PHẦN
MỘT: NHÂN QUYỀN TRONG VĂN HÓA VIỆT
DẪN
NHẬP
Nội
dung
NHÂN BẢN của QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT mà chúng tội đã
có dịp trình bày trong một bài viết trước đây dưới tựa đề :«Luật Hồng
Đức và
vấn đề Dân Chủ : Tinh Thần và Thể Chế» hé cho chúng ta thấy tính chất
TIẾN BỘ
VƯỢT BỰC của LUẬT HỒNG ĐỨC khi so với Luật TRUNG HOA và nhất là Luật
TÂY PHƯƠNG
cùng thời. Ngay khi so sánh với Hiến Chương LHQ và Luật Pháp Tây Phương
NGÀY
NAY về khía cạnh NHÂN QUYỀN thì Luật Hồng Đức cũng VƯỢT QUA ở một số
điểm.(1)
- I)
NHÂN
QUYỀN VÀ PHỔ BIẾN TÍNH
Điều
trên có thể làm nhiều người trong chúng ta ngạc nhiên,
có lẽ do THÀNH KIẾN phổ cập lâu ngày, nhất là trong giới Tây Học, là
theo họ,
các giá trị Nhân Quyền và Dân Chủ về mặt Nguồn Gốc có vẻ CHỈ phát xuất
từ Tây
Phương.
Về tính
chất KHẢ TÍN của các khám phá vừa được đề cập, cũng
nên nhấn mạnh ngay từ đầu là các phát kiến nêu trên là kết quả của việc làm nghiêm túc của ba vị TÂY HỌC có UY
TÍN lẫn tầm vóc HÀN LÂM, QUỐC TẾ trong lãnh
vực NGHIÊN CỨU
cũng như về
tính chất ĐỘC LẬP của ba Vị này trong lãnh vực SUY TƯ đối với các Thế
Lực đương
thời (2).
Ngoài
ra, các điều vừa trình bày ở trên là một sự TÁI XÁC
NHẬN trên bình diện LUẬT HỌC về sự ĐÚNG ĐẮN của các khám phá ở nhiều
lãnh vực
khác nhau mà Cố Triết Gia KIM ĐỊNH đã xử dụng để xây đắp Chủ Thuyết
VIỆT NHO,
cũng như về tính chất PHỔ BIẾN, tức khía
cạnh VƯỢT THỜI-KHÔNG của các Giá Trị được VIỆT
NHO lẫn Văn Hóa VIỆT
Tuyên Dương về mặt NHÂN QUYỀN và DÂN CHỦ.
- II)
TRIẾT LÝ TẢ NHẬM CỦA VIỆT NHO VÀ NGUỒN GỐC CỦA NHÂN
QUYỀN
Thật
vậy, nguyên nghĩa của từ ngữ NHO là «NHU » nên tinh
thần Chân Thực của NHO GIÁO chính là triết lý TẢ NHẬM tức nền triết lý
nhắm vào
việc bênh vực người Cô thế, Yếu đuối chống lại đủ mọi loại Thế lực, như qua chủ trương và nỗ lực nhằm bảo vệ người
DÂN Bị Trị đối với giới CHÍNH QUYỀN Cai Trị ..vvv ..Tóm lại đó là nền
VĂN HÓA
mà Mục Tiêu Chính Yếu là nhắm đến việc Phục Vụ cho điều mà con người
ngày nay
gọi là NHÂN QUYỀN hay là QUYỀN LÀM NGƯỜI.
Theo lối
nhìn CƠ CẤU, tính chất TẢ NHẬM của văn hóa VIỆT, mà
hệ quả đi kèm là bảo vệ QUYỀN LÀM NGƯỜI nơi những thành phần mà Nhân
Phẩm
thường dễ bị Chà Đạp nhất, còn được thấy qua các sự kiện như TIÊN đi trước RỒNG trong Huyền Sử, ÂM đi
trước DƯƠNG trong Dịch Lý, VỢ đi trước CHỒNG trong cách thức Xưng Hô
của người
Việt .vvv ..cũng như qua sự kiện được nhận thấy trong đời sống thực tế
và được
nhiều học giả quốc tế xác nhận là một cách tổng quát, người Phụ Nữ VIỆT
quả
thật đóng vai trò NỘI TƯỚNG trong Gia Đình VIỆT.
