T  H  Ờ I   -   S Ự


  THẦY HUYỀN DIỆU LÀ AI?
Khi Việt Cộng tổ chức hành hương về Bồ Đề Đạo Tràng và
Lâm Tỳ Ni, quê hương của Đức Phật!

- Lý Bá Mẫn  - 

 
     Theo ý kiến cá nhơn của tui, không phải bất kỳ ai cạo trọc đầu, mặc bộ cà sa, thuộc lòng kinh phật như Bát Nhả, Lăng Nghiêm…Hoặc là cao hơn là được tự phong những chức sắc nghe qua rất là danh lợi, phàm tục, quan quyền, trọng chức tước: đại đức, thượng tọa, hòa thượng, Yết Ma, tăng thống..hoặc là tu hành,  có đi du học, đậu bằng cấp cao tiến sĩ ở Ấn Độ, Tích Lan, Thái Lan…tôi cho đó là những trường đại học không danh tiếng, thế giới tây phương không coi đủ tiêu chuẩn, nhưng mục đích đào tạo tăng ni, là cán bộ đạo phật, có bạn cho là các trường đại học Hốc Bà Tó, bằng tiến sĩ ở đó ít có giá trị… Tất cả những dàn giá bề ngoài, không thể vội kết luận là tăng sĩ, còn phải biết rõ lý lịch, lý do đi tu, ngày nay chán ngán cảnh công an cạo đầu làm thầy, nữ cán bộ nhảy lên làm ni cô, thi đua góp tiền cúng dường, xuất ngoại.


Thầy Huyền Diệu trong chân tướng "bình dân  học vụ"

    Trường hợp thầy Huyền Diệu cũng có nhiều điều  cần phải suy nghĩ, ngày nay vàng thau lẫn lộn, Tôn Hành Giả thiệt và giả rất nhiều, trà trộn trong chùa. Theo tui biết từ hơn 10 năm qua, đài phát thanh sắc tộc của ông luật sư Lưu Tường Quang thành lập, có chương trình tiếng Việt, tui nhớ hổng lầm là khoản năm 1994, 1995…đài phát thanh SBS lúc đó còn cô Ngọc Hân, đã có đưa lên một tu sĩ, lúc đó chưa có xưng chức sắc, chỉ mang danh xưng là Thầy Huyền Diệu, nghe cả những lần phỏng vấn…được đài SBS ca tụng là người chịu khó bỏ công danh sự nghiệp, tui nhớ là có giới thiệu thầy Huyền Diệu có bằng tiếng sĩ ở bên Pháp (???), tu theo hạnh của đức Thích Ca, ngài từ bỏ cung vàng điện ngọc, ngôi vị thái tử để tìm đường giải thoát. Nay có thầy Huyền Diệu, từ bỏ bằng cấp, cuộc sống bơ sữa ở bên Tây, đến xứ Phật Lâm tỳ ni để xây chùa, thầy Huyền Diệu có kể những chuyện như: ở đất Phật hoang vu, có vài nước đến cất chùa như Tích Lan, Trung Cộng, nhưng thầy chê tụi Đài Loan là không mấy quan tâm, trong khi Trung Cộng rất sùng đạo, nhà nước quan tâm giúp xây chùa phật.

    Thầy Huyền Diệu có kể chuyện như có hang núi biết nói, có loại hạc quí hiếm thường đến đậu ở chùa của thầy và nơi nầy có rất nhiều rắn hổ, nhưng thầy khấn nguyện là rắn hổ bỏ đi hết…tất cả những chuyện của thầy Huyền Diệu kể, chưa được kiểm chứng, nhưng ít ra cũng làm cho những phật tử có tấm lòng tin phật có quyền năng, phép thuật, mê tín dị đoan ủng hộ thầy, họ là những người cúng dường mạnh, thường trực. Thầy Huyền Diệu xuất hiện rất nhiều lần trên làn sóng đài phát thanh SBS, sau đó vắng tiếng, hình như thầy cảm thấy đủ để thu phục nhân tâm, có số người cúng dường để xây chùa, phát huy xứ phật.

   Theo tin tức, thầy Huyền Diệu có tên là Lâm Trung Quốc, quốc tịch Pháp, tự xưng là Chủ Tịch Liên Đoàn Phật Giáo Thế Giới, hô hào tu học, xây chùa, được phật tử nước ngoài, làm vẻ vang xứ Phật, thầy cho đó là công đức lớn lắm và chính quyền trong nước tiếp đón như là một đại diện cho đạo phật, nay hổng còn là Phật Giáo Việt Nam Thống Nhứt nữa, cái danh xưng nầy như là dối trá, chùa nào cũng tự tung tự tác như vua con, chia rể hơn ai hết, mà miệng hô hào thống nhứt. Nay hổng biết thầy Huyền Diệu có tự phong chức sắc cao, nếu là chủ tịch thì phải tương đương với hòa thượng, chức vụ cần đi đôi với cấp bực. Danh xưng mới khá êm tai: Chủ Tịch Liên Đoàn Phật Giáo Thế Giới, giống như Phòng Thông Tin Phật Giáo Thế Giới của cư sĩ, giáo sư Võ Văn Ái ở Pháp. Hai chữ Liên Đoàn phật giáo thế giới, nghe có phần đao to búa lớn, thùng rỗng kêu to, tốt mã rà đám…như cựu đại sứ Bùi Diễm thành lập ra tổ chức mang tên: Hiệp Hội Đại Việt, để dành độc quyền khuynh loát đảng Đại việt Quốc Dân Đảng.

