Hoa-Kỳ và những công-ty quân-sự tư.   - Nhữ đình Hùng chuyễn ngữ -

  • Vào đầu thập-niên 90,theo sau việc chấm dứt chiến-tranh lạnh là việc tràn ngập các công-ty quân-sự tư (SMPs) tân tiến,một sự thay đổi trong bản-chất chiến-tranh và là khuynh-hướng chung về việc tư-nhân hoá các chức-năng chánh-quyền.

Từ 11 tháng chín và cuộc xâm-lăng Irak,sự lớn mạnh của kỹ-nghệ này có thể cảm-nhận được. Mặc dù có những ngược đãi đối với các tù-nhân ở Abu Ghraib và có những nhân-viên bị thiệt-mạng ở Pallujah,các SMPs ( Sociétés militaires privées) vẫn còn là một hiện-tượng không được hiểu rõ .Nhiều câu hỏi liên-quan đến cơ cấu tổ chức, việc giám-thị, và ảnh-hưởng đụng đến các lực-lượng quân-sự vẫn còn đó.Để bảo-đảm việc sử-dụng các SMPs không gây tác-hại đến chánh-sách công hay cho nền dân-chủ,các chánh-quyền cần phải đi đến chỗ thông-hiểu một các sâu xa kỹ nghệ quân-sự tư đang phát-triển này.

  • Một lực-lượng rõ ràng là có thực.

Con số đông đảo các SMPs,ngân-khoản chi-tiêu gia tăng cho việc tư-nhân hoá,và việc mở rộng các chức-năng,cho thấy các SMPs đã trở thành một lực lượng chiến-tranh đáng kể.Thực sự,Hoa-Kỳ không thể lâm chiến mà không có họ.

Những lượng-định về số nhân-viên tư được dùng ở Irak bất nhất. Vào năm 2006,cơ quan CENTCOM lượng-định con số này là 100.000.Cũng trong năm đó,giám-đốc của Private Security Company Association ở Irak lượng định là 181 SMPs làm việc ở Irak đã xữ dụng khoảng 48.000 người. Vào năm 2007,một cuộc kiểm tra nhân số nội -bộ của Département de la Défense 5DD) đã tìm ra gần 180.000 nhân-viên tư làm việc dưới khế ước tại Irak,cùng lúc với 160.000 binh sĩ Mỹ.Con số này bị coi là quá thấp,vì đã không kể đến những SMPs rất quan-trọng và làm việc dưới khế-ước với Bộ Ngoại Giao..

Thế nên,sau năm năm chiến-tranh,không ai có được số liệu chính-xác về số SMPs ở tại Irak.Những số liệu khác nhau do phương pháp phân loại khác nhau.Các số lượng-định thấp đã chỉ kể đến các SMPs vũ -trang hay là "an-ninh tư" trong khi những số liệu cao kể toàn-bộ kỹ-nghệ,kể cả khu vực tiếp-liệu và huấn-luyện và ngay cả việc tái-thiết và công chánh.

Trong mọi trường-hợp,các SMPs đã có một tỉ lệ bách-phân quan-trọng trong việc hiện diện của Mỹ tại Irak.Một cách thiết thực,số lượng nhân viên tư vượt xa nhân-số của những toán quân Mỹ và lực lượng liên-hợp (khoảng chừng 12.000)Trong khi tỉ lệ giữa nhân viên quân-sự và nhân viên tư là 60/1 cho cuộc chiến vùng Vịnh lần thứ nhất,hiện nay đang tiến đến.Thay vì là một sự kết-hợp bằng ý chí ở Irak,đã là một sự kết-hợp vì tiền.

Giá phải trả về nhân mạng cũng đã gia tăng,tính cho đến tháng 7 năm 2007,đã có hơn 1000 nhân viên tư thiệt mạng ở Irak và 13.000 người đã bị thương.Kể từ khi có sự gia tăng cường độ từ tháng giêng vừa qua,tỉ lệ mạng vong trở nên trầm trọng:ngày nay mỗi tuần có 9 nhân viên tư bị chết.Các dữ kiện này không được đều đặn bởi vì các yêu cầu bảo-hiểm nhận được ở Bộ LaôĐộng (Département d'emplois) là nguồn thông-tin duy nhất.Các con số cho thấy các SMPs có nhiều nạn nhân hơn toàn bộ các lực lượng khác của liên-hợp.

