Những hệ thống quyền lực trên thế giới

 Hội Tam Điểm

( La Franc- Maçonnerie / Freemasonry )

-  Hứa Vạng Thọ -  


    * Theo truyền thuyết đã có từ khi loài người xuất hiện trên trái đất, nhưng chỉ được hệ thống hóa như ngày nay kể từ năm 1723 với Hiến Pháp của vị mục sư Tin Lành người Tô Cách Lan tên là James Anderson.
     * Hội Tam Điểm (viết tắt là HTĐ) là kẻ thù chung của Cộng Sản, phát-xít Đức và của giáo hội Thiên Chúa Vatican.
    * Các mô hình chính trị của những thể chế dân chủ trên thế giới hiện nay đều phát xuất từ HTĐ.
 
    * Nhiều danh nhân trên thế giới là hội viên Tam Điểm như các tổng thống Mỹ (Washington, Thomas Jefferson, Grant, Abraham Lincoln, Franklin Roosevelt, Trumann, Lyndon B. Johnson v.v...) , thủ tướng Anh Winston Churchill, tổng thống Chili Allende, các nhân vật trọng yếu trong cuộc cách mạng Pháp (đại tướng La Fayette, Mirabeau, Sieyès, toàn thể gia đình hoàng đế Nappoléon đệ I) và những nhà lành đạo nước Pháp (Jules Ferry, Paul Doumer, Mendès France, Gambetta v.v...), những nhà bác học (Alexandre Flemming, người phát minh ra thuốc Pénicilline; Lumière, ông tổ điện ảnh, Laplace v.v...), những nhạc sĩ (Mozart, Haydn, Louis Amstrong, Duke Ellington, Rouget de Lisle, tác giả bài quốc ca Pháp: La Marseillaise, Eugène Pottier, tác giả bài Quốc Tế Ca của các đảng Xã Hội và Cộng Sản v.v...), các văn sĩ và triết gia nổi tiếng (Montesquieu, Voltaire, Fichte, Rudyard Kipling, Mark Twain, Pouchkine, Stendhal v.v...) các phi hành gia lên cung trăng (Gordon, Cooper [1963], Aldrin, Gleen), các tài tử điện ảnh (Clark Gable, John Wayne v.v...)...
     Danh sách có thể lên đến cả chục ngàn người. Kể từ số nầy, với những loạt bài sẽ đăng liên tục, tác giả xin cố gắng trình bày những tài liệu thu thập được về những "Hội kín" mà chính ngay phần đông những người Pháp, Đức, Anh v.v... còn chưa biết rõ mấy, nhưng ảnh hưởng về mặt chính trị, tư tưởng và văn hóa rất rộng lớn, sâu đậm và dài lâu. Đó là các Hội Tam Điểm (La Franc Maçonnerie hay Freemasonry theo tiếng Anh), OPUS DEI (Phục Vụ Chúa). Tác giả mong rằng sẽ đóng góp được phần nào cho công cuộc đấu tranh chung vì "am hiểu và nắm vững được tình hình chính trị, văn hóa của xã hội Tây Phương" cũng là một trong những yếu tố để xây dựng một nước Việt Nam hùng mạnh, dân chủ, tự do, không còn chế độ độc tài Cộng Sản nữa. Ngoài ra, tác giả hy vọng rằng những người Việt quốc gia tranh đấu trong các Hội, Đoàn, Đảng Phái cần phải cảnh giác nhiều hơn nữa, đừng tưởng rằng chỉ có Phòng Nhì Pháp, KGB là có ảnh hưởng mà thôi hoặc Đảng ta là nhất.

     Nhiều "trí thức Việt Nam tại Pháp" có biết ít nhiều về các Hội nầy, và có lẽ, có người cũng là hội viên của Hội Tam Điểm hay của Opus DeI.
 
