GÓP Ý VỀ DVD"
CÁNH HOA THỜI LOẠN" CỦA TRUNG TÂM ASIA.
Trong cuộc chiến bảo vệ lý tưởng tự do, dân
chủ tại miền Nam Việt Nam trước 1975, ngoài nam giới, được coi là thành
phần quan trọng đóng góp vào sự sống còn của miền nam suốt hơn 20 năm;
thì phải nói là vai trò vô cùng quan trọng của giới phụ nữ, sự hy sinh,
kiên cường của họ cũng không kém nam giới trong công cuộc" bảo quốc an
dân", tiếp nối truyền thống bất khuất của Hai Bà Trưng, bà Triệu, cô
Giang, cô Bắc...với tôn chỉ: " giặc đến nhà, đà bà phải đánh". Được
chứng minh qua quá trình lịch sử, truyền thống của dân tộc Việt Nam,
khác hơn Hán Tộc, chỉ dành nhiều quyền hành từ:" tề gia, trị quốc bình
thiên hạ" cho nam giới một cách bất bình đẳng về mọi phương diện, như
câu:" nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô", nên mới có chuyện một thiếu
nữ tên Hoa Mộc Lan, muốn tham gia và việc nước, phải cải trang thành
nam giới để tòng quân.
Do đó trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, đã có khoảng
10 ngàn nữ quân nhân, phục vụ trong hầu hết các quân binh chủng, từ
tiền tuyến với các đơn vị tác chiến, đến hậu phương như ngành trợ tá,
xã hội, cảnh sát, tình báo....họ đã anh dũng chiến đấu, cũng hy sinh
một cách thầm lặng như bao chàng trai thời đại.
Ngoài ra còn có các bà vợ lính, mẹ lính, chị em
lính....cũng đóng góp không nhỏ công sức ở hậu phương: vẹn tình nhà, lo
con cái, cha mẹ già.... để chồng, con, em của họ được chút yên tâm trên
đường quân hành, diệt giặc, bảo vệ bờ cỡi, biên cương. Hình ảnh hào
hùng của người phụ nữ Việt Nam thời chinh chiến quả đáng khâm phục, nên
họ chẳng hổ thẹn qua hai câu thơ, như nam giới vậy:
" Sống trọn lòng trung cùng tổ quốc.
Chết tròn đạo nghĩa với
non sông".
Sau năm 1975, hầu
hết quân nhân cán chính thuộc
chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã bị bọn giặc hung hăng, bản chất tàn
bạo, tam vô, bọn chúng từ miền bắc vô đây và bọn ác ôn, khủng bố du
kích dốt nát từ bưng biền miền nam, cùng với bọn" nằm vùng" xuất đầu lộ
diện, ra tay hành hạ trong hệ thống tù đày dã man nhất trong lịch sử
nhân loại, nhưng luôn được ngụy trang là" trại cải tạo".
Trong hoàn cảnh bi đát và vô cùng đen tối ấy của đất
nước, thì người phụ nữ Việt Nam lại bị gánh chịu bao gian truân, thử
thách trước mắt, khi mà nhà tù LỚN, là cái xã hội mới, được mệnh danh
là: " xã hội chủ nghĩa", luôn đầy ác cảm, phân biệt đối xử của bọn Việt
Cộng bày ra để hành hạ những người đối đầu với chúng, trong đó có cả
gia đình, thân nhân do là tập đoàn ăn cướp, gian manh, phản dân, bán
nước, có truyền thống làm tay sai từ đế quốc Nga đến Trung Cộng gây ra.
Nhiều gia đình quân nhân cán chính đã bị lùa về
những vùng rừng thiêng, nước độc, vùng tử địa, được chúng mệnh danh là"
kinh tế mới" và đương nhiên là thành phố do mồ hôi nước mắt của dân gầy
dựng cả đời, bỗng chốc sau cuộc" đổi đời bi thảm" trở thành" chiến lợi
phẩm" cho lũ ăn cướp, tha hồ mà tịch thu, chia chác với nhau. Đó là bài
bản ăn cướp được che đậy bằng hai chữ" cách mạng", nhưng rồi cũng phơi
bày dã tâm qua lời nói của tên ác ôn Nguyễn Hộ:" nhà chúng ta ở, vợ
chúng ta lấy, con chúng ta bắt làm nô lệ", đó là thực trạng bi thương
cho dân miền Nam sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.