Các dịch-vụ của SMPs không phải là rẻ.; Giữa 1994 và 2003,Bộ Quốc Phòng đã ký hơn 3600 khế-ước trị giá 300 tỉ đô-la.Do việc thiếu kiểm soát và trách-nhiệm,thật khó biết được có bao nhiêu liên hệ đến Irak..Dù sao đi nữa,con số đông đảo các SMPs kéo theo các phí tổn tài chánh khổng lồ.Ví dụ, Haliburton-KBR đã cung cấp yểm-trợ tiếp-liệu cho cuộc xâm lược và hiện đang tái-thiết hệ thống tiếp-vận dầu hoả,thể theo một khế-ước được giao cho họ mà chẳng có một thi đua thực sự .Trị giá của riêng khế-ước này là 20,1 tỉ đô-la.

Để đặt điều này vào trong bối-cảnh lợi tức của Haliburton trong cuộc chiến hiện nay lớn gấp ba lần số tiền Hoa-Kỳ đã phải trả cho cuộc chiến vùng Vịnh lần thứ nhất.
Như thế,tính theo đô-la thông-dụng,Hoa-Kỳ đã trả thêm lên 7 tỉ đô la so với trị giá cuộc cách-mạng Mỹ,chiến-tranh Mỹ-Mễ,cuộc chiến Tây Ban Nha và Mỹ gộp lại.

Thật thú-vị để nhắc nhở rằng sau khi hoãn ghi nhận một khoản lời lên tới 3 tỉ đô la vào năm 2006,Haliburton đã quyết-định đặt trụ sở ở Emirats Arabes Unis vì ở đó xí-nghiệp không phải trả thuế.Emirats Arabes Unis không có các thoả ước trục xuất với Hoa Kỳ,điều này bảo vệ các nhân viên những trừng phạt tư pháp.

Các hạn-định quân-sự và những gia tăng trải quân đã khiến các lực lượng Mỹ đi đến giới hạn khả năng tham chiến. Bởi thế,những dịch-vụ do SMPs cung cấp bao gồm cả những gì nằm trong nhiệm-vụ quân-sự Mỹ:An-ninh,cố vấn quân-sự,yểm-trợ tiếp-vận,cảnh-sát,giám-định kỹ-thuật và tình-báo. Hơn thế,hệ-thống vũ-khí ngày càng tinh-vi đòi hỏi quân-đội phải xử dụng đến các SMPs để bảo-trì và sửa chữa. Nhiều công việc các SMPs đã làm trong các khu vực chiến-đấu tiền phương.Việc họ tham dự tích-cực vào trong cuộc chiến không phải là điều hiếm.Các lực lượng quân-sự Mỹ thay vì được các tổ chức quân sự tư phụ lực và yểm trợ, đã trở thành tuỳ thuộc vào các tổ chức này.

Sự xử dụng rộng rãi các SMPs trong cuộc chiến ở Irak cho thấy vai trò mới của các tổ chức này trong chiến tranh.Trước cuộc xâm lăng năm 2003,họ chỉ tham dự vào những cuộc huấn-luyện và vào nổ lực chiến tranh ở Koweit.Họ cung cấp các yểm trợ tiếp-vận cho cuộc xâm lược.Trại Doha ở Koweit,được dùng làm căn cứ cho cuộc xâm lược,được xây dựng,bảo trì và cả việc canh gác nữa bởi một đội quân tư.
Trong cuộc chiến,các SMPs tiếp tục việc yểm trợ tiếp liệu trong cuộc tiến quân trên đất Irak. Họ bảo trì,cung cấp,trang bị các hệ thống vũ khí tinh vi nhất như là Global Hawk,một phi cơ thám thính không phi hành đoàn,hay là những hệ thống phòng không.