Vì bản chất ích kỷ và tự hào là đã được chọn vào các "hội ưu tú" nói trên, nên một mặt họ chỉ truyền lại cho người trong gia đình để lợi dụng những sự quen biết cá nhân mà làm lợi cho bản thân, và mặt khác, họ giấu rất kỹ không muốn cho những người Việt khác biết. Với sự tính toán vị kỷ như vậy, họ đã đi ngược lại chủ trương của HTĐ nhằm kết hợp những người tốt và chân thật. Trong khi đó, đã từ lâu, Cộng Sản Việt Nam cho cài người của họ vào trong các hội đoàn nói trên.
Trước đây, Hồ Chí Minh, khi sang Pháp năm 1912, đã có bắt liên lạc với Hội Tam Điểm, qua sự giới thiệu của hai ông Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền nhưng không chắc là đã được vào Hội Viên. Vua Duy Tân là một hội viên Hội Tam Điểm ở đảo La Réunion.

     Trong phần viết về HTĐ, điều khó nhất là việc thẩm định các tài liệu, vì trước đến giờ đã có ít nhất là 50.000 quyển sách nói đến HTĐ. Do đó, tác giả chỉ xin tóm lược những điểm chính yếu, khả tín và có chứng cớ vững chắc về những HTĐ tại Pháp.

     A/- Nguồn gốc Hội Tam Điểm  (La France Maçonnerie):

Sở dĩ, dịch "La France Maçonnerie" là "Hội Tam Điểm" vì trong các văn thư của HTĐ, các danh từ viết tắt thường được thay thế bằng hình tam giác với 3 dấu chấm ví dụ như "Frère" (anh em) thì được viết là F,  "Maître" (thầy) thì viết là M.

     1) Huyền thoại HIRAM:

Theo truyền thuyết thì HTĐ đã xuất hiện từ tạo thiên lập địa, có mặt ở khắp nơi trên thế giới, từ Á sang Âu. Nhưng hyền thoại về Tổ Sư của HTĐ  (kiến trúc sư HIRAM) bắt đầu từ thời vua Salomon (Do Thái), 900 năm trước Tây lịch. Thuở đó, vua Salomon, vâng lời Thượng Đế, ra lệnh cho xây cất đền thờ Jérusalem trên đồi Moria. Vua tuyển lựa 30.000 thợ luyện kim, 80.000 thợ hồ, 70.000 phu khuân vác. Tất cả những ngưòi nầy đều đặt dưới quyền chỉ huy của kiên trúc sư HIRAM do vua nước TYR gởi đến.
     Kiến trúc sư HIRAM còn gọi là Đại Sư HIRAM cho thiết lập 3 đẳng cấp tùy theo khả năng chuyên môn của mỗi người. Điều nầy giúp ông dễ dàng chỉ huy và cấp phát lương bổng mà không gây điều dị nghị. Đại Sư HIRAM truyền cho mỗi người một mật hiệu và những dấu chỉ, để nhân nhau trong cùng đẳng cấp với mình. Có 3 đẳng cấp:
     1. Tập sự (apprenti) với mật hiệu là JAKIN
     2. Thợ (compagnon) với mật hiệu BOAZ
     3. Thầy (maître) với mật hiệu là JEHOVAH
Trong đám đệ tử có 3 người "thợ" âm mưu với nhau, tính ép buộc Đại Sư HIRAM phải tăng lương họ lên bậc "thầy" và phải tiết lộ "bí truyền" cho họ, nếu không thì họ sẽ giất Đại Sư HIRAM.
     Khuya đến, Đại Sư HIRAM đi tuần trong đền, thì bị 3 tên phản thầy phục kích và bị giết. Chúng đem xác của Đại Sư  ra chôn dưới gốc cây xiêm gai (Accacia). Trước khi chết Đại Sư HIRAM đã nhanh tay ném "chiếc tam giác bằng vàng" đeo nơi cổ xuống giến sâu. Tam Giác ấy chứa đựng tất cả những điều bí mật mà tiên tri Moise đã truyền lại cho dân Do Thái, cùng tên họ của vị Đại Kiến Trúc Sư của vũ trụ.
     Vì không được tin của người yêu là Đại Sư HIRAM, nữ hoàng SABA, đang thai nghén, đã phải đến vương quốc Salomon để hỏi thăm sự tình. Vua Salomon bèn ra lệnh cho 9 người "thầy" đi tìm Đại Sư HIRAM. Sau nhiều ngày lặ lội, ba người "thầy" mới tìm ra nơi chôn xác của Đại Sư HIRAM, ba tên phản thầy liền bị bắt, và bị chặt đầu. Chín người "thầy" được vua Salomon trao cho trọng trách điều khiển "Ủy Ban xây cất đền thờ" . Do truyền thuyết đó, Hội Tam Điểm được coi như tiếp tục nhiệm vụ của Đại Sư HIRAM là xây cất "Ngôi đền của Vũ Trụ". Những hội viên còn được gọi bằng danh từ "những đứa con côi của bà mẹ góa" (tức nữ hoàng SABA).

