Trích từ Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA)
do phóng viên Bích Huyền
phụ trách trong tháng 6.2004
Kính thưa Quý Vị,
Hôm nay chúng tôi xin cùng chia sẻ với tất cả Quý Vị hiện diện nơi đây
một sự kiện liên quan đến việc bang giao Mỹ-Việt gần 30 năm nay. Đó là
vấn đề chất độc da cam mà quân đội Hoa Kỳ đã từng phun xịt từ năm 1961
đến 1971 trong thời gian chiến tranh Việt Nam trước đây.
Chúng tôi xin lần lượt trình bày những diễn tiến của sự kiện cũng như
nhiều nghịch lý trong vấn đề kiện tụng Mỹ-Việt để từ đó rút ra một số
mâu thuẫn có thể đang xảy ra trong nội bộ của đảng cầm quyền hiện tại.
Như chúng ta đã biết, trước khi ký kết Thương ước Mỹ-Việt dưới nhiệm kỳ
của Tổng thống Clinton, hai chính phủ đã đồng ý trong một cam kết riêng
không phổ biến là Việt Nam sẽ không đưa vụ Chất độc màu Da cam để kiện
Hoa Kỳ, và đối lại, Mỹ sẽ ký thương ước với Việt Nam và sẽ không phủ
quyết để Việt Nam có thể gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới năm
2005.
Sau đây là diễn tiến của
vụ kiện :
Có lẽ vì "mật ước"
Mỹ-Việt vừa nêu trên, nên Việt Nam cho thành lập Hội Nạn nhân Chất Độc
màu Da cam ngày 10/1/2004 ngay sau khi có quyết định chấp thuận của Bộ
Nội vụ ngày 17/12/2003. Đây là một Hội dưới danh nghĩa thiện nguyện
nhưng do Nhà Nước trợ cấp tài chính và kiểm soát. Ban chấp hành tạm
thời của Hội lúc ban đầu gồm :
- Bà Nguyễn Thị Bình,
nguyên Phó chủ tịch nước làm Chủ tịch danh dự ;
- Thượng tướng Đặng
Vũ Hiệp, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị QĐND làm Chủ
tịch ;
- GS / BS Nguyễn
Trọng Nhân, nguyên Bộ trưởng Y tế, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam
làm Phó Chủ tịch ;
- Ô Trần Văn Thụ làm
Thư ký.
Trong buổi lễ ra mắt, Bà Bình đã khẳng định rõ ràng rằng :"Chính phủ Mỹ
và các công ty sản xuất chất độc hoá học da cam phải thừa nhận trách
nhiệm tinh thần, đạo đức và pháp lý. Những người phục vụ chính thể Việt
Nam Cộng Hòa cũ ở miền Nam không được đưa vào danh sách trợ cấp". Theo
một bản tin của Thông tấn xã Việt Nam thì đây là một tổ chức của những
nạn nhân chất Da cam, cũng như các cá nhân, tập thể tự nguyện đóng góp
để giúp các nạn nhân khắc phục hậu quả chất độc hoá học và là đại diện
pháp lý của các nạn nhân Việt Nam trong các quan hệ với các tổ chức và
cơ quan trong cũng như ngoài nước. Thế nhưng, trong danh sách nạn nhân
chất da cam trong cả nước được Việt Nam ước tính trên 3 triệu mà chính
phủ đã thiết lập năm 2003 để cung cấp tiền trợ cấp hàng tháng, những
nạn nhân đã từng phục vụ cho VNCH trước đây thì không được đưa vào danh
sách nầy (Được biết năm 2001, trong Hội nghị Quốc tế tại Hà Nội, số nạn
nhân được Việt Nam nêu ra là 2 triệu!). Do đó có thể nói rằng, việc
thành lập Hội chỉ có mục đích duy nhất là hỗ trợ cho việc kiện tụng mà
thôi.