Trong giai đoạn ổn-định,vai trò của các SMPs lại càng trở nên quan-trọng hơn.Thay vì gởi thêm những toán quân và để bù đắp vào việc thiếu hỗ trợ của các đồng-minh, Hoa Kỳ dùng đến các SMPS như là một giải pháp tạm thời.Các tổ chức quân-sự tư về yểm trợ cung cấp các yểm trợ tiếp liệu,các công ty quân-sự tư về cố vấn giữ một vai trò quan-trọng trong việc huấn luyện cảnh sát và quân-đội Irak, cũng như trong tình-báo; và cuối cùng các công ty quân-sự tư về an ninh đã gia tăng trên diện địa những sứ mạng bảo vệ các đoàn xe, các cứ điểm và các nhân vật quan trọng..Ngay như Paul Bremer,khi ông ta giữ chức vụ quản-trị viên dân sự cho Irak,ông được bảo vệ bằng một nhóm quân-sự tư.
Rất đơn giản,cuộc xâm lăng Irak không thể có nếu không có các xí-nghiệp quân-sự tư.

  • Những thử thách của SMPs.

Việc các nhân viên của một SMP đối xử bạo ngược với các tù nhân cũng như việc nhân viên của họ bị thiệt mạng ở Fallujah nhắc cho chúng ta có sự hiện diện những thách-đố quan-trọng trong việc xử dụng các SMPs.,nhất là khi hầu như không có trách-nhiệm,thiếu sự trong sáng và sự nghèo nàn của hệ thống kiểm soát.

Nói chung,các SMPs không chịu trách nhiệm về nhữn hoạt động của họ.Họ không nằm trong tuyến thẩm quyền quân-sự.Bởi thế,có những căng thẳng gia tăng giữa quân-đội và các SMPs liên quan đến việc phối-hợp hành-động.Theo như một báo cáo của Gouvernment Accountability Office ,các SMPs "tiếp tục đi vào các vùng giao tranh không thông báo cho quân-đội Mỹ,và đặt quân lính cũng nhu nhân viên của họ vào hiểm tai bị thương."

Các ví dụ về những hành vi xấu đã được vidéo Aegis ghi lại rõ ràng, được phổ biến trên Internet.Trong đó người ta thấy các nhân viên của SMPs nổ súng vào đám đông,việc một giám thị của Triple Canopy nổ súng vào các thường dân Irak (nguồn một biên bản pháp lý đưa đến việc xa thải hai nhân-viên),cuối cùng,cuộc chạm súng,ghi nhận vào năm 2006,một nhân viên của Blackwater say rượu đã bắn mười phát đạn vào một cận vệ của phó Tổng Thống Irak sau một vụ đụng chạm.

Hơn thế,các SMPs còn bị cáo buộc đã làm thương-mãi về tình-dục,vi phạm việc phong toả quân sự và giết người vô cớ.Họ cũng thuê mướn những người liên hệ đến các chế độ đàn áp như Colombie,Chili,Pérou và Guatémala. Người dân xứ Irak không phân biệt được giữa quân nhân Mỹ và những người được SMPs thiê mướn và các hiệu quả tiêu cực gây khó khăn cho lực lượng quân sự Mỹ và cho tính cách chánh đáng của nó.

Trong khi các quân nnhân dính líu vào các sự việc bị toà án quân sự xét xử,không một nhân viên tư nào bị đưa ra trước toà án.Ở Hoa Kỳ chỉ có hai lần được áp dụng cho các SMPs ở ngoại quốc đó là MEJA (Military ExtrâTrritorial Act) và UCMJ (Uniform Code of Military Justice. Thế nhưng, MEJA không được dùng cho các vùng có giao tranh và chỉ áp dụng đối với các SMPs ký kết với Bộ Quốc Phòng. Gần đây hơn,UCMJ chỉ được áp dụng cho nhân viên quân sự.Và nhân viên dân sự chỉ được đặt dưới thẩm quyền trong trường hợp có chánh thức tuyên chiến.MEJA lẫn UCMJ chưa bao giờ được nhắc tới trong quá khứ.