     2) Các nghiệp hội thời Trung Cổ:

Tại Âu Châu, đầu thế kỷ thứ 12, các nghiệp bắt đầu được thành lập và quy tụ những người thợ cùng chung một nghề. Lúc bấy giờ, các tay thợ đều ở dưới quyền sinh sát của các vua chúa. Họ phải đóng thuế rất nặng và không có quyền đổi nơi cư trú (y như ở Việt Nam hiện nay). Chỉ có Hội Thiên Chúa Giáo mới được quyền giải phóng họ thoát khỏi cảnh nô lệ đó. Dưới sự bảo trợ của Giáo Hội , những nghiệp hội tự do phát triển nhanh chóng. Các nghiệp hội tự do đó được gọi là "Francs Mestiers" (Franc có nghĩa là tự do, mestiers là nghề)
     Nghiệp hội mạnh nhất là của những người trong ngành xây cất, vì họ được Giáo Hội ưu đãi để xây cất các nhà thờ, chủng viện, cầu xá, chợ v.v... Đó là những "Franc Maçon" (maçon có nghĩa là thợ hồ)  
     Có thể nói những "nghiệp hội tự do" đều xuất phát từ các dòng tu, mạnh nhất là dòng "Ordre des Templiers" (tu sĩ nhưng cũng là hiệp sĩ, có thể so sánh với Thiếu Lâm Tự bên Trung Hoa). Dòng tu nầy đã bị Giáo Hội giải tán vào năm 1312. Vị Đại Sư cuối cùng là Jacques de Moley đã bị Giáo Hội xử án hỏa thiêu vào năm 1314. Các nghiệp hội vẫn tiếp tục tôn trọng nghi lễ của dòng "Templier" mỗi khi nhóm họp. Đó là "nghi lễ Tô Cách Lan cũ và được chấp nhận" (rite Ecossais ancien et accepté) mà các HTĐ coi như là một trong những nghi lễ chánh thức.
     Vào thời kỳ Trung Cổ, thế kỷ thứ 15, HTĐ chỉ quy tụ những người trong ngành xây cất, nên còn có tên là "HTĐ thực hành" (La Franc Maçonnerie opérative). Lúc bấy giờ, HTĐ hoạt động trong vùng bí mật vì các vua chúa đâu có cho phép tự do hội họp. Khi chiến tranh tôn giáo bùng nổ giữa Tin Lành và Thiên Chúa vào thế kỷ thứ 16, HTĐ cũng bị đàn áp dữ dội. Nhiều HTĐ ở Pháp đã phải sang Anh lánh nạn. Đến thế kỷ thứ 17, HTĐ được nới rộng ra và chấp nhận cho những người khác nghề cũng vào hội được. HTĐ còn được gọi là "HTĐ thuyết lý" (La Franc Maçonnerie spéculative). Dần dần nhờ các giai cấp tăng lữ, quý phái cũng gia nhập hội nên HTĐ phát triển nhanh chóng. Một tài liệu cổ là "Manuscrit Regius", ở cuối thế kỷ thứ 14, đã cho thấy là có những vị bá tước, các tăng lữ đã gia nhập HTĐ.
     Năm 1717, HTĐ đầu tiên có hình thức như hiện nay được thành lập tại Anh Quốc là "Grande Loge de Londres" (dịch là Đại Đường Luân Đôn). Đến năm 1723, để thống nhất các HTĐ, mục sư Tin Lành James Anderson, người Tô Cách Lan, cho công bố bản Hiến Pháp chung cho tất cả HTĐ.
     Mục tiêu chính  của bản Hiến Pháp đó quy định những điều căn bản sau đây:
     -HTĐ là một hội để phục vụ con người.
     -Hội viên TĐ là những con người tốt và chân thật, tôn trọng sự tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của người khác.
     -HTĐ có bổn phận kết hợp những người tốt trên khắp hoàn cầu qua sợi giây huynh đệ thân ái không phân biệt màu da hay chủng tộc.
     Muốn được vậy, hội viên Tam Điểm phải tự trau dồi bản thân bằng "phương pháp suy tư" qua các biểu tượng (tương tự như thiền quán trong đạo Phật) của các dụng cụ hàng ngày như cái dùi, cây compas (vẽ vòng tròn), thước vuông góc (équerre) v.v...
     B/- NHững HTĐ trên thế giới:
     Hiện nay, trên thế giới những HTĐ được phân chia theo 3 khuynh hướng:
     - Chịu ảnh hưởng của HTĐ Anh Quốc
     - Chịu ảnh hưởng của HTĐ PHáp
     - Độc  lập  tùy  theo  mỗi  quốc  gia  như  Đức, Thụy  Sĩ v.v...   
     Các HTĐ vẫn có quan hệ với nhau chỉ trừ vài trường hợp không được nhìn nhận là "hợp lệ" .
    