Vào ngày 30/1/2004, Hội đã nộp đơn kiện 37
công ty hóa chất ở Hoa Kỳ tại tòa án liên bang Brooklyn, NY do
luật sư đại diện cho phía Việt Nam là Constantine P. Kokkoris. (Được
biết LS Kokkoris là một người Mỹ gốc Nga, đã từng phục vụ cho tòa Đại
sứ Việt ở Nga Sô và có vợ là người Việt Nam họ Bùi). Hồ sơ thụ lý gồm
49 trang trong đó có 240 điều khoảng. Danh sách nguyên đơn liệt kê như
sau :
- Hội Nạn nhân Chất
Da cam/Dioxin Việt Nam ;
- Bà Phan Thị Phi
Phi, giáo sư Đại học Hà Nội ;
- Ông Nguyễn Văn Quý,
cựu chiến binh tham chiến ở miền Nam trước 1975, cùng với hai người con
là Nguyễn Quang Trung (1988) và Nguyễn Thị Thu Nga (1989) ;<>>
- <>Bà Dương Quỳnh Hoa, Bác sĩ, nguyên Bộ
trưởng Y tế Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, và con là Huỳnh
Trung Sơn ; và những người cùng cảnh ngộ.>
Đây là một vụ kiện tập thể
(class action) và yêu cầu được xét xử có bồi thẩm đoàn.
Các đương đơn tố các công ty Hoa Kỳ đã vi phạm luật pháp quốc tế và tội
ác chiến tranh, vi phạm luật an toàn sản phẩm, cẩu thả và cố ý đả
thương, âm mưu phạm pháp, quấy nhiễu nơi công cộng và làm giàu bất
chánh để (1) đòi bồi thường bằng tiền do thương tật cá nhân, tử vong,
và dị thai và (2) yêu cầu tòa bắt buộc làm giảm ô nhiễm môi trường, và
(3) để hoàn trả lại lợi nhuận mà các công ty đã kiếm được qua việc sản
xuất thuốc khai quang.
Không có một bằng chứng
nào được đính kèm theo để biện hộ cho các cáo buộc, mà chỉ dựa vào tin
tức và niềm tin (nguyên văn là upon information and belief).
Tuy nhiên, đơn kiện có nêu đích danh một số nghiên cứu mới nhất về
dioxin của Viện Y khoa thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ, công ty cố
vấn Hatfield Consultants của Canada, Bác sĩ Arnold Schecter của trường
Y tế Công cộng Houston thuộc trường Đại học Texas, và Tiến sĩ Jeanne
Mager Stellman của trường Đại học Columbia, New York.
Chúng
tôi đặc biệt quan tâm đến trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa cũng
như quá trình hoạt động của Bà từ những năm 50 cho đến hiện tại.
Tên Bà nằm trong danh sách nguyên đơn cũng là một nghi vấn cần phải
nghiên cứu cặn kẽ.
Theo nội dung của hồ sơ kiện tụng, từ năm 1964 trở đi, Bà thường xuyên
đi đến thành phố Biên Hòa và Sông Bé (?) là những nơi đã bị phun xịt
thuốc khai quang nặng nề.
Từ năm 1968 đến 1976, nguyên đơn BS Hoa là Tổng trưởng Y tế của
Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam và ngụ tại Tây Ninh. Trong thời
gian nầy Bà phải che phủ trên đầu bằng bao nylon và đã đi ngang qua một
thùng chứa thuốc khai quang mà máy bay Mỹ đã đánh rơi.
(Cũng xin nói ở
đây là chất da cam được chứa trong những thùng phuy 200L và có sơn màu
da cam. Chất nầy được pha trộn với nước hay dầu theo tỷ lệ 1/20 hay hơn
nữa và được bơm vào bồn chứa cố định trên máy bay trước khi được phun
xịt. Như vậy làm gì có cảnh thùng phuy rơi rớt!?).
Năm
1970, Bà hạ sinh đứa con trai tên Huỳnh Trung Sơn (cũng có tên trong
đơn kiện như một nguyên đơn, tuy đã mất) bị phát triển không bình
thường và hay bị chứng co giật cơ thể. Sơn chết vào lúc 8 tháng tuổi.
Trong thời gian chấm dứt chiến tranh, BS Hoa bắt đầu bị chứng ngứa ngáy
ngoài da. Năm 1971, Bà có mang và bị sẩy thai sau 8 tuần lễ. Năm 1972,
Bà lại bị sẩy thai một lần nữa, lúc 6 tuần mang thai. Năm 1985, BS Hoa
đã được định bịnh tiểu đường. Và sau cùng, năm 1998, Bà bị ung thư vú
và đã được giải phẩu.