" Thành phố cũ, tràn ngập người chế độ mới.
Kinh tế mới, đày đọa
người chế độ cũ"
Đảng Cộng Sản Việt Nam" lạc hậu" kéo nhân loại quay
ngược về" thời kỳ đồ đá" đã chấm dứt hàng triệu năm, nay được lập lại
với chế độ" bộ lạc thời đại" của thời ăn lông ở lõa: thời bộ lạc,
thường xảy ra những cuộc chiến dành hang động, vùng săn thú.. Bộ lạc
thắng trận đã tàn sát hết trai tráng, hãm hiếp phụ nữ và bắt những
người còn lại, trong đó có con cháu kẻ bại trận, làm nô lệ suốt đời.
Ngày nay Việt Cộng làm hơn thế nữa, chúng còn bắt dân bán làm lao nô,
phụ nữ làm nô lệ tình dục tại nhiều nước trên thế giới.
Trong lịch sử đảng Cộng Sản Nga, tên hung thần
Lenin từng bị Nga Hoàng bắt cầm tù vì tội phản nghịch; tuy nhiên Nga
Hoàng còn nhân đạo, nếu ở Trung Hoa, thì bị tru vi tam tộc, thì còn
sống đâu để" làm cách mạng?". Trong thời gian Lenin ở tù, hắn nhìn thấy
thân nhân thăm nuôi mà đau lòng, nên than là:
" Người ở tù, không đau
khổ bằng những người đứng cạnh nhà tù".
Sau cái gọi là" cách mạng tháng 10 năm 1917" tại
Nga, Lenin và những tên Cộng Sản khác như Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh,
Kim Nhật Thành, Fidel Castro.... đã áp dụng lối tù đày" theo định hướng
xã hội chủ nghĩa", tức là người nào bị tù, được hưởng" chế độ nhà nước"
là: bị đói thường trực ( do lương thực không đủ ăn hàng ngày) để" biến
từ người xuống vượn, mất có 3 năm" so với quá trình" từ vượn lên người,
mất mấy triệu năm". Bịnh tật không thuốc men, thầy thuốc chăm sóc, nên
bịnh nhân có toa thuốc" khắc phục" là thần dược, nếu có thêm Kamycine,
là coi như tận diệt tất cả các loại siêu vi, vi trùng, khi bịnh nhân
hết thở sau khi dùng thần dược do Nga-Tàu chế tạo. Nơi ở hoàn toàn mất
vệ sinh, như nhà cầu rất ít so với nhân số, quần áo không có ( phải tự
túc từ gia đình). Lao động khổ sai, cũng ngụy trang bằng câu:" lao động
vinh quang, lao động tốt, cải tạo tốt, lao động là thước đo mức độ tiến
bộ)... để giết dần tù nhân bằng cực hành lao cải. Trong số nam tù nhân,
cũng có mặt những nữ quân nhân, họ cũng bị kẻ ác hành hạ dã man trong
ngục tù, nên" giặc đến nhà, đàn bà cũng bị bắt"; đó là cảnh quốc phá,
gia vong, xảy ra sau khi đất nước rơi vào tay giặc.
Sau cuộc đổi đời bi thương, nhiễu nhương dân lành,
lộ hẳn bản chất của một băng đảng siêu cướp:" cách mạng vùng lên để
giết người", biết bao phụ nữ thuộc gia đình quân nhân cán chính miền
Nam, dù không ở trong trại tù, nhưng tất cả đều bị phân biệt đối xử
trong" trại tù lớn" là xã hội, với các tên cai ngục là" ủy ban nhân
dân" ấp, xã, huyện, tỉnh, công an, cán ngố, cán dốt, những kẻ gọi là"
gia đình cách mạng" dựa hơi và có thêm bọn" ăn-ten" là" Việt Cộng ba
mươi"....là vua chúa, cường hào ác bá thời đại tại hầu hết các địa
phương. Người phụ nữ Việt Nam, dù không bị tù đày, nhưng cũng bị ảnh
hưởng nặng nề: thay chồng nuôi, dạy đàn con nhỏ, cha mẹ già yếu, chắt
chiêu từng lon gạo, đồng bạc để chờ đợt thăm nuôi.