   Tổng số hội viên TĐ trên thế giới được ước lượng vào khoảng 7 triệu người. tầm mức ảnh hưởng chánh trị rất rộng lớn. Những cơ chế xã hội như an sinh xã hội, trợ cấp thất nghiệp, chế độ hưu bổng, bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền v.v... đều do HTĐ chủ xướng. Những người lãnh đạo của Pháp, của các quốc gia Tây Phương, phần đông đều là hội viên Tam Điểm.
     Sức mạnh của HTĐ do đâu mà có? Tổ chức như thế nào? HTĐ có phải là một Đảng Chánh Trị không?




Hội Tam Điểm tại Pháp


  Hội Tam Điểm tại Pháp xuất hiện từ năm 1688

Hiện nay Hội Tam Điểm tại Pháp gồm có nhiều hệ phái: Đại Đông Pháp (Grand Orient De France, viết tắc GODE), Đại Đường Pháp (Grande Loge De France, viết tắt la GLNF), Nhân Quyền (Droit Humain, viết tắt DH), Memphis Misraim (viết tắt là MM) v.v...
     Hội Tam Điểm Pháp ảnh hưởng rất mạnh trong các tổ chức chánh trị tại Âu Châu nói chung, và tại Pháp nói riêng kể từ thế kỷ 18 đến giờ.
     Phần đông những hội viên Tam Điểm là những người điều khiển, hoặc nắm giữ những chức vụ them chốt trong guồng máy lãnh đạo quốc gia. Nhiều hội viên Tam Điểm đã lợi dụng sự quen biết thế lực để mưu lợi cá nhân. Do đó, có rất nhiều người tự mọi nhận rằng mình là hội viên Tam Điểm để "hù" thiên hạ, hoặc có khi lại còn đứng ra lập hội ma.
     Gần đây, trong những vụ "xì căn đan HLM" có dính líu đến nhà cửa, hầu hết những người chủ chốt là hội viên Tam Điểm. Các hệ phái Tam Điểm đã tức thời áp dụng các biện pháp chế tài để "làm sạch" hàng ngũ của mình như ngưng chức tạm thời để chờ kết quả điều tra của tòa án. Ông Didier Schuller, dân cử Clichy, thuộc Hội Tam Điểm GLNF, ông Françis Poulain thuộc GLF. Ông Claude Pradille (thượng nghị sĩ đảng Xã Hội vùng Gard), ông Alain Journet chủ tịch  hội đồng vùng Gard, ông Gilbert Baumet dân biểu vùng Gard, tất cả 3 ông này đều thuộc GODF.