Năm
1999, Bà được thử nghiệm máu và BS Schecter (Hoa Kỳ) cho biết là lượng
Dioxin trong máu của Bà có nồng độ là 20 ppt (phần ức).
Và
sau cùng, kết luận trong hồ sơ kiện tụng là : Bà BS Hoa và con là nạn
nhân của chất độc Da cam.
Qua bạn bè của BS Hoa, và những người thân cận với Bà từ thời du học
bên Pháp, chúng tôi cố gắng thu thập thêm tin tức về lý lịch cũng như
hoạt động của BS Dương Quỳng Hoa và được biết như sau :
Về lý lịch, Bà Hoa đã từng du học tại Toulouse (Pháp) và đã tốt nghiệp
Y khoa bác sĩ tại đây. Bà cũng đã gia nhập vào đảng CS Pháp trước khi
về Việt Nam vào cuối thập niên 50. Tháng 12,1960 Bà trở thành một thành
viên sáng lập của Mặt trận Dân tộc Giải Phóng miền Nam Việt Nam. Thật
ra, Mặt trận nầy chỉ là lá bài của CS Bắc Việt dựng ra cốt lấy danh
nghĩa để tấn chiếm miền Nam mà thôi.
Sau khi CS chiếm đóng miền Nam vào tháng 4, 1975, Bà Hoa được "đặt để"
vào chức vụ Tổng trưởng Y tế, Xã hội, và Thương binh trong nội các
chính phủ. Vào tháng 7, 75, Hà Nội chính thức giải thể chính phủ Lâm
thời và nắm quyền điều hành toàn quốc, chuyển Bà xuống hàng Thứ trưởng
và làm bù nhìn như Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị
Định. Chính trong thời gian nầy, Bà lần lần thấy được bộ mặt thật
của đảng CS và mục tiêu của họ không phải là phục vụ đất nước Việt Nam
mà chính là làm nhiệm vụ của CS quốc tế là âm mưu nhuộm đỏ vùng Đông
Nam Á.
Trở qua Huỳnh Thanh Nghị, chồng của Bà được gữi ra Bắc để học trường
Đảng và đã được đề nghị làm Bộ trưởng Kinh tế, nhưng ông đã từ chối.
Ông cũng đã từng tâm sự với bạn bè ở thời điểm 1976 là các "toa" nếu
muốn chạy ra nước ngoài thì hãy đi từ bây giờ, nếu để lâu sợ e không
còn kịp nữa.
Trở lại BS Hoa, vào khoảng cuối thập niên 70, Bà đã trao đổi cùng Ô
Nguyễn Hữu Thọ :" Anh và tôi chỉ đóng vai trò bù nhìn và chỉ là
món đồ trang sức rẻ tiền cho chế độ. Chúng ta không thể phục vụ cho một
chế độ thiếu dân chủ và không luật lệ. Vì vậy tôi thông báo cho anh
biết là tôi sẽ trả lại thẻ Đảng và không nhận bất cứ nhiệm vụ nào trong
chính phủ cả." Đến năm 1979, Bà chính thức từ bỏ tư cách đảng viên và
chức vụ Thứ trưởng. Dĩ nhiên là Đảng CS không hài lòng với quyết định
nầy ; nhưng vì để tránh những chuyện từ nhiệm tập thể của các đảng viên
gốc miền Nam, họ đề nghị Bà sang Pháp. Nhưng sau cùng, họ đã thu hồi
quyết định trên và yêu cầu Bà im lặng trong vòng 10 năm.
Mười năm sau đó, sau khi được "phép" nói, Bà nhận định rằng Đảng CS
Việt Nam tiếp tục xuất cảng gạo trong khi dân chúng cả nước đang đi dần
đến nạn đói. Và nghịch lý thay, họ lại yêu cầu thế giới giúp đỡ để giải
quyết nạn nghèo đói trong nước. Trong thời gian nầy, Bà tuyên bố :"
Trong hiện trạng của Đất Nước hiện tại (thời bấy giờ), xuất cảng gạo
tức là xuất cảng sức khỏe của người dân" Và Bà cũng là một trong những
người đầu tiên lên tiếng báo động, vào năm 1989, cho thế giới biết tệ
trạng bán trẻ em Việt Nam ngay từ 9, 10 tuổi cho các dịch vụ tình dục
trong khách sạn và các khu giải trí dành cho người ngoại quốc do các cơ
quan chính phủ và quân đội điều hành.
