Bài 4 : những
người Bạn Việt của CSVN tại Mỹ
- John KERRY, một
thời là ứng
cử viên tổng thống Mỹ ( 2004 )
Lãnh tụ của phong
trào nhân dân liên hiệp đòi hòa bình và công lý,
(People coalition for peace and justice, PCPJ) cũng như của VVAW,
(Vietnam veteran anti war).
-Thích Nhất Hạnh.
-Võ
văn Ái.
-Huỳnh
tấn Mẫm.
-Đỗ
Hoàng Điềm, chủ tịch đảng Việt Tân ( Tinparis chú thích : Băng Đảng Việt Tân )
Dự luật HR 2833, là dự luật Nhân quyền cho Việt Nam, đã được Hạ viện Mỹ
thông qua, với một số nghị viên bỏ phiếu thuận đặc biệt cao : 410/1.
Nhưng Thượng viện Mỹ đã không có cơ hội duyệt xét dự luật này.
Trong suốt mấy năm, nó đã bị chôn cất bởi Ủy ban Tuyển lựa của Thượng
viện về các tù binh Mỹ và các người mất tích khi thi hành công vụ,
(POW/MIA) .
Nó đã
không được đưa lên Thượng viện Mỹ để biểu quyết vì người bạn Mỹ
của VC tại Mỹ đã tìm cách giết nó, đó chính là TNS John Forbes Kerry,
chủ tịch của Ủy ban.
Trong bài nói chuyện trước ( bài số 1 ) , đã nói đến buổi họp điều trần
về nhân quyền tại Việt Nam diễn ra vào đầu năm 2008 tại thượng
viện, lúc đó TNS John KERRY ( đảng dân chủ ) không còn là chủ
tịch nữa mà đã thay phiên qua nghị sĩ khác tức là bà TNS Barbara BOXER.
Trong phiên họp kỳ này,
năm 2008, có sự hiện diện của ông TNS dân chủ
Jim WEBB.
Khác với TNS KERRY, ông Jim WEBB, tuy là cùng đảng dân chủ, nhưng lại
rất ưu ái đến tình trạng các quân cán chính của VNCH còn đương bị CSVN
thống trị qua chính sách « phân biệt đối xử », ông tỏ
ra quan tâm về chính sách kỳ thị này , về cách đối xử bất công của CSVN
đối với các quân cán chính của quân lực VNCH còn sống tại Việt
Nam.
Và
ông phải sững sốt và kinh ngạc khi nghe những lời lẽ của ông Đỗ
Hoàng Điềm (ĐHĐ), chủ tịch ( Băng) đảng Việt Tân, khi ĐHĐ được
hỏi về
hiện trạng (năm 2008) của chính sách « phân biệt đối xử » đó
của CSVN.
Những chữ ông ĐHĐ dùng để
trả lời là : « … fade away… »,
muốn nói rằng sự kiện đó đã hầu như không còn
nữa từ thập niên 90. (Xin
xem chú thích ở cuối bài)
Khoảng cách từ 2002, khi dự luật về nhân quyền tại Việt Nam chớm nở tại
Hạ viện Mỹ, đến năm 2008 khi lên đến Thượng Viện Mỹ là 6 năm, thời gian
này đã cho phép Cộng Sản Việt Nam dàn dựng một số kịch bản thích hợp,
để ông ĐHĐ có cơ hội phát biểu : « … fade away … ».
Những lời ĐHĐ nói ra, như
muốn « khép lại quá khứ », như muốn
thế lời (?) kết luận tốt cho kịch bản của CSVN
Những
lời này đáng được ghi vào lịch sử đấu tranh của ... những ai đã
và đang lên tiếng biện hộ, bào chữa, bênh vực cho CSVN và chế độ toàn
trị của nó.
Trong đó có các người bạn Việt của VC tại MỸ, ít ra là hai người còn
đương mang phẩm chất công dân Việt Nam Cộng Hòa, điển hình là
ông Võ
vãn Ái, và một người thứ hai được biết đến dưới pháp danh:
Thích Nhất
Hạnh.