     1. Nguồn gốc của hội tam điểm Pháp:

     Tại Âu Châu, tổ chức xã hội ở cuối thế kỷ 17 còn chế độ phong kiến. Các dòng vua chúa thường gây chiến với nhau để mở rộng lãnh thổ.
     Dòng họ Stuart, nước Ái Nhĩ Lan, sau khi bị các dòng họ Orange (Pháp), và Hanovre (Đức) đánh bại nên phải đem tàn quân đến tỵ nạn ở Pháp tại Saint germain en Laye gần Versailles.
     Đám sĩ quan ngự lâm quân, phần đông gồm người Ái Nhĩ Lan, trong HTĐ đã thành lập hội sở TĐ đầu tiên tại Pháp có tên là "Sự Bình Đẳng Hoàn Mỹ" (Parfaite égalité) vào năm 1688 trước khi ĐĐ Luân Đôn được thống nhất lại năm 1717.
     Kể từ năm 1717 về sau, hội TĐ Pháp được phát triển và chịu ảnh hưởng của hai hệ thống Tô Cách Lan (Loges Ecossais) và Anh (Loges Anglaises).
     "Hệ Tô Cách Lan" chịu ảnh hưởng của Thiên Chúa Giáo, và hoạt động độc lập nên phát triển rất nhanh. Trái lại, "hệ Anh" thì phải khai báo số hội viên về "Đại Đường Luân Đôn" nên ít được người Pháp thích.
     Năm 1721, hội sở đầu tiên "Tình Bằng Hữu và Tình Hiuynh Đệ" (L'amitié et la Fraternité) thuộc "hệ Anh" ra mắt tại Dunkerque.
     Năm 1726, hội sở "Thánh Thomas", "hệ Tô Cách Lan", được thành lập tại Paris với bá tước Derwentwater tên là Charles Radcliffe. Đến năm 1746, ông này bị vua Anh xử tử vì đưa quân về tính lật đổ chế độ hầu phục hồi lại ngai vàng của dòng họ Stuart.
     Charles Radcliffe
Giai cấp quý phái tăng lữ và những trí thức ưu tú của Pháp gia nhập hội TĐ rất nhiều vì đáp ứng lại nguyện vọng của họ như tự do tư tưởng, chống lại sự độc đoán và chuyên quyền của vua chúa và giáo hội. Nên nhớ, nước Anh lúc bấy giờ, đặc biệt nhất là khi triết gia Montesquieu sang tỵ nạn lại Luân Đôn, là biểu tượng của "Tự Do Dân Chủ" đối với Âu Châu.
    Giáo hội Thiên Chúa La Mã chống đối TĐ quyết liệt. Ngày 4/5/1738, Giáo Hoàng Clément XI I đã ban ấn chiếu "in eminenti"  kết án hội TĐ, và "truất phép thông công" những hội và những cảm tình viên của hội Tđ, viện dẫn lý do là hội TĐ giảng dạy "tà đạo" vì hoạt động bí mật.
     Đến năm 1751, Giáo Hoàng Benoit XIV nhấn mạnh việc kết án trên đây.
     Ngày 26/11/1983, Đức Hồng Y Joseph Ratzinger cũng tiếp tục kết án các HTĐ.
     Ngày 24/11/1994, khi thảo luận về vấn đề phá thai, Hồng Y Ratzinger, lại kết án lần nữa các HTĐ nói chung, và bác sĩ Pierre Simon nói riêng, một vị cựu "Đại Sư" của "Đại Đường Pháp" vì bác sĩ nầy đã viết cuốn sách tựa đề là "De la vie avant toute chose" (tạm dịch: sự sống trước nhất)
     Tại Pháp, ảnh hưởng không đáng kể, nhưng tại các nước Âu Châu khác thì nhiều hội viên TĐ đã bị xử tử, hỏa thiêu, hoặc tù đày.
     Cuối năm 1771, hội TĐ tại Pháp có 497 hội sở phân chia như sau: 154 tại Paris, 322 tại các tỉnh lỵ và 21 trong các đơn vị quân đội. Mỗi hội sở như vậy gồm có ít nhất từ 30 người trở lên.