Các sĩ quan quân đội Mỹ thường bày tỏ sự bực bội của họ là phải chia sẻ chiến trường với các SMPs và điều động theo qui luật riêng .Họ cũng e ngại hậu quả những hoạt động của SMPs đối với các chiến-dịch chánh thức.Một tướng lãnh nói "những tên này chạy cùng hết không có một kiểm soát nào và làm những điều ngu xuẩn.Họ không đặt dưới một thẩm quyền nào cả.Họ giết nhiều người và những người khác phải chịu hậu qủa của họ. "

Tương quan giữa quân nhân và các nhân viên của SMPs còn phức tạp hơn vì sự khác biệt lương bổng.Thường thì các SMPs trả gấp đôi số lương của lính khi mà cả hai đều được trả bằng thuế khoá. Sự sai biệt về lương bổng tạo ảnh hưởng tiêu cực cho khả năng tuyển mộ và duy trì các quân sĩ tài ba.Thế nên,quân đội đã phải cho một khoản thưởng đến 150.000 đô la để giữ lại một người lính.

Hệ thống vũ khí,màng lưới "chỉ huy và kiểm soát", thu thập và phân tách các tin tức và các chức năng khác ngày càng tuỳ thuộc vào các SMPs. Quân đội có nguy cơ mất các khả năng riêng của họ vì các quân nnhân không còn được huấn luyện trong những lãnh vực này. Các SMPs không bị bó buộc phải ở trong các vùng giao tranh và có thể chấm dứt khế ước một cách giản dị.Vào năm 2004,một SMp đã từ chối phân phối thực phẩm chỉ vì tình hình an ninh tồi tệ.

Hơn thế,Quốc Hội đã không ghi chú các khế ước có trị giá dưới 50 triệu đô la, và không có những điều kiện cần thiết để điều tra về số lượng, thủ tục tuyển dụng,hoạt động và sự hoàn hảo của các SMPs.Hành pháp có thể xử dụng các SMPs không có sự đồng ý hay biết đến của Quốc Hội. Bởi thế, công chúng không thể biết thuế vụ đã chi cho dịch vụ nào,có hiệu quả không, và tiền tiêu dùng được trình bày như bthế nào trên diện địa.Sự thiếu sót này làm nguy hại nghiêm trọng ngay đến khái niệm của một chánh sách ngoại giao dân chủ.

Hiện nay,có nhiều nỗ lực đang làm nhằm cải tổ khuôn khổ hoạt động của các SMPs.
Quân lực Hoa Kỳ nhấn mạnh đến hiểm tai liên hệ đến việc tư nhân hoá và sự bành trướng của nó. Một chuyên viên quân sự có ảnh hưởng đã ghi nhận rằng "quân đội cần phải phân tích một cách thện trọng vai trò của những SMPs trên chiến địa nhằm để hội nhập họ và để kiểm soát tốt hơn- nếu như trước hết chúng ta cho phép các dịch vụ của họ...Dẫu họ làm gì chăng nữa,họ có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sứ mạng,đó là lấy được niềm tin của dân chúng.Tôi mong thấy các thực thể quân đội trong một chiến dịch chống nổi dậy đặt dưới thẩm quyền quân sự."

Quốc Hội cũng đã dấn mình vào cuộc tranh luận về các SMPs,sau khi đã lơ là trong suốt 10 năm. Trong suốt mùa thu 2006,Thượng Nghị Sĩ Lindsay Graham đã cho thêm một điều khoản vào UCMJ đã làm thay đổi luật để áp dụng chẳng những trong trường hợp có tuyên chiến nhưng ngay cả trong những chiến dịch quân sự hạn định.Luật mới này có thể có khả năng đặt các SMPs dưới cùng một thủ tục pháp lý với các quân nhân.