Dĩ nhiên, cũng có các người
bạn Việt
của CSVN tại Việt Nam Cộng Hòa,
điển hình như
Huỳnh tấn Mẫm, nhân
danh và đại diện cho sinh viên Miền
Nam, đã ký kết với các phong trào phản chiến Mỹ, đặc biệt qua lá thư
lên án VNCH, kêu gọi nhân dân Mỹ bỏ VNCH. Cậu sinh viên y khoa, Huỳnh
tấn Mẫm đã đưa lá thư đó cho Don Luce cầm tay đem về Mỹ để trao lại cho
các phong trào phản chiến. (Huỳnh tấn mẫm đã ký vào cái « joint
treaty of peace, between the people of the united states, south
Vietnam and north Vietnam » mà J. KERRY là người đầu tàu)
Hiện nay,
các phong trào phản chiến chống chiến tranh VN tại Mỹ vẫn còn
đang hoành hành và vẫn còn có thế lực, vẫn còn có tác dụng, như sư kiện
TNS KERRY ra công che dấu, đình trệ để một dư luật bất lợi cho CSVN
không được Thượng viện MỸ duyệt xét vào đúng thời điểm.
Những loại người, những loại phong trào như thế, chúng ta cũng đã từng
thấy tại Mỹ, qua vai trò chủ yếu của Thích Nhất Hạnh ( thành phần thứ
3) , hỗ trợ cho phong trào phản chiến chống chiến tranh Việt Nam
mà thủ lãnh là TNS J. KERRY, vào những năm từ 65 đến 75, với
phong trào nhân dân liên hiệp đòi hòa bình và công lý, (People
coalition for peace and justice, PCPJ) cũng như VVAW, ( Vietnam veteran
anti war ).
Cái « công lý » mà những người này đòi hỏi,và TỎ
VẺ THIẾT THA, lẽ ra họ phải tự áp dụng cho chính họ thì đó mới đúng là
công lý, nhưng không, chuyện đó đã không hề xẩy ra … Tỵ
nạn, thuyền nhân, các trại cải tạo, các sự giết chóc, nghèo đói, bất
công, ... biết bao nhiêu là điều mà những nhà "công lý" đó không muốn
biết đến hay biết đến mà cho rằng là không có ...
- Có ai trong bọn
người này đã lên tiếng ?
Ngay như ông thiền sư TNH, nổi tiếng toàn cầu, cũng im miệng đồng lõa
từ bao nhiêu năm nay, "ngài" thiền sư chỉ khai khẩu khi thấy quyền lợi
của mình tại Việt Nam bị mất mát.
Sự dối trá không chịu đựng nổi sự thử thách của thời gian và lịch sử,
cho nên,cũng như những thức ăn giả dối không thể nào tiêu hóa được, vì
thế mà cơ thể đã phải nôn mửa ra trở lại.
Nhiều tài liệu, có được
trong những năm chiến tranh, bắt được từ phe
CS, từ tay đối phương, từ những năm 1971 , 1972, chính VC và CSBV, nói
rõ sự liên hệ , sự yểm trợ của họ đối với phe phản chiến trong và
ngoài Việt Nam, họ nói rõ sự phối hợp hành động, với các chiến
hữu của
thành phần thứ 3, các chiến hữu của " hòa bình ", các chiến hữu đòi hỏi
Mỹ phải cút đi, để tiện đường cho CS xâm lăng miền Nam.
Chính
TNS J. KERRY cũng không chối được trước những bằng cớ của FBI về
mối liên hệ của ông với Bà Nguyễn thị Bình (NTB), ông đã qua Ba Lê để
gặp NTB.
Ít ra là 2 lần trong những năm tháng vào lúc đương diễn ra cuộc hòa đàm
Ba Lê, nhằm phối hợp hành động, Phe phản chiến hỗ trợ VC bằng cách gây
áp lực tại nội địa xứ Mỹ.