Khía
cạnh TẢ NHẬM còn được đặt nổi trong bộ Luật HỒNG ĐỨC
như phần trình bày trước đây cho thấy, qua các ĐIỀU KHOẢN được soạn
thảo nhằm
BÊNH VỰC người PHỤ NỮ trong tư cách làm
CON, làm VỢ trong Gia Đình, cũng như qua
các nỗ lực nhằm bảo vệ người dân THIỂU SỐ trong
xã hội.
Vậy nên,
sự kiện ngày nay nhiều người vẫn LẦM tưởng DÂN CHỦ
và NHÂN QUYỀN có nguồn gốc DUY NHẤT là
Tây Phương có lẽ là do họ KHÔNG biết đến ẢNH HƯỞNG của NHO GIÁO ở thế
kỷ XVIII
đối với những người CHA TINH THẦN của nền Dân Chủ TÂY PHƯƠNG như
Voltaire,
Montesquieu, Rousseau, Franklin, Jefferson Mà
Ảnh hưởng đó lớn lao đến nổi học giả Richwein tôn
xưng KHỔNG TỬ là
THÁNH QUAN THẦY của thế kỷ ÁNH SÁNG!(3)
Và với
ảnh hưởng nêu trên, NHO GIÁO đã có công đóng góp phần
rất QUAN TRỌNG qua nội dung của triết lý TẢ NHẬM tức nền triết lý đặt
trọng tâm
vào việc BÊNH VỰC người Cô Thế, Yếu Đuối là những thành phần trong xã
hội mà
QUYỀN LÀM NGƯỜI cần được BẢO VỆ hơn cả, do đó là một trong những NGUỒN
GỐC
Chính Yếu của các Tư Tưởng BÌNH ĐẲNG,
DÂN CHỦ và NHÂN QUYỀN trong đời sống của Nhân Loại hôm nay.
- III)
CÁC
«GIÁ TRỊ PHƯƠNG ĐÔNG » NÀO ĐÂY?
Trong
khi đó, các nhà «Độc Tài Châu Á » hôm nay lại viện dẫn
lý do về điều mà họ gọi là «nguồn gốc Tây Phương » của các ý niệm «Nhân
quyền
», «Dân Chủ » cũng như
nhân danh điều mà họ gọi là những «Giá Trị
Phương Đông » để từ chối thực hiện Nhân Quyền trên đất nước họ.
Chẳng
hạn họ nhân danh sự ỔN ĐỊNH hay nhu cầu gìn giữ Kỷ
Cương trong XÃ HỘI để Hạn Chế Tự Do CÁ
NHÂN. Và họ thường «đồng hóa » điều mà họ gọi một cách gượng ép là các
««Giá
Trị Phương Đông » với các «Giá Trị » của Nho Giáo. Điều này có thực sự
đúng
trên bình diện Triết Lý và Lịch Sử hay không ?
Chúng ta
biết Tinh Hoa của NHO GIÁO chính là MINH TRIẾT hay
Triết Lý HAI CHIỀU KÍCH của Dịch Lý. Do đó, Cứu Cánh của nền Triết Lý
Chính Trị
của Nho Giáo là tìm cách GIÀN HÒA hai hạn từ CÁ NHÂN và XÃ HỘI, chứ
KHÔNG phải
HY SINH Tự Do CÁ NHÂN cho sự Ổn định của XÃ HỘI hay ngược lại như họ
chủ trương
. Làm như thế là họ vô tình đi theo con đường DUY
LÝ MỘT CHIỀU của Tây Phương mà không hay biết !!!