Sau khi rời nhiệm vụ trong chính phủ, Bà trở về vị trí của một BS nhi
khoa. Qua sự quen biết với giới trí thức và y khoa Pháp, Bà đã vận động
được sự giúp đở của hai giới trên và được viện trợ thuốc men cho trẻ em
Việt Nam suy dinh dưỡng nhất là acid folic và các loại vitamin. Nhưng
tiếc thay, số thuốc trên, khi về Việt Nam, đã không đến tay Bà mà tất
cả được chuyển về Bắc. Bà xin chấm dứt viện trợ, nhưng lại được "yêu
cầu" phải xin lại viện trợ vì nhân dân (của Đảng!). (Về tình trạng trẻ
con suy dinh dưỡng, với tính cách thông tin, chúng tôi xin đưa ra đây
báo cáo của Bà Anneke Maarse, chuyên gia tư vấn của UNICEF trong hội
nghị ngày 1/12/03 tại Hà Nội :" Hiện Việt Nam có 5,1 triệu người
khuyết tật chiếm 6,3% trên tổng số 81 triệu dân. Qua khảo sát tại 648
gia đình tại ba vùng Phú Thọ, Quảng Nam và Tp HCM cho thấy có tới 24%
trẻ em tàn tật dạng vận động, 92,3% khuyết tật trí tuệ, và 19% khuyết
tật thị giác lẫn ngôn ngữ. Trong số đó tỷ lệ trẻ em khuyết tật bẩm sinh
chiếm tới 72%.)"
Trở
lại với BS Hoa, Bà đã được ký giả Morley Safer, phóng viên của đài
truyền hình CBS phỏng vấn. Những lời phỏng vấn đã được ghi lại trong
cuốn sách của ông dưới tựa đề Flashbacks on Returning to Việt Nam do
Random House, Inc. NY, 1990 xuất bản. Qua đó, một sự thật càng sáng tỏ
là con của Bà, Huỳnh Trung Sơn bị bịnh viêm màng não mà Bà không có
thuốc để chữa trị khi còn ở trong bưng và đây cũng là một sự kiện đau
buồn nhất trong đời Bà. Cũng trong cuốn sách vừa kể trên, Bà
cũng đã tự thú là đã sai lầm ở một khoảng thời gian nào đó. Nhưng Bà
không hối tiếc vì Bà đã đạt được mục đích là làm cho những người ngoại
quốc ra khỏi đất nước Việt Nam.
Qua những sự kiện trên, chúng ta thấy có nhiều điều nghịch lý và mâu
thuẫn về sự hiện diện của tên Bà trong vụ kiện ở Brooklyn ?
Để tìm giải đáp cho những điều nghịch lý trên, chúng tôi xin trích dẫn
những phát biểu mới nhất của Bà trong một cuộc tiếp xúc thân hữu tại
Paris hồi trung tuần tháng 5 vừa qua. Theo lời Bà (từ miệng Bà nói,
theo lời của một người bạn có mặt trong buổi tiếp xúc trên) thì "người
ta đã đặt tôi vào một sự đã rồi (fait accompli). Tên tôi đã được ghi
vào hồ sơ kiện không có sự đồng ý của tôi cũng như hoàn toàn không
thông báo cho tôi biết. Người ta chỉ đến mời tôi hợp tác khi có một ký
giả người Úc thấy tên tôi trong vụ kiện, yêu cầu được phỏng vấn
tôi. Tôi chấp nhận cuộc gặp gỡ với một điều kiện duy nhất là tôi có
quyền nói sự thật, nghĩa là tôi không là người khởi xướng vụ kiện cũng
như không có ý muốn kiện Hoa Kỳ trong vấn đề chất độc da cam." Dĩ nhiên
cuộc gặp gỡ giữa Bà Hoa và phóng viên người Úc không bao giờ xảy ra.