Họ liên kết với các hiệp hội phản chiến khác như F.O.R, (the fellowship
of reconciliation) phía Mỹ,
Phía người việt thì có ông
Võ văn Ái
(VVA)với những buổi thuyết trình,
lưu diễn trên đất Mỹ, với đề tài mang tựa đề thời
cơ: « people of Vietnam demand peace », và trong khi đó
cơ quan F.O.R tạo cơ hội để gặp các dân cử Mỹ, thì là lúc VVA trổ tài
triển khai các đề tài phản chiến, ngưng bắn, hòa bình, v.v ., còn
Thích Nhất Hạnh (TNH) thì
dốc lòng cung cấp những gì cần thiết cho các
nhân vật phản chiến Mỹ như Don Luce, và các dân cử MỸ chống chiến tranh
VNCH, với mục tiêu cắt bỏ viện trợ của Mỹ đối với VNCH.
Và
người công dân Việt Nam Cộng Hòa thời ấy, tức ông Thích Nhất Hạnh,
đạt thành công quả , sau khi đã dồn sức vào năm 1974 khi có cuộc biểu
quyết liên hệ về ngân sách tại quốc hội Mỹ, tài khóa 1975 nhằm cắt bỏ
viên trợ cho VNCH,
trích
dẫn tài liệu yểm trợ của Thich nhât Hạnh, dưới danh nghĩa của
phái đoàn Phật giáo Việt nam cho Hòa Bình
Các
phe phản chiến đã thành công và đã đạt được mục tiêu của họ:
tiêu diệt mọi nguồn trợ lực cho VNCH (đó cũng là mục tiêu chính của
TNH, VVA, phe thành phần thứ 3, MTGP, VC và dĩ nhiên CSBV) và năm
sau là năm của ngày 30 tháng 4/1975.
Đó là do công lớn của các phe phản chiến Việt ( tại quốc nội và quốc
ngoại ) cũng như các phe phản chiến Mỹ, của những phe thành phần thứ 3,
của những phe đòi hòa bình, đòi hỏi Mỹ cút đi, để cho CSVN rảnh tay xâm
chiếm, thực hiện bá đồ của Cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế. Họ đã có công lớn
đối với CS xâm lược để thiết lập ngụy quyền công sản tại miền Nam.
Thiết nghĩ rằng Hà nội, CSVN, đã có tưởng thưởng các người bạn Mỹ của
họ, như KERRY hay Jane FONDA tại viện bảo tàng những tội ác chiến tranh
Mỹ-Ngụy.
Tổng bí thư Đổ Mười đã có lời ban khen rằng đảng CSVN đã thẳng thắn
nhìn nhận rằng sự đóng góp của TNS J KERRY và phong trào phản chiến của
ông như là một sự đóng góp trực tiếp, tối ưu, góp công vào thắng lợi 30
tháng 4/ 1975 của CSVN.
Thế sao Hà nội lại không
nhắc đến những người bạn Việt phản chiến của
mình, có phải như người ta thường nói rằng CS hay vắt chanh bỏ vỏ !
Vậy
thì TẠI SAO ? lại có cái chính sách đãi ngộ « phân biệt
đối xử » đối với cùng một công trạng, giữa những người bạn Việt và
những người bạn Mỹ, cả hai đều có công lớn đối với chế độ CSVN ?
(Đối với những chuyện đã « đi vào quá khứ », CSVN vẫn cứ nói
đi, nói lại là phải « khép lại quá khứ », phải chăng phải
hiểu rằng, đó là khép lại quá khứ theo cách « phân biệt đối
xử »)
Có hai câu trả lời về
lối CS dùng để đãi ngộ các người bạn của
mình: Việt hay ngoại quốc, trong hay ngoài nước.
1 / Chủ thuyết Cộng
Sản là một thứ chủ thuyết vọng
ngoại và ngoại lai, luôn cần đến ngoại bang, cái tên " Việt Gian Công
Sản " là đúng tên gọi cho nó,
2 / Vì còn có chỗ dùng, nhằm duy trì chế độ nên
mới
còn nuôi dưỡng một số đối tác Việt ở ngoại quốc… hay ở quốc nội.
Trương Tấn Trung
Ngày
05.11.2009
…( còn
tiếp
)
Bấm vào đây để xem các bài
| 1 | 2 | 3 |
4
| 5 | 6 | 7 |
Chú Thích
. Chúng
ta biết rằng buổi họp nầy rất quan trọng cho chánh sách của Mỹ đối với
CSVN , nhất là vũ khí " nhân quyền " và "tự do tôn giáo " .