     Thầy Huyền Diệu,tục danh là Lâm Trung Quốc thu tiền hàng chục năm qua, có thể nhiều triệu hay hơn nữa, như Thích Nhất Hạnh… được một số truyền thông ủng hộ, thầy hô hào xây 2 ngôi chùa là Bodh Gaya, là Bồ Đề đạo Tràng ở Ấn Độ và Lâm Tì Ni ( Lumbini) ở xứ sinh ra đức Thích Ca. Nghe đâu chùa đã khánh thành 7, 8 năm rồi, nhưng thầy vẫn nói là chưa xong để tiếp tục thu tiền. Thủ đoạn làm tiền muôn mặt, tui nhớ là chủ tịch Hoàng Cơ Minh chết 14 năm, nhưng mặt trận nói là phó đề đốc còn mạnh khoẻ, thường gởi thư chúc tết, cô Tim Rebaud cũng dùng Căn Nhà May Mắn để thu tiền từ thiện. Tui không lạ gì ở nước ngoài, có hàng trăm tổ chức từ thiên, quyên tiền xây chùa, nhà thờ…nhưng làm sao tin được.

   Trường hợp thầy Huyền Diệu không phải là ngoại lệ, ở nước ngoài và Việt Nam xuất hiện những ma tăng, quỷ ni…biến phật giáo thành mê tín dị đoan, bùa phép, thần huyền, phật ngọc để thu tiền. Tui chỉ biết bao nhiêu đó, nếu ở Pháp, có ai biết rõ thầy Huyền Diệu ra sao? Có đậu bằng tiến sĩ hay là lên giả…? Để phật tử thuần thành bớt lâm vào pháp nạn.

LÝ BÁ MẪN.
22.09.2012
 

 
  PHỤ ĐÍNH

“Tôi đã rất may mắn khi được tiếp kiến với thầy Huyền Diệu - Chủ tịch Liên đoàn Phật giáo thế giới trong một khoảng lặng thời gian giữa sự bận rộn, gấp gáp trong chuyến trở về Việt Nam lần này của thầy, để ra mắt bộ sách: "Lòng tri ân và sức mạnh mầu nhiệm" và cuốn "Khi Hồng Hạc bay về và những điều mầu nhiệm".

Cả hai cuốn sách do Nhà xuất bản Vãn Nghệ TP Hồ Chí Minh ấn hành tháng 6/2008”
     Trung Tương Hữu Ước – Tổng Biên Tập Báo Công An Nhân Dân Việt Nam

Nguồn : http://thamtulyphong.wordpress.com/2012/09/19/ai-la%CC%80
-nguo%CC%80i-phu%CC%A3c-
hung-tha%CC%81nh-di%CC%A3a-lumbini/m










Tại sao là Hồng hạc mà không phài là bạch hạc nhu trong kinh điển Phật giáo ? Thâm độc là ở chỗ đó ( màu hồng của CS là cao cả.  Hồng hơn chuyên tu!  )


Xin đọc đoạn văn dưới đây để hiểu thêm các loại CHIM THẦN trong kinh điển phật Giáo !
http://nghethuatphatgiao.com/index.php/tu-van/283-chim-than-trong-khing-dien-phat-giao

CHIM THẦN TRONG KINH ĐIỂN
HỎI :
Trong kinh Phật có nói đến các loài chim như Bạch hạc, Khổng tước, Anh vũ, Xá lợi, Ca lăng tần già, Cộng mạng. Xin hỏi các loài chim ấy là chim gì, đặc điểm thế nào, chúng có phải là những loại chim thần như Kim sí điểu không? 

ĐÁP: 

 Bạch hạc, Khổng tước, Anh vũ, Xá lợi, Ca lăng tần già, Cộng mạng là những loại chim có màu sắc đẹp, giọng hót hay và quý hiếm. Các loài chim này được đề cập đến trong kinh Phật, đặc biệt là những kinh thuộc Bắc tạng như Đại Niết Bàn kinh, Thắng Thiên Vương Bát Nhã kinh, A Di Đà kinh, Tạp Bảo Tạng kinh, Khổng Tước Minh Vương kinh, Anh Vũ Gián Vương kinh… Đức Phật thường lấy giọng hót của các loại chim này, nhất là Ca lăng tần già để so sánh và tán thán những vị Tăng thuyết pháp có âm thanh vi diệu, chinh phục được thính chúng, đưa họ trở về chánh đạo. Đặc biệt, ở Tịnh độ của Phật A Di Đà thì Bạch hạc, Khổng tước, Anh vũ, Xá lợi, Ca lăng tần già, Cộng mạng liên tục ngày đêm hót lên những pháp âm vi diệu khiến người nghe phát tâm niệm Phật, niệm Pháp và niệm Tăng.