     2. Hai hệ phái đầu tiên của hội Tam Điểm tại Pháp

     Ngày 24/6/1738, một đại hội đồng qui tụ các hội TĐ "Tô Cách Lan" và "Anh" đã bầu lên vị chủ tịch (còn gọi là Đại Sư) đầu tiên của hội TĐ tại Pháp. Đó là ông Louis De Pardaillan De Gondrin, công tước Antin.
     Điều đó nói lên sự thống nhất của hai hệ phái, nhưng phải chờ đến năm 1756, mới có một văn kiện chánh thức tuyên bố sự thành lập của hội TĐ Pháp với danh xưng là "Đại Đường Pháp".
     Sau khi công tước Antin qua đời, năm 1743 ông Louis De Bourbon-Condé, bá tước Clermont, lên thay thế.
     Đến năm 1766, sau khi bầu lại ban chấp hành của hội TĐ, sự chia rẽ trầm trọng đã xảy ra trong nội bộ đến nỗi sinh ra việc ẩu đả trong khi nhóm họp khiến cho cảnh sát phải can thiệp. Kể từ năm 1767, các cuộc hội họp đã bị cấm chỉ.
     Năm 1771, bá tước Clermont qua đời, với sự cổ xúy của công tước Luxembourg, một hệ phái khác đã được ra đời năm 1772 với danh xưng là "Đại Quốc Đường Pháp" nhưng sau kỳ nhóm họp đại hội đồng năm 1773, thì được cải danh thành "Đại Đông Pháp" (Grand Orient de France). Công tước Chartres, sau trở thàng công tước Orléans, được bầu làm vị "Đại Sư của hội TĐ Pháp"
     Nhưng một số hội viên không chấp nhận, nên vẫn theo "Đại Đường Pháp" (Grande Loge de France) như trước đây. Từ đó, hai hệ phái TĐ Pháp vẫn hoạt động riêng biệt cho đến cuộc cách mạng Pháp 1789.

     3. Vai trò của HTĐ trong cuộc cách mạng Pháp

     Như chúng ta đã thấy, giới quý tộc Pháp lãnh đạo các HTĐ. Quy chế của hội TĐ năm 1742 có ghi rõ
    "Muốn làm hội viên thì phải trung thành với thiên Chúa Giáo, với vua và có đức hạnh"
     Do đó, HTĐ không hề bị vương quyền làm khó dễ, dù rằng Giáo Hội đã lên án HTĐ.
     Khi cách mạng Pháp bùng nổ, HTĐ có gần 1000 hội sở. Nhiều hội viên TĐ năm giữ các vai trò then chốt trong cuộc cách mạng như: bailly, Talleyrand, Brissot, La Fayette, Condorcet, Marat v.v... Nhưng cũng có những hội viên TĐ khác chống lại cách mạng như Josept de Maistre.
       Đặc biệt nhất là Đại Tướng La Fayette, người đã ủng hộ cuộc chiến tranh dành độc lập cho Hoa Kỳ.
     Tổng thống Mỹ đầu tiên Washington là một hội viên Tam Điểm, cũng như những người đã soạn thảo bản Hiến Pháp của Hoa Kỳ.

 
     Một khuôn mặt nổi tiếng khác là linh mục Grégoire, người đệ trình dự luật hủy bỏ chế độ nô lệ và phục hồi quyền công dân cho người Do Thái. Năm 1989, hài cốt của ông được dời vào điện Panthéon, và trớ trêu thay, Đức Hồng Y Lustiger, cũng là người Do Thái, đã từ chối không đến dự lễ vì linh mục Grégoire là một hội viên Tam Điểm!