Những
người vợ lính, công chức bị tù cải
tạo, từng đêm thao thức, nghe ngóng từ" bước chân lao cải, những đợt
chuyển trại"...thay vào hoàn cảnh, trước đây" từng đêm hồi hợp khi nghe
tiếng súng từ xa vọng về". Sau khi vượt thoát khỏi chế độ Việt
Cộng,
định cư tại các nước dân chủ Tây Phương, người phụ nữ Việt Nam cũng
đóng góp công sức nơi xứ lạ quê người, hy sinh mọi thứ, chấp nhận cực
khổ, để cùng chồng vừa lo làm kiếm ăn, vừa lo con ăn học thành tài, lo
gởi" chút quà cho thân nhân" còn kẹt lại quê nhà; người phụ nữ hải
ngoại lắng nghe từng hơi thở của cha mẹ già yếu, thân nhân qua đường
dây điện thoại" đắc nhất thế giới" của Việt Cộng, để kịp thời gởi tiền
về giúp đỡ...
Người phụ nữ Việt Nam chính là những chiến sĩ thầm
lặng" thắng không kêu, bại cam chịu" để chu toàn trách nhiệm, dù phải
gánh chịu bất cứ nghịch cảnh nào. Tuy nhiên, trong băng nhạc DVD 66, do
trung tâm Asia thực hiện, mang chủ đề CÁNH HOA THỜI LOẠN, là một băng
nhạc rất hay, gây xúc động, có ý nghĩa qua sự giới thiệu của các M.C,
phần trình bày của các ca sĩ....nhất là hình ảnh của những phụ nữ kiên
cường trong hàng ngũ Nữ Quân Nhân trước và sau năm 1975.
Nhưng trong
phần giới thiệu những" cánh hoa thời loạn", chương trình lại giới
thiệu" PHU NHÂN CỦA CỐ TỔNG THỐNG NGUYỄN VĂN THIỆU", bà đứng lên, gây
ngạc nhiên và bất bình cho một số người xem. Nhiều người thắc
mắc:
không biết bà tổng thống Thiệu đã làm gì đóng góp vào cuộc chiến bảo vệ
đất nước trước năm 1975?. Bà Thiệu đã có đóng góp gì cho cộng đồng
người Việt tỵ nạn hải ngoại kể từ ngày theo chồng" tháo chạy trước" để
sống yên lành, no ấm tại các nước dân chủ? Bà Thiệu có xứng đáng để
được" vinh danh" như những" cánh hoa thời loạn" không?
Sau khi kiểm nghiệm sự thất bại miền nam, thi ai
cũng biết là sau cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963 do đám tướng
phản loạn do trung tướng Dương Văn Minh cầm đầu, gồm có các tướng phản
như: Trần Thiện Khiêm, Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Mai Hữu Xuân, Đổ
Mậu....thời đó ông Thiệu chỉ mới mang cấp bậc đại tá, nhưng ông ta lại
là người đóng góp rất nhiều công lao, làm tư lịnh sư đoàn 5 bộ bịnh,
được ghi nhận là" đánh với quân phòng vệ thì giỏi hơn đánh với kẻ thù
Việt Cộng".
Chính nhờ lối đánh" khôn nhà dại chợ" nầy do đại tá Nguyễn
Văn Thiệu chỉ huy, mà Liên Đoàn Phòng Vệ Phủ Tổng Thống không cự lại,
nên cuối cùng, tổng thống Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu đành bỏ
đi nơi khác, sau cùng bị bắt và bị thảm sát dã man (đây là tội ác mà
những kẻ đảo chánh phải hoàn toàn chịu trách nhiệm với riêng gia đình
chí sĩ Ngô Đình Diệm và dân tộc Việt Nam, sau hậu quả cuộc phản loạn
ấy).