Đã vậy
mà họ còn nhân danh điều mà họ gọi là các «Giá Trị
Phương Đông »! Nhưng các «Giá trị của Phương Đông » nào đây ???
Nếu họ
nhân danh NHO GIÁO thì có lẽ đó là loại Nho Giáo đã
bị SA ĐỌA của các Vương triều từ thời nhà Hán, tức đã bị tiêm nhiễm
nhiều yếu
tố DU MỤC được nhận thấy một cách rõ nét trong
xã hội TÀU hơn là VIỆT, trên phương diện LÝ
THUYẾT lẫn THỰC TẾ.
A) CHẾ ĐỘ ĐẠI GIA ĐÌNH
Về khía cạnh DU MỤC, trong
việc tổ chức xã hội chẳng hạn, người Trung Hoa lấy gia tộc PHỤ HỆ làm
nền tảng
. Bởi đó, gia tộc Trung Hoa rất lớn nên đặt nền
móng cho chế độ ĐẠI GIA ĐÌNH. Hệ quả là theo
Luật Cổ Trung Quốc, ông
bà cha mẹ còn sống thì con cháu không được chia tài sản và tách ra ở
riêng, nếu
chia tài sản và tách ra ở riêng thì bị buộc vào tội «bất hiếu » (ĐƯỜNG
LUẬT SỚ
NGHỊ, Điều I,6; MINH LUẬT TẬP GIẢI PHỤ LỆ, Điều I,2; ĐẠI THANH LUẬT LỆ,
Điều 2,
theo bản dịch ra Anh ngữ của Staunton).
Dân tộc Việt Nam trái lại,
theo chế độ TIỂU GIA ĐÌNH nên không cấm con cháu chia tài sản và tách
ra ở
riêng khi ông bà cha mẹ còn sống.(QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT, Điều 2).(4)
Chế độ ĐẠI GIA ĐÌNH hiện hữu
là do nguồn gốc DU MỤC của người Trung Hoa . Có lẽ vì Du Mục dựa trên
SỨC MẠNH,
LÝ TRÍ, ĐOÀN LŨ nên thích hợp với ĐẠI GIA ĐÌNH, trong khi trái lại,
TIỂU GIA
ĐÌNH là nét Đặc Trưng của các dân tộc NÔNG NGHIỆP như VIỆT TỘC.
B) TƯƠNG QUAN NAM - NỮ
a) Vì
Sức Mạnh, Lý Trí là
sở trường của người ĐÀN ÔNG, nên chế độ Đại Gia Đình của DU MỤC Bắc
Phương cũng
là nguồn gốc của tập tục TRỌNG NAM KHINH NỮ của người Trung Hoa được
thấy chẳng
hạn qua câu «Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô »(5)
Quan niệm trên đã dẫn đến
tình trạng ĐA THÊ phổ cập trong xã hội TÀU được thấy qua QUYỀN của
người đàn
ông Tàu được lấy nhiều vợ, mà số vợ thì tùy theo địa vị, chức tước, sự
giàu
nghèo của người chồng trong xã hội.
Nếu nói theo ngôn ngữ ngày
nay thì đây là một sự VI PHẠM NHÂN QUYỀN
Trầm Trọng của xã hội TRUNG HOA đối với người PHỤ NỮ.
b) Trái lại,trừ
những ngoại
lệ, tình trạng thông thường của gia đình VIỆT là «Một VỢ Một CHỒNG ».
Tình
trạng này còn được Văn hóa VIỆT khuyến
khích qua Ca Dao, Tục Ngữ như sau:
«Đói lòng nằm gốc cây sung
Chồng một thì lấy chồng
chung thì đừng ».
Hoặc
«Đói no một vợ một chồng
Một niêu cơm tấm một lòng với
nhau ».