Trong khi những thay đổi trong UCMI tạo ra một phản ứng trộn lộn của SMPs,quân đội Hoa Kỳ đã rất tán thưởng việc ày vì các vị tư lệnh hi vọng rằng kỹ luật trên chiến trường sẽ được cải thiên.Theo dõi bản chất tổng quát của kỹ nghệ SMPs,các nước khác sẽ theo dõi tình trạng để có thể có các biện pháp tương tự.Tuy vậy,Ngũ Giác Đài vẫn chưa minh thị bằng cách nào có thể áp dụng luật mới này.Cho đến khi họ thực hiện điều này,luật ở trong tình trạng bất động và chúng ta không biết nếu và như thế nào luật sẽ được xử dụng.

Nhiều nỗ lực trong lãnh vực làm minh bạch và kiểm soát các SMPs của Hoa Kỳ đã được các thành viên quốc hội đề nghị, đặc biệt nhất là các dân biểu Schakoxsky (illinois) và David Price (North Carolina) và bởi Thượng Nghị Sĩ Barack Obama (Illinois)

Obama,một ứng cử viên tranh cử Tổng Thống,là người bảo trợ dự luật "Transparency ang Accountability in Military and Security Contracting Act of 2007" đã tập hợp các cải tổ đề nghị của Schakoxsky và Price. Luật thiết lập các điều kiện tìm hiểu cần thiết để quản trị các kỹ nghệ SPMs.Luật đòi hỏi các dữ kiện về số lượng các SMPs,số tiền chi tiêu,số lượng nhân viên tư đã chết hay bị thương. Nhưng thường là không thu thập được tin tức nào cả.

Luật cũng mở rộng một chiến lược để xem khi nào một khế ước với một SMPs được coi là thích đáng.Ngũ giác Đài bó buộc phải xét lại việc xữ dụng các SMPs và ấn định vai trò nào thích ứng với các xí nghiệp-tư.

Trong trường hợp một khế ước đã được duyệt,luật tạo ra các tiêu chuẩn và các cưỡng-chế mà các SMPs phải theo,cũng như các qui tắc tham dự chiến cuộc do các vị tư lện quân sự loan báo.Luật cũng tạo ra văn phòng khế ước trung ương để kiểm soát tốt hơn các chi tiêu và để phối hợp với FBI việc theo đuổi các điều tra hình sự.

Cuối cùng,luật bắt đầu một thủ tục thiết lập một qui chế pháp lý chính xác cho các SMPs và những nhân viên của họ trong trường hợp phạm pháp.Ngũ Giác Đài từ nay phải thiết lập một kế hoạch để áp dụng luật lệ tại chỗ.

Nhưng việc xử dụng luật không được rõ ràng.Khó có thể biết được phản ứng của các nước khác vì các cải cách của Hoa Kỳ chỉ chạm đến một phần trong toàn bộ các kỹ nghệ này.

Irak đã là một cơ may cũng như là một thách đố đặt ra với các SMPs. Các kinh nghiệm ở Irak đã nhấn mạnh đến sự cần thiết một qui chế pháp lý chính xác của các SMPs trên bình diện quốc-gia cũng như quốc-tế. Việc xử dụng các SMPs của Liên Hiệp Âu Châu đưa ra những vấn đề liên hệ chính đến vai trò của các SMPs trong các vùng giao tranh. Chúng ta cần phải có một cuộc tranh luận xung quanh vấn đề về tính cách thích đáng của việc tư nhân hoá các chức năng quân-sự, tuỳ theo các trường hợp mẫu khác nhau được đề ra. Trong trường hợp việc tham dự của một SMP được coi là có thể có giá trị,các cơ chế về quản trị,kiểm soát,trong sáng và trách nhiệm phải được đặt ra để trừng trị những vi phạm và để giới hạn các sự phí phạm tài chánh ,những điều này tất cả ,sẽ gây nguy hại cho an ninh và cho tiến trình dân chủ hoá.



Tinparisnet chuyển ngữ. - Nhữ đình Hùng -
Bài viết  của Peter W.Singer- Ralph Wipfli ( Brooking Institutions) ( Tạp chí Défense số 129- Tháng 09-10/2007 tr 22- tr24)

Trở về