Bà còn thêm rằng :" Trong thời gian mà tất cả mọi người, nhất là đảng
CS, bị ám ảnh về việc nhiễm độc dioxin, tôi cũng đã nhờ một BS Hoa Kỳ
khám nghiệm (khoảng 1971) tại Pháp và kết quả cho thấy là lượng dioxin
trong máu của tôi dưới mức trung bình (2 ppt)."
Từ những thông tin cập nhật vừa kể trên, quả thật chúng ta thấy rằng vụ
Hội Nạn nhân Chất độc Da cam Việt Nam kiện 37 công ty hoá chất Hoa Kỳ
là một sự kiện mang nhiều kịch tính sau đây :
- Kịch tính thứ nhất : nạn nhân (nếu thật sự bị nhiễm độc) sẽ không
được bồi thường nếu là những người phục vụ cho chính thể Việt Nam Cộng
Hòa sẽ không được trợ cấp. Phải chăng quân, dân Việt Nam Cộng Hoà (miền
Nam) có tính "miễn nhiễm" cao đối với chất da cam ? Nghịch lý là chất
da cam chỉ được phun xịt từ vĩ tuyến 17 trở vào đến mũi Cà Mau.
- Kịch tính thứ hai : người không đi kiện mà lại có tên trong danh sách
"khởi kiện". Đó là BS Dương Quỳnh Hoa.
-
Kịch tính
thứ ba : Năm 1971 Bà đã được thử máu và được biết nồng độ dioxin trong
máu dưới mức bình thường (2 ppt). Trong lúc đó BS Schecter, thuộc Đại
học Y tế công cộng Dallas, người được nêu ra như là một chứng nhân quan
trọng trong hồ sơ vụ kiện, báo cáo rằng đã thử máu Bà năm 1999, và kết
quả là 20 ppt, và ông cũng đã ước tính ngược lại nồng độ dioxin trong
máu của Bà năm 1971 là 300 ppt, bất chấp con số 2 ppt thật sự đo được.
Từ 3 kịch tính trên, chúng ta thấy rõ ràng là có một cái gì mâu thuẫn
trong quyết định việc thưa kiện Hoa Kỳ về chất độc da cam. Gần đây
nhất,
TS
Nguyễn Đức Tuấn, Trưởng Phòng thí
nghiệm Môi trường thuộc Trung tâm Kỹ thuật-Tiêu chuẩn-Đo lường-Chất
lượng, ngày 11/5/04, đã công bố rằng tất cả trái cây nhập cảng từ Trung
Quốc và một số trái cây Việt Nam đều có chứa chất dioxin, trong đó hàm
lượng ở vỏ là 0,4 mg/Kg và ở ruột hoa quả là 0,04 mg/Kg (tức 40.000
ppt), cao gấp ngàn lần hàm lượng dioxin mà BS Schecter tìm thấy trong
máu người dân Biên Hòa và quy kết rằng do bị nhiễm độc trong thời gian
chiến tranh.
Chúng tôi xin đặt một giả thuyết nơi đây là, nếu
không có một thế lực nào đó đỡ đầu, TS Tuấn khó có thể tồn tại được
theo tinh thần của Nghị quyết Bảo vệ Bí mật Quốc gia trong lãnh vực Môi
trường, đặc biệt là vấn đề dioxin. Thêm nghịch lý nữa là, ngay sau đó,
Bộ Y tế ra thông cáo đính chính ngay rằng hàm lượng dioxin trên không
ảnh hưởng lên sức khỏe và gây độc hại cho người tiêu dùng ?
Để kết luận, chúng ta có thể tiên đoán được kết quả của vụ kiện giữa
Hội Nạn nhân chất độc Da cam và các công ty hóa chất Hoa Kỳ sẽ diễn
tiến ra sao? Và, chúng ta có thể chờ đến phiên xử đầu tiên sẽ diễn ra
ngày 12/9/04 tại Brooklyn để thấy phần kết luận giữa Sự Thật và Dối
Trá, giữa Ánh Sáng và Đêm Đen, cũng như giữa Cái Thiện và Cái Ác.
Xin kính chào Quý thính
giả của cuộc Hội thảo hôm nay.
Mai Thanh Truyết
West Covina 5/2004