Làm sao chứng minh Việt Nam không
có tự do tôn giáo được khi Nhất Hạnh dẫn đoàn đệ tử phu thê của
mình (
hàng trăm người ) đi từ Nam ra Bắc để cho thế giới thấy ? hàng ngàn
tăng ni tự do ra vào trong nước , xây cất chùa chiền nhan nhản mọi nơi
? Dưới con mắt người Tây Phương , không cách nào chứng minh cho
họ thấy là có đàn áp tôn giáo.
Vấn đề tranh chấp đất đai của Giáo Hội Thiên Chúa tại Việt Nam,
đối với các chánh phủ " Đông Âu " như Ba Lan, Tiệp, Hung gia Lợi
thì họ coi chuyện đó là bình thuờng. Họ cũng chưa giải quyết đưọc
các vấn đề đó của họ. Tuy nhiên , hình ảnh bọn Công an CSVN đánh đập
linh mục và giáo dân chỉ mới cho thấy là CSVN có đàn áp Thiên Chúa
Giáo. Nếu tất cả mọi tôn giáo khác như Phật Giáo, Hòa Hảo , Cao
Đài đứng lên đòi hỏi công lý và tự do thì họa may thế giới và Hoa
Kỳ mới đặt lại vấn đề!
Riêng về Nhân Quyền, qua
sự phát biểu của Đỗ Hoàng Điềm, chủ tịch của
Băng Đảng Việt Tân, cho rằng " chánh sách phân biệt đối xử
" của CSVN đối với quân nhân cán chính Việt Nam
Cộng Hòa đã biến mất dần dần từ thập niên 90.
Điều đó là
một điều " nói láo "
để bênh vực chế độ CSVN vì chúng ta
đừng quên là Băng
Đảng Việt Tân đã xác định là " Đảng CSVN và Hồ chí Minh " có công với
dân tộc và Đất Nước Việt Nam. Sau đó Đỗ Hoàng Đièm viết
thư xin
đính chánh với TNS Jim Webb về lời phát biểu đó ( thì được ông
Jim WEBB không trả lời ). Thật ra đó chỉ là xảo thuật để đánh lừa dư
luận Cộng Đồng Việt Nam vì khi các nhân chứng điều trần trước Ủy Ban
Thượng Viện thì biên bản đã được ghi trên giấy trắng mực đen rồi. Làm
sao thay đổi được ? Ngoài ra ĐHĐ còn viết thư biện bạch cho rằng
mình không có ý muốn nói như vậy , thì Băng Đảng Việt Tân (
tức CSVG) đã coi thường Cộng Đồng VN Hải Ngoại . Ai còn ngu và
ham
tiền thì cứ theo bọn chúng như Nguyễn Cao Kỳ et Cie,v.v.
Chính vì có những tay sai và cò mồi của CSVG , núp dưới chiêu bài chống
Cộng , đòi xin miếng ăn của CSVN nên Cộng Đồng Việt Nam Quốc Gia tỵ nạn
Cộng Sản chúng ta mới chia rẽ và tan nát như ngày hôm nay . Đó là một sự thật đau lòng mà chúng ta phải
có can đảm nhìn nhận . Bọn Mặt Trận Hoàng Cơ Minh và băng đảng
Việt Tân đã " phá hủy niềm tin " của Người Việt Quốc Gia ngay từ lúc
đầu, để xây dựng " kho tàng " của chúng.
Võ văn Ái, Thích Nhất Hạnh là những kẻ đã " tiếp tay với CSVN "
để bức tử VNCH khi chúng vận động với Quốc Hội Mỹ để " trói tay VNCH
" trong khi đó thì Liên Xô và Trung Cộng viện trợ ào ạt cho Bắc
Việt Hà Nội.
Tài liệu lịch sử còn đó , không cách nào xóa được , họa chăng chỉ để
ghi công " cách mạng " cho chúng trong lịch sử của Đảng Cộng sản Việt
Nam trước và sau 1975 !
- Thơ
Đỗ Hoàng Điềm gởi TNS Jim Webb để đính chánh câu nói của mình là
" không chính xác " , đây chỉ là một tiểu xảo thôi ,nhằm lường
gạt cộng đồng VN Hải Ngoại !