Cuộc cách mạng Pháp năm 1789 là khởi điểm cho những cuộc cách mạng khác trên thế giới, và đã đặt nền móng cho các chế độ chánh trị dân chủ hiện nay. Nguyên tắc phân quyền giữ Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp, bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền đều phát xuất từ các phong trào tư tưởng cách mạng, hướng dẫn bởi các văn sĩ, triết gia như Voltaire, Montesquieu, Condorcet, Diderot v.v... Những người nầy đều là hội viên Tam Điểm.
     Ngay đến như phương châm của Pháp Quốc Cộng Hòa: "Liberté - Égalité - Fraternité" (dịch là Tự Do - Bình Đẳng - Tình Huynh Đệ) cũng là phương châm của  Hội Tam Điểm (viết tắt là HTĐ)
     Nhưng nhân vật chủ chốt của cuộc cách mạng Pháp như Đại Tướng La Fayette, Talleyrand, Sieyès, Camille Desmoulins, Saint-Just, Danton, Marat, linh mục Grégoire (người đã dự thảo đạo luật phong quyền công dân cho người Do Thái). La Rochefoucauld, Noailles, Rouget de Lisles (tác giả Quốc Ca "La Marseillaise" của Pháp) v.v... đều là hội viên TĐ.
     Nhưng ngược lại, những nhân vật lãnh đạo HTĐ Pháp như công tước Montmorency Luxembourg, và các đại biểu của quý tộc Pháp thì chống lại cách mạng, và trốn sang Anh hoặc sang Áo để tỵ nạn.
     Vào lúc ấy, năm 1789, HTĐ Pháp có trên 70000 hội viên, gồm toàn thành phần ưu tú của xã hội đương thời như giới quý tộc, giới tu sĩ, và thành phần thượng lưu, giàu có.
     Số hội viên TĐ làm đại biểu trong Quốc Hội  là 447 người trên tổng số 605 vị.
     Do đó, nhiều sử gia đã không ngần ngại viết rằng cuộc cách mạng Pháp là do HTĐ chủ xướng. Họ thường căn cứ trên các tài liệu gồm hơn 5000 trang (mémoires pour servir à l'histoire du Jacobinisme) ngụy tạo bởi tu sĩ dòng tên là Barruel (qua đời năm 1820) và Le Franc với dụng ý là đả phá HTĐ lúc bấy giờ.
     Ngay đến như trận chiến lịch sử VALMY (20/9/1792) có thể làm đảo lộn cục diện nước Pháp, giữa quân đội nước Áo do phe bảo hoàng cầu viện, và đoàn quân ô hợp của cách mạng Pháp, các sử gia cho đó là công lao của HTĐ. Chính ngay như nhà đại văn hào André Malraux (từng làm Tổng Trưởng Văn Hóa dưới thời De Gaule) còn viết rằng trận chiến này đã được các hội viên TĐ Pháp như Danton, Le Brun, Dumouriez dàn xếp đưa 8 triệu quan Pháp cho công tước Brunswich, một hội viên TĐ Áo, người chỉ huy quân đội Áo, để quân Áo rút lui. Nhờ đó mà Cộng Hòa Pháp mới sống sót đến ngày hôm nay.

     Nhưng éo le thay, ảnh hưởng HTĐ càng lớn mạnh thì kỹ luật nội bộ càng lỏng lẽo, vì chi hội nào cũng muốn tăng ảnh hưởng chánh trị nên tuyển mộ rầm rộ và bừa bãi. Các cuộc tranh chấp nội bộ trở nên trầm trọng, gây nên ẩu đả khiến chánh quyền cách mạng đã ra lệnh giải tán các HTĐ vào năm 1792. Mặc dầu vậy, tổng trưởng tài chánh Clavière, chủ tịch Quốc Hội Lập Pháp Stanilas de Girardin đều là hội viên Tam Điểm. Điều đau buồn nhất là chính vị Đại Sư của HTĐ Đại Đông Pháp (Grand Orient de France) công tước Philippe Orléans ký tên là Philippe Égalité (Philippe Bình Đẳng), trong tho đề ngày 22/2/1793 để gởi báo "Le Journal de Paris" đang vào ngày 24/2/1793, đã chối bỏ HTĐ nhằm trở cờ hầu cứu lấy mạng sống của mình, nhưng rốt cuộc cũng bị lên máy chém. Đó là thời kỳ khủng bố (la terreur) của cuộc cách mạng Pháp năm 1793.
     Nhiều hội viên TĐ đã bị xử tử, hay bị tù đày trong giai đoạn đen tối nầy của lịch sử nước Pháp, HTĐ bị tê liệt hoàn toàn. Số đông đoàn viên phải sang Anh tỵ nạn, hoặc lẫn trốn vào bóng tối.
     Sau thời kỳ khủng bố, vào thán,g 12 năm 1793, ông Roettiers de Montaleau đã quy tụ được 18 chi hội để gầy dựng trở lại HTĐ.
     Nhưng kể từ đấy, thành phần tu sĩ bớt đi rất nhiều, và giới quân nhân hội viên tăng lên rất mau. HTĐ bị phân ra theo hai khuynh hướng chánh trị: phe hữu ủng hộ chế độ quân chủ lập hiến, phe tả chủ trương chế độ cộng hòa, và chống đối Giáo Hội Thiên Chúa.