Nếu năm 1963, không có đảo chánh, thì Việt Cộng không thể
ngóc đầu nổi qua quốc sách ấp chiến lược thành công, kinh tế nông thôn
phát triển...Sau khi đảo chánh, đám phản tướng do Dương Văn Minh lãnh
đạo, bị ảnh hưởng sâu đậm từ đám" giặc thầy chùa" khối Ấn Quang với một
số" quân sư quạt máy đầu trọc thân hay Việt Cộng nằm vùng giả dạng làm
tu sĩ; do đó mà đám tướng tá phản loạn lại cố tình bỏ ngõ quốc sách ấp
chiến lược, đưa dần nông thôn mất an ninh. Ngoài ra đám phản tướng nầy
còn thả nhiều cán bộ Việt Cộng quan trọng như tên Nguyễn Ngọc Ban, tức
là Mười Hương về mật khu...như vậy, ông Thiệu là một trong những người
đã tạo thời cơ cho Việt Cộng được phục hồi lực lượng để sau nầy tiến
chiếm miền Nam.
Sau thời kỳ tranh quyền, từ cuộc chỉnh lý của trung
tướng Nguyễn Khánh, đến gã cư sĩ" Budhha Child" Thích Thịt Cầy" là Cẩu
Cao Cầy" nhờ thời cơ mà lên làm chủ tịch ủy Ban Hành Pháp Trung Ương,
đến năm 1967, ông Thiệu nhảy lên làm tổng thống và thành lập đệ nhị
Cộng Hòa, với hiến pháp ngày 1 tháng 7 năm 1967. Có thể nói là" thời kỳ
ông Thiệu cầm quyền, miền Nam suy yếu dần và sau cùng là cũng chính ông
Thiệu đã giúp Việt Cộng tránh được thiệt hại như trận Tổng Công Kích
Mậu Thân 1968: Việt Cộng nhờ ông Thiệu tạo thuận lợi qua những hành
động" trái với nguyên tắc chiến thuật và chiến lược", nếu không ngu
xuẩn, cũng mang ý đồ thâm độc, đưa đến sự thất thủ miền Nam chỉ trong
vòng 55 ngày:
-Ban lịnh Tái Phối Trí lực
lượng: với lịnh lạc bất nhất" sáng rút,
chiều tái chiếm", gây rối loạn quân khu 1, tạo cảnh cho trung tướng Ngô
Quang Trưởng trong việc điều quân, khi mà quân trong tay mình, đang
điều động, lại bị trung ương xen vào, phá hoại một cách ngu xuẩn, có
chủ ý. Nên nhớ là nguyên tắc và bài học chiến thuật được dạy các quân
trường như Võ Bị (Ông Thiệu từng thụ huấn, sau làm chỉ huy trưởng, giữ
những chức vụ quan trọng..), thì chiến thuật rút lui rất quan trọng,
phải có thời gian, nhất là rút lui cả quân đoàn, phải mất ít nhất vài
ba thắng, để bảo vệ an toàn quân ta, dân chúng, kho tàng, cơ sở...tránh
lọt vào tay địch...
-Trói chân trung tướng
Trưởng khi các đơn vị tổng trừ bị như Thủy Quân
Lục Chiến, Dù, Biệt Động quân...trở thành" bất khiển dụng" nên chỉ nằm
chờ VC đến thanh toán và " tiếp quản".
-Tạo rối loạn quân khu 1
và 2, gây nên cảnh chết chóc trên đại lộ kinh
hoàng, mang tên"di tản chiến thuật", là trách nhiệm của ông Thiệu đối
với quân cán chính, gia đình, dân chúng di tản theo.
-Ông Thiệu vô trách nhiệm,
sau khi gây ra tan tác cho quân đội, ông đã"
tháo chạy" trước và trở thành" chiến sĩ ra khơi" cùng với một số thuộc
cấp thân tín. Một điều đáng trách nữa là: suốt thời gian sống an nhàn ở
nước ngoài, ông Thiệu chẳng có chút lương tri, không hề đi thăm viếng
bất cứ trại tỵ nạn nào, trái lại vào năm 1980, ông ta còn tuyên bố khi
được các cơ quan truyền thông hỏi về vấn đề thuyền nhân bỏ nước ra đi
tìm tự do:" mấy
người đó đâu mắc mớ gì đến tôi".
Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn Thiệu đã từng mang dã tâm là muốn bán đứng
người Việt hải ngoại lần nữa, làm lợi cho Việt Cộng lần nữa: khi ông ta
bí mật hội đàm cùng với tên" đại tá Ngầu-Pín" thuộc" quân hại nhân
dân"; những thế lực ma quỷ nầy gọi là" Hội đàm Paris 2", rồi sau đó
chính ông Thiệu và một số thuộc cấp thân tín,
vào năm 1997, cho ra đời
cái tổ chức gọi là:" Phong Trào Xây Dựng Dân Chủ và Tái Thiết Đất
Nước", nhìn cái tựa đề tổ chức, ló ngay cái đuôi chồn" hòa hợp hòa giải
với đảng cướp Việt Cộng, theo định hướng xã hội chủ nghĩa".
Một điều đáng lưu ý là: trước khi đi lính, ông Thiệu
vốn là một huyện ủy thời Việt Minh, mà sau nầy, ai cũng rõ là tổ chức
nầy trở thành công cụ cho đảng Cộng Sản Việt Nam, do tên quốc tặc Hồ
Chí Minh cầm đầu, đã" quá độ" tình yêu nước dân chúng gắng liền với" xã
hội chủ nghĩa" để phục vụ quyền lợi quan thầy Nga-Tàu mà thôi.
Được biết, năm 1924, tên Việt gian Hồ Chí Minh mò sang Nga, được
quan thầy ban đặc ân cho học một khóa khủng bố, tuyên truyền, thủ đoạn
gian manh, kỷ thuật lừa đảo tại trường Công-Nông, hắn tâm đắc nhất một
tài liệu học tập là" quyển Tỉnh Ủy Bí Mật", nên hắn chú tâm đến việc tổ
chức" hạ tầng cơ sở" từ tỉnh, huyện, xã... để phát triển tà thuyết Cộng
Sản, bành trướng thế lực Liên Sô tại Á Châu, theo lịnh quan thầy.
Thời đệ nhất Cộng Hòa, tổng thống Ngô Đình Diệm chú tâm đến mặt trận"
đấu tranh chính trị" nên ngành Tâm Lý Chiến được nhiều quyền hạn trong
công tác: mỗi khi có một quân nhân ngành Tâm Lý Chiến đến các tiểu khu,
được các giới chức địa phương tiếp đón, không dám coi thường.
Thời đệ nhị Cộng Hòa, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, là
người từng hoạt động trong hàng ngũ Việt Minh, đáng lẽ ra, ông ta phải
biết vai trò vô cùng quan trọng của ngành Chiến Tranh Chánh Trị, được
huấn luyện kỷ lưỡng về trình độ văn hóa, kỷ năng chống lại tà thuyết
Cộng Sản. Ông Thiệu thừa biết chức" chánh trị viên" tại các đơn vị từ
cáp đại đội và tiểu đoàn thời Việt Minh là rất quan trọng, quyền hạn
nhiều. Thế nhưng ông Thiệu lại không sử dụng tiềm lực nầy, hình như ông
có" ý đồ" thâm độc, là:" không muốn đánh Việt Cộng, như thời làm tư
lịnh sư đoàn 5: " nổi tiếng sau vụ đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963:" đánh
quân ta giỏi hơn đánh với Việt Cộng".
Cho nên, thời ông Thiệu làm tổng thống kiêm tổng tư lịnh quân đội,
ngành Chiến Tranh Chánh Trị bị bạc đãi nhất trong các quân binh chủng,
họ chỉ làm phó như: đại đội phó, tiểu đoàn phó, tham mưu phó..", dù có
Trường Đại Học Chiến Tranh Chánh Trị, thành lập từ năm 1966, đến năm
1975, được 6 khóa, là nơi đào tạo nhiều cán bộ có khả năng về văn hóa
có trình độ đại học, lẫn khả năng quân sự (được thụ huấn quân sự tại
Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam).
Các sinh viên từ trường Đại Học Chiến Tranh Chánh Trị, mang lý tưởng
quốc gia, tình nguyện, thi tuyển...nên được trang bị vũ khí tư tưởng,
có khả năng đối đầu với tà thuyết Cộng Sản một cách hữu hiệu; thế nhưng
khi ra trường, đa số bị sử dụng sai và gần những tháng cuối cùng, họ bị
đưa đi làm phân chi khu phó, là lối" nướng quân" sau cùng của ông Thiệu.
