Và lập trường của Hội
Tam Điểm đối với thực dân Pháp ra sao?
Ngược dòng lịch sử, với tình trạng xã hội lúc
bấy giờ, sau cuộc cách mạng Pháp, Hội Tam Điểm cũng như nước Pháp và
Giáo Hội Pháp, tự cho rằng có bổn phận phải đem văn minh Tây Phương đi
khai hóa các nước kém mở mang.
Chúng ta đừng quên rằng Hội Tam Điểm
chống lại sự buôn bán nô lệ trong khi giáo hội Thiên Chúa không phản
đối việc nầy, và Hội Tam Điểm đã khai sinh bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân
Quyền.
Nhưng phải
chờ mãi đến đầu thế kỷ 20, Hội Tam
Điểm mới chính thức chống đối chế độ thực dân Pháp.
Trong kỳ đại Hội năm1927,
Đại Đường Pháp (La
Grande Loge de France) đã đề nghị chánh phủ Pháp:
- Chấm dứt mọi cuộc xâm chiếm thuộc địa mới.
- Phát huy cơ chế dân chủ tại các nước thuộc
địa.
- Phát triển giáo dục khoa học kỹ thuật, áp
dụng các đạo luật xã hội, tôn trọng nhân quyền tại các nước thuộc địa.
- Bãi bỏ chế độ phân biệt người bản xứ.
Một chi tiết rất thú vị là bà Varenne, phu nhân của Toàn Quyền Đông
Dương, một hội viên Tam Điểm, đã có một cử chỉ thân thiện là mời một
viên chức cao cấp Việt Nam ra khiêu vũ với bà trong buổi tiếp tân tại
Dinh Toàn Quyền tại Sài Gòn (năm 1926). điều này đã khiến các giới chức
Pháp lúc bấy giờ rất bực bội, tưởng chừng như trời đã giáng xuống đầu
họ.
Sau đây, chúng tôi xin đưa ra một vài chứng
liệu lịch sử qua các biên bản buổi họp của chi hội "La Fraternité
Tonkinoise" tạm dịch là "Tình Huynh đệ Bắc Kỳ" tại Hà Nội được đúc kết
lại qua tập tài liệu "Nos vues et notre action en matière de politique
indigène" được dịch là "Quan điểm và hành động của chúng ta qua chánh
sách đối với người dân bản xứ" năm 1930.
Nói một cách chung, lập trường của Hội Tam
Điểm ở thời điểm đó, rất tiến bộ đối với xã hội Pháp, nhưng đối
với chúng ta ngày hôm nay cũng tạm gọi là được.
Hội Tam Điểm Pháp tại Việt Nam chủ trương nên
áp dụng một chánh sách "khai phóng" (émancipation) thay vì "đồng hóa"
(assimilation) dân bản xứ như Pháp đã áp dụng tại các đảo: La Réunion,
La Martinique hay tại các nước Phi Châu.
Theo Hội Tam điểm thì dân Á Châu nói chung, và
dân Việt nói riêng, có dân tộc tính rất cao, nước Pháp không thể nào
đồng hóa nổi.
Theo lời
Toàn Quyền Varenne: "Một người Việt
dù ở Nam Kỳ hay ở Bắc Kỳ, cũng không bao giờ coi nước Pháp là quê hương
của họ được".
Chánh sách "khai phóng" gồm có những điểm căn
bản sau đây:
1/ Nâng cao trình độ giáo
dục, kỹ thuật, khoa
học cho dân Việt Nam.
-Ở bậc tiểu học thì phải dạy học sinh
bằng chữ Việt.
- Ở bậc trung học thì phải dùng tiếng Pháp và
tiếng Anh là sinh ngữ chánh.
-Phải mở các trường Luật, Y Khoa, trường Kỹ Sư Công
Chánh.
-Bằng cấp Việt Nam phải được công nhận bằng giá trị
của bằng cấp Pháp.
Buồn cười nhất là Viện Trưởng Đại Học
Thalamas, trong chuyến về thăm nhà tại Pháp, đã trách cứ các đồng
nghiệp của mình đã "nhắm mắt" chấm đậu cho những du học sinh Việt Nam
tại Pháp, khiến bằng cấp tại Pháp còn thua bằng cấp tại Việt Nam.
2/ Thay thế lần lần viên chức người Pháp ở hạ
tầng bằng người Việt Nam.
3/ Đào tạo một quân đội Việt Nam độc lập, sĩ
quan Pháp chỉ giữ vai trò cố vấn.
4/ Thành lập các hội đồng dân cử. Lúc đầu các
hội đồng chỉ có tư cách cố vấn, sau đó sẽ có quyền hành pháp.
Nước Việt Nam sẽ tiến dần đến một chế độ tự
trị và sau cùng sẽ trở thành một nước độc lập.
5/ Hội Tam Điểm chủ trương tự do báo chí,
nhưng hạn chế việc tự do hội họp vì sợ rằng bọn "bôn sê vích" (cộng
sản) lợi dụng để bạo động.
Ông varenne đã đình chỉ việc kiểm duyệt báo
chí cho đến ngày ông trở về Pháp.
6/ Hội Tam Điểm nghĩ rằng chỉ nên trao trả
hoàn toàn chủ quyền cho dân Việt Nam khi nào trình độ dân trí được nâng
cao, vì nếu không, dân Việt Nam sẽ bị bọn "cầm đầu cuồng tín" bóc lột,
có khi đời sống sẽ còn khốn khổ hơn.
Để kết luận, Hội Tam Điểm đã có ý dè dặt không
tin rằng những "chánh sách" của mình có thể thực hiện được vì các thế
lực phản động tại Pháp rất mạnh.
Đáng tiếc thay! Lịch sử Việt Nam đã diễn theo
sự dự liệu của Hội Tam Điểm trong hoàn cảnh đen tối nhất.
.
|
|
|
|