Trong cùng chiều hướng, sự
BÌNH ĐẲNG NAM NỮ trong xã hội VIỆT được phản ảnh qua các câu như:
«Ai ai cùng
vợ cùng chồng
Chồng cày vợ cấy
trong lòng vui thay »
Không những Bình Đẳng, người
Phụ Nữ VIỆT lại thường CHỦ ĐỘNG trong Tình Yêu như trong chuyện «Tiên
Dung -
Chư Đồng Tử » hay trong bài ca dao sau đây:
«
Anh đã có vợ con chưa?
Mà
sao ăn nói gió đưa ngọt ngào
Mẹ
già anh ở nơi nao
Để
em tìm vào hầu hạ thay anh ».(6)
Sỡ dĩ PHẨM GIÁ của người Phụ
Nữ VIỆT tương đối
được TÔN TRỌNG khi so với thân phận hẩm hiu của người Phụ Nữ TÀU (hay
Phụ Nữ
TÂY PHƯƠNG trước đây) có lẽ là do nguồn
gốc NÔNG NGHIỆP của văn hóa VIỆT dựa trên TÌNH NGƯỜI, tính NHU THUẬN,
HÒA HIẾU.
c) Sự KHÁC BIỆT
giữa người
Phụ Nữ TÀU và VIỆT về mặt NHÂN QUYỀN còn được nhận thấy trên bình diện
LUẬT
PHÁP. Thật vậy, như đã đề cập trong bài viết trước đây, nếu LUẬT NHÀ
THANH có
lẽ do tính chất DU MỤC và PHỤ HỆ nên tỏ ra KỲ THỊ giữa con TRAI và con
GÁI,
giữa CHỒNG và VỢ,(ĐẠI THANH LUẬT LỆ, Điều 88 và Điều 78)) thì trái lại,
LUẬT
HỒNG ĐỨC nhờ còn giữ được tinh thần NÔNG NGHIỆP và BÌNH ĐẲNG nên về mặt
TÀI
SẢN, cho con gái được thừa kế ngang hàng với con trai. Và cho người đàn
bà có
chồng tiếp tục làm chủ tài sản riêng của mình. Khi ly dị hay cải giá,
người đàn
bà có chồng có quyền lấy lại các tài sản riêng của mình (QUỐC TRIỀU
HÌNH LUẬT,
Điều 388 và Điều 374-376).
Còn đối với thân phận của
người Phụ Nữ TÂY PHƯƠNG, «tại Mỹ, mãi tới năm 1890 nhiều tiểu bang mới
sửa đổi
và một số tiểu bang vẫn còn áp dụng học lý «Femme Couverte » của Thông
Luật,
theo đó NGƯỜI VỢ LÀ VẬT SỞ HỮU CỦA CHỒNG »(7)
d) Do đó, những
lới CHỈ TRÍCH
về các BẤT CÔNG của chế độ ĐẠI GIA ĐÌNH đối với QUYỀN LÀM NGƯỜI của CÁ
NHÂN là
người VỢ, người CON trong môi trường GIA TỘC của các phong trào chủ
trương THEO
MỚI như «Tự Lực Văn Đoàn » trước đây có thể được chúng ta «thông cảm »
nếu họ
chỉa «mủi dùi » vào loại xã hội như xã hội TÀU . Trái lại, chúng tôi có
cảm
tưởng là họ tỏ ra HƠI QUÁ MẠNH TAY đối với xã hội VIỆT!
C) CÁ NHÂN LÃNG MẠN
1) Tuy nhiên, có
lẽ do việc
Kinh NHẠC bị đánh mất nên kéo theo sự BẤT QUÂN BÌNH giữa THI và LỄ và
do sự
kiện là các môn đệ về sau không nối chí THẦY được đầy đủ nên thay vì
nhấn mạnh
đến Kinh THI như khi Khổng Tử chất vấn các môn sinh
«Tại sao các trò không học
Kinh THI ? Kinh THI có thể dùng để hứng khởi tình chí, quan sát suy tư,
để hợp
quần, và để kêu oan » (7)
hoặc khi Khổng Tử khuyên con
là Bá Ngư nên đọc Kinh THI vì theo Ông «Người
không đọc hai thiên Châu Nam Chiêu Nam (đề
cập đến vấn đề nam nữ
yêu đương) thì như quay mặt vào tường » (8),
thì trái lại các MÔN ĐỆ của
Ông sau nàyï lại quá NHẤN MẠNH đến Kinh LỄ.