Nhiều nghi ngờ về cách hành xử của ông Thiệu, gần giống như là một"
siêu điệp" như: vụ nhận dễ dàng cụm tình báo chiến lược A-22 vào Dinh
Độc Lập nằm vùng, trong vai trò cố vấn an ninh ( một trung tướng, có
nhiều kinh nghiệm chiến trường, tình báo, lại dễ dàng nhận một số kẻ
không phải là quân nhân, có kinh nghiệm vào làm chức cố vấn an ninh cho
mình, thật đáng nghi ngờ).
Một điều nguy hiểm khác là: tên Huỳnh Văn Trọng cùng đồng bọn, có kế
hoạch vận động với ông Thiệu để tiếp quản miền nam" trong vòng trật tự"
khi chúng được ông giao cho nắm những chức vụ quan trọng như thủ tướng,
những tên khác nắm những chức vụ như bộ trưởng nội vụ, bộ trưởng kinh
tế, giám đốc cảnh sát...nếu không có ngành cảnh sát đặc biệt phát giác,
thì tác hại của cụm tình báo A-22 khôn lường, với nhiều người quốc gia,
tướng lãnh, bị tàn sát bằng chính luật lệ của nền đệ nhị Cộng Hòa, thật
là" gậy ông đập lưng ông".
Theo như kế hoạch của cụm
tình bao A-22, lợi dụng việc cải tổ nội các,
chúng dự định" tiếp thu" luôn bộ máy đầu não miền Nam với những chức vụ:
- Thủ tướng: Huỳnh Văn Trọng
- Bộ Trưởng Nội Vụ: Vũ Ngọc Nhạ.
-Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia: Lê Hữu Thúy.
- Bộ trưởng Thông Tin: Bùi Nhượng Thắng.
- Bộ trưởng kinh tế tài chánh: Nguyễn Xuân Hòe....
Ngoài ra Hà Nội còn phối hợp công tác với luật sư Trần Ngọc Liễng, dân
biểu Lý Quí Chung... để thành lập cái gọi là" chính phủ ba thành
phần"...
Quân lực VNCH lừng danh kiên cường, dũng cảm, nhưng tất tiếc là cấp chỉ
huy như ông Thiệu, làm tan hàng một cách tức tưởi. Do đó ông Thiệu
không xứng đáng là một binh nhì, huống chi là trung tướng trong quân
lực VNCH. Người ta thường cho là: " đàng sau sự thành công của người
đàn ông, có bóng dáng của người đàn bà". Như vậy, đàng sau ông Thiệu,
có bà Thiệu, là người đàn bà sung sướng, từng là" đệ nhất phu nhân"
miền Nam, hưởng nhiều tiện nghi vật chất nhất trong những phụ nữ khác.
Người viết bài nầy có người bạn tù rất thân là thiếu úy Nguyễn
Thanh Liêm (*), sau trận An Lộc 1972, thuyên chuyển về Phủ Tổng Thống,
làm trong cục bảo vệ. Anh Liêm có người tình, là cô giáo ở Tây Ninh,
nhưng sau 1975, anh bị tù, thế mà cô giáo ấy vẫn đi thăm nuôi đều đặn,
chờ ngày người tình về, tròn mộng ước ban đầu. Hình ảnh cô gái ấy là
tấm gương tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam, quả xứng danh là" cánh
hoa thời loạn".
Trong thời gian ở chung trong tù, cùng đội lao động, ăn cơm chung tổ
với anh Liêm, được anh cho biết là: bà Thiệu rất phung phí, mỗi lần bà
bảo" đi chợ" tức là đi chợ Bangkok, chớ không phải chợ Bến Thành...hay
bất cứ khu chợ nào tại Sàigon. Ngay cả bà Thiệu thèm ăn me, cận vệ cùng
với bà lên máy bay đi Bangkok, vì bà không thích ăn me Việt Nam, thật
là quá đáng. Trong khi đó, tại những tiền đồn hẻo lánh, các vùng nông
thôn...biết bao bà vợ lính chắc chiêu từng đồng lương lính để lo những
bửa ăn đạm bạc cho chồng, con, như vài câu thơ của một người lính,
trong DVD" Lá Thư Chiến Trường" như:" được ăn cũng là may, có khi ba
bốn ngày, không ăn và không uống".