     HTĐ dần dần phát triển mạnh trở lại.
     Đến thời kỳ hoàng đế Bonaparte Napoléon đệ I (Nã Phá Luân) thì HTĐ lại trở nên công cụ của triều đình. Hoàng đế Napoléon chánh thức bảo trợ HTĐ, vì cả gia đình đều là hội viên TĐ trước khi Napoléon lên ngôi.
     Nhưng có một điểm thắc mắc: Hoàng đế Napoléon có phải là hội viên TĐ hay không? Có tài liệu cho rằng ông đã vào HTĐ tại chi hội "La sagesse" ở Valence khi còn là trung úy Bonaparte. Trụ sở chi hội đặt tại nhà in của ông Aurel. Ông Aurel sau nầy phụ trách mọi việc ấn loát của Napoléon trong cuộc hành quân tại Ai Cập.
     Trong giai đoạn nầy, HTĐ gồm có 818 chi hội, hơn 80000 hội viên, đa số là quân nhân.
     Ngày 5/11/1804, Joseph Bonaparte, người anh của hoàng đế Napoléon, đắc cử vào chức vụ Đại Sư của HTĐ Đại Đông Pháp.
     Ngày 24/6/1814 HTĐ Đại Đông Pháp chào mừng vua Louis 18 lên ngôi trở lại.
     Trong trận chiến Waterloo ngày 18/6/1815, các hội viên TĐ trong quân đội của hai phe thù địch đều hy sinh rất nhiều tại chiến địa. Những vị tướng chỉ huy của hai phe đều  là hội viên TĐ. Bên nầy Wellington và Blucher. Bên kia Ney, Grouchy và Cambronne.
     Sau đấy, hoàng đế Napoléon  bị đày ra đảo Sainte Hélène và qua đời tại đấy ngày 5/5/1821. Các hội viên TĐ nào còn ủng hộ Napoléon thì rút vào bóng tối. Số còn lại thì phò chánh quyền mới.




Bản phân phối số hội viên Tam Điểm trên thế giới năm 1992:
  
Quốc gia
Số hội viên
Mỹ 
5 000 000
Anh 7 000 000
Úc 2 000 000
Gia Nã Đại 193 000
Ba Tây 140 000
Pháp 85 000
Chili 60 000
Ái Nhĩ Lan 55 000
Nam Phi 50 000
Tân Tây Lan 35 000
Thụy Điển 31 000
Mễ Tây Cơ 30 000
Ý 24 000
Đan Mạch 20 000
Đức 20 000
Na Uy 16 000
Phi Luật Tân 15 000
Hy Lạp 13 500
Bỉ  9 000
Á Căn Đình 7 150
Hòa Lan 7 000
Pérou 5 400
Nhật 4 000
Thụy Sĩ 4 000
Bồ Đào Nha 3 500
Thổ Nhĩ Kỳ 3 000
Do Thái 3 000
Phần Lan 1 500
Bolivie 1 400
Tây Ban Nha  1 000


Chú thích :

- Tại các  nước theo Cộng Sản thì HTĐ bị cấm đoán.
-  Giáo hội Vatican rất mạnh nên cũng cấm đoán và dứt phép thông công những ai theo HTĐ( do đó tại Ý và Tây Ban nha - nơi phát sinh OPUS DEI - Đức GH Gioan Phao Lồ  I I  đã phong thánh cho LM Ecriva  de Balaguer một  cách đặc biêt.
- Sau khi Đế quốc Liên Xô tan rã thì HTĐ đã hồi sinh trở lại.
- Ngoài ra, HTĐ còn hiện diện tại nhiều nơi khác như các nước Đông Âu, Ai Cập v.v... nhưng vì số hội viên chỉ có vài trăm người nênkhông đề cập đến.