Bạch hạc là chim Hạc trắng, mỏ dài, chân cao, lông trắng, có khả năng bay rất xa, tiếng kêu lớn và thanh. Khổng tước là chim Công, đuôi dài, con trống rất đẹp, thường xoè đuôi và cánh ra như cánh quạt, màu sắc sặc sỡ. Anh vũ là chim Vẹt, lông xanh, mỏ quặp, có khả năng nói được tiếng người. Xá lợi là chim Thu, còn được gọi là chim Bách thiệt, mắt rất trong, tiếng hót dịu dàng, thanh thoát, có thể nói được tiếng người. Ca lăng tần già là tên của một loài chim quý, lông màu đen, mỏ đỏ, tiếng hót cực hay, êm ái, véo von hơn cả tiếng trời, thường sống thành cặp chẳng hề rời nhau, còn được gọi là Mỹ âm điểu, Diệu thanh điểu. Tiếng hót của loài chim này thường được ví như pháp âm của Phật. Theo Tuệ Uyển Am Nghĩa, quyển Hạ: “Ca lăng tần già là loài chim có tiếng hót rất hay, tuyệt diệu. Loài chim này vốn sống ở Tuyết sơn, tiếng hót hòa nhã, thánh thót, du dương, người nghe không biết chán”. Cộng mạng là một loài chim lạ, cực kỳ quý hiếm sống ở Tuyết sơn, với đặc điểm là tuy một thân nhưng có hai đầu nên còn gọi là Mạng mạng điểu hay Sanh sanh điểu.

Chim thần trong thần thoại cổ An Độ là Ca lâu la (Raguda), là chim thần cánh vàng. Loại chim này có hình dáng giống như đại bàng nhưng cực kỳ to lớn, thân thể rực rỡ như thần lửa, tính khí rất mãnh liệt, là vật cỡi của trời Tỳ Sắt Nô (Visnu). Trong kinh Phật, Ca lâu la là một loài trong Bát bộ chúng. Ca lâu la còn được phiên âm Yết lộ đồ, Già lâu la, Bá lỗ noa vv… dịch nghĩa Kim sí điểu (chim cánh vàng), Diệu sí điểu. Theo kinh Hải Long Vương, Kim sí điểu có sãi cánh rộng 336 vạn dặm, màu vàng ròng, khắp cõi Diêm phù đề chỉ vừa một chân của nó, có thể nuốt phăng một con long ngư thất bảo, mỗi ngày ăn hết một con rồng chúa và 500 con rồng con. Kim sí điểu thường trụ ở tầng dưới núi Tu Di, trên các đại thọ trong bốn Đại châu. Thức ăn chủ yếu của Kim sí điểu là loài rồng, cá…, khi ăn phát ra tiếng kêu bi thống, loài rồng rất kinh sợ sát thủ Đại bàng cánh vàng này. Theo kinh Niết Bàn, Kim sí điểu có thể ăn tất cả các vật, kể cả vàng bạc châu báu, ngoại trừ kim cương. Kim sí điểu có hai loại, một loại độc ác chuyên sát hại và một loại biết tu hành, thích nghe pháp và ủng hộ người tu hành. Đặc biệt Kim sí điểu vương được dùng để chỉ cho Đức Phật như Tượng vương, Ngưu vương. Kinh Cựu Hoa Nghiêm, quyển 36, Phật dạy: “Ví như Kim sí điểu, bay liệng trên hư không, dùng mắt thanh tịnh quán sát cung điện của Long vương, lấy hết sức mạnh của đôi cánh rẽ nước biển khiến nó tách làm hai. Biết con trai con gái của Long vương mệnh đã hết liền quắp lấy họ. Như Lai, bậc Chánh đẳng giác cũng như vậy, nếu thấy chúng sanh thiện căn đã chín muồi thì dùng hai cánh chỉ-quán rẽ nước biển sanh tử mà cứu độ”.

Như vậy, các loại chim như Bạch hạc, Khổng tước, Anh vũ, Xá lợi, Ca lăng tần già, Cộng mạng là chim bình thường, với đặc điểm là đẹp đẽ, quý hiếm và có giọng hót rất hay, sống ở An độ. Một vài loại như Bạch hạc, Khổng tước, Anh vũ có nhiều ở Việt Nam. Còn Kim sí điểu là chim “thần”, vì có cánh nên gọi là chim nhưng thực ra Ca lâu la thuộc vào loài quỷ thần, một loài trong Bát bộ chúng gồm: Thiên, Long, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la và Ma hầu la già.
 
Trở Về