Những ai từng" trấn thủ lưu đồn" trong các đơn vị nghĩa quân, địa
phương quân, mới thấy sự hy sinh cao cả của các bà vợ lính: bình thường
lo cơm nước cho chồng, lúc địch tấn công, lo tiếp đạn và khi chồng ngã
gục, tiếp tục cầm súng chiến đấu cho đến hơi thở cuối cùng. Những lúc
đồn bị bao vậy, gạo tươi lẫn gạo sấy cạn kiệt, những bà vợ lính đành
phải hái cả cải trời, rau muống đồng, đọt lan... mọc hoang trong đồn,
luộc, chấm với muối hay nước mắm, xì dầu, để chồng có những bửa ăn tạm
thời, có sức mà đánh giặc, chờ quân tiếp viện đến giải vây.
So với tấm gương cả vợ cố trung tướng Nguyễn Viết Thanh, thì bà Thiệu
chẳng xứng đáng" xách dép" cho người phụ nữ nầy: theo lời kể của trung
tá Lại Văn Tiền ( sĩ quan phòng nhân viên, quân đoàn 4) kể lại cho các
anh em tù sau 1975 ở Chi Lăng như sau: lúc trung tướng Nguyễn Viết
Thanh làm tư lịnh quân đoàn 4, bà vợ phải nuôi heo trong dinh tư lịnh
để phụ thêm tiền lương. Có một anh lính gác cổng, có lòng tốt, nhìn
thấy bà tướng, hàng ngày nấu cháo heo, làm việc cực khổ, nên sau giờ
gác, anh tình nguyện làm giúp bà. Một hôm, tình cờ ông tướng Tư Lịnh
về, thấy vậy, bèn gọi anh lính tốt bụng tới và nói là:" đây không phải
là nhiệm vụ của anh, nếu anh làm như vậy lần nữa, tôi sẽ thuyên chuyển
anh đi nơi khác".
Quả phụ của đại úy Quách Dược Thanh là bà Giao Kim Kiều, vốn là
một nữ quân nhân, sau đó giải ngũ vì có đông con, bà lo buôn bán tảo
tần để nuôi đàn con trong khi chồng đang phục vụ trong quân đội. Sau
ngày 30 tháng 4 năm 1975, bà gặp bao khó khăn do bọn ác ôn Việt Cộng
phân biệt đối xử và chồng bị sát hại dã man trong trại tù Vườn Đào. Bà
cắn răng chịu đựng, sau đó dắt 4 đứa con dại vượt biển tìm tự do, nay
định cư ở Hoa Kỳ, các con đã thành đạt...Như nữ đại úy Nguyễn Thị Bé
Bảy, dù di tản năm 1975, nhưng bà vẫn hăng say hoạt động, cùng chồng là
ông Bùi Dương Liêm, thực hiện chương trình truyền hình tại vùng Hoa
Thịnh Đốn từ hơn 20 năm qua.... được biết chị Bé Bảy cũng có đứa con
gái, nối nghiệp cha mẹ, nay là nữ thiếu tá không quân Hoa Kỳ, chị Bé
Bảy tự hào:" ba đời mang giày sô"
Đây chỉ là một số những câu chuyện nhỏ, để vinh danh biết bao phụ
nữ kiên cường, từ binh nhì đến cấp tướng, là những tấm gương sáng mà
hậu thế noi theo. Tuy nhiên, bà cựu đệ nhất phu nhân Nguyễn Văn Thiệu
là không phải là" cánh hoa thời loạn", bà cũng như ông Thiệu, thật như
câu" nồi nào vun nấy", đúng với câu:
" Thời đương quyền, bổng lộc cao sang.
Khi hữu sự, đâm đầu chạy
trước"
Do đó, trung tâm Asia, sau khi giới thiệu đa số là
những anh thư nước Việt, xứng đáng là" cánh hoa thời loạn" thì lại giới
thiệu bà Thiệu, khiến người thưởng thức dĩa DVD bị khựng lại, như đang
ăn dĩa cơm chiên ngon, mà lại thấy" con dán" nằm dưới đáy chén, hay
đang nhai cơm mà cắn trúng cụt sạn.
Người ta dễ tha thứ nhau do sơ xuất, với câu:" nhân vô thập toàn". Tuy
nhiên, nếu việc làm có chủ ý thì khó chấp nhận, tha thứ, như vụ nhà văn
Ngã Ba Ông Tạ với DVD lừng danh" đánh phá quân lực VNCH" là B-40, do
trung tâm Thúi Nga cố tình tung ra để thăm dò phản ứng dư luận người tỵ
nạn, để chuẩn bị" tiến công" vào mặt trận văn hóa vận trong tương lai.
Như vậy, chuyện trung tâm Asia, giới thiệu một" cánh hoa thời loạn Dỏm"
là có chủ ý, hay là bị áp lực nào? Cho nên từ nay, trung tâm Asia nên
cẩn trọng trong việc vinh danh những người xứng đáng, bằng không dễ trở
thành trò hề và gây nên phản tác dụng, làm hỏng cả một băng nhạc
công phu, có giá trị, nếu Asia còn muốn nhận được sự ủng hộ của
đồng bào tỵ nạn hải ngoại lâu dài. Cũng như trong DVD vinh danh nhạc sĩ
Anh Bằng, trung tâm lại đưa nhà văn Toàn Phong, đại tá, khoa học gia
Nguyễn Xuân Vinh lên phát biểu. Được biết, từ ngày đại tá Nguyễn Xuân
Vinh tham gia, thành lập ra thêm" Hội quân nhân quốc doanh", bị ảnh
hưởng từ băng đảng Việt Tân, thì tập thể quân nhân quân lực VNCH bị"
chia thành hai phe", gây phân hóa tình" huynh đệ chi binh", cũng là tựa
đề bài hát, tâm tình của nha sĩ Anh Bằng thời các phản tướng tranh
quyền sau đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963. Do đó, gần đây, ngày quân lực
19 tháng 6 hàng năm được tổ chức hai nơi, làm đau lòng lính lắm quí vị
ơi!
Đây chỉ là ý kiến đóng góp, trong tinh thần
xây dựng, để tránh những sai phạm" không cần thiết" trong tương lai,
biết đâu sau nầy, trong một buổi ca nhạc, bỗng có mặt của nguyên, nay
là cựu" đệ nhất phu nhân" của Chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương
Nguyễn Cao Kỳ là Đặng Tuyết Mai ngồi hàng ghế danh dự, chẳng lẽ trung
tâm Asia lại giới thiệu với niềm ưu ái như bà Thiệu hay sao?. Xin trung
tâm nên dẹp bỏ cái tiền lệ nầy để tránh những bất lợi sau nầy. Được
biết trước đây, có lần bà Đặng Tuyết Mai cũng được Trung Tâm Asia mời
làm M.C, cũng vun vít nói năng, nhưng sau nầy thì đã trở về Việt Nam
lập quán phở, với hơn 40 năm kinh nghiệm" nấu phở", hy vọng trở thành
tiệm phở BỐN TỐT:" nước lèo tốt, thịt tốt, ra tốt và người tiếp thị
tốt", nhằm" nâng cao chất lượng: nấu phở" của một cựu đệ nhất phu nhân,
phục vụ nhân dân và đảng bác./.
Trương Minh Hòa
09.09.2010
*
NHẮN TIN:
Thiếu úy Nguyễn Thanh Liêm, trước năm 1972, phục vụ ở sư đoàn 5 bộ
binh, sau thuyên chuyển về Khối Cận Vệ, Phủ Tổng Thống. Sau năm 1975 ở
tù, năm 1979 đến trại tù Xuyên Mộc, khu C, ở buồng giam C-3, đội 32 (
do tù nhân Trịnh Ngọc Luyện làm đội trưởng), có người tình là cô giáo ở
Tây Ninh, một lòng chung thủy, đi thăm nuôi trường kỳ. Hiện giờ bạn ở
đâu? Nếu được tin nầy, hảy liên lạc với Trương Minh Hòa, biệt danh" Ông
Đạo Hòa", qua địa chỉ của " Tinparis", rất mong nhận được tin bạn.