2) Hậu quả là
dưới ảnh hưởng
của HÁN NHO và NHO của các Vương triều, khía cạnh CÁ NHÂN LÃNG MẠN đã
phần nào
bị «hy sinh », nhất là trong xã hội TÀU tương đối bị pha trộn nhiều yếu
tố DU
MỤC hơn xã hội VIỆT. Có lẽ do sự khiếm khuyết này của HÁN NHO nên phe Đối Lập chịu ảnh hưởng của học phái LÃO
TRANG tạm thời đóng vai trò BỔ TÚC về phương diện CÁ NHÂN LÃNG MẠN.
3) Nhưng nay thì
sự THIẾU SÓT
trên đã được LẤP ĐẦY với Chủ Thuyết AN
VI và VIỆT NHO qua sự kiện Cố Triết Gia Kim Định nhấn mạnh đến vai trò
TỐI QUAN
TRỌNG của Kinh THI trong chương trình GIÁO DỤC của Khổng Tử như phần
trình bày
ở trên cho thấy. Và môn sinh Chân Truyền của Cố Triết Gia là Nữ Sĩ Đông Lan qua các Bài Viết với Nội Dung
rất Sâu Sắc cũng như Hình Thức RẤT VĂN CHƯƠNG đã có ĐÓNG GÓP rất TÍCH
CỰC về
phương diện này.
4) Ngoài ra, các
phong trào
VĂN THƠ TIỀN CHIẾN có lẽ cũng có chút đóng góp về phương diện LÃNG MẠN
CÁ NHÂN.
Nhưng điều đánh tiếc là khi căn cứ trên thành quả mà
các trào lưu THEO MỚI này đem lại thì
LỢI BẤT CẬP HẠI, có lẽ do tính chất MỘT CHIỀU của
văn hóa TÂY
PHƯƠNG!.
Thật vậy, giống như tình
trạng vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX ở TÂY PHƯƠNG, do luật «mạnh
chống
mạnh chấp », khi mà trào lưu LÃNG MẠN
vì QUÁ đề cao TỰ DO CÁ NHÂN nên đã đưa tới tình trạng PHÓNG TÚNG ở cấp
độ CÁ
NHÂN và PHÂN HÓA CHIA RẼ ở cấp độ XÃ
HỘI, do đó đã MỞ ĐƯỜNG cho CHUYÊN CHẾ
ĐỘC TÀI qua các phong trào Phát Xít, Quốc Xã, thì có lẽ một tình trạng
TƯƠNG TỰ
cũng đã xảy ra đối với Miền NAM VN vào giai đoạn trước 1975 khi mà giới
Trí
Thức QUỐC GIA vì chịu ảnh hưởng nặng nề của CÁ NHÂN CHỦ NGHĨA kiểu Tây
Phương qua các trào lưu văn hóa THỜI
THƯỢNG Tiền và Hậu Chiến kiểu «Hiện Sinh », «Phản Chiến » có tính chất
«Son Đẹt
» theo lối J.P.Sartre , mà hệ quả là khuyến khích sự BUÔNG THẢ ở cấp độ
CÁ
NHÂN, đào sâu hố CHIA CÁCH giữa lớp TRÍ THỨC và ngưới DÂN cũng như gây ra sự PHÂN
HÓA CHIA RẼ trong hàng ngũ QUỐC GIA đã dẫn tới
sự THẤT TRẬN của
chúng ta trước ĐOÀN LŨ CHỦ NGHĨA của phong trào CỘNG SẢN với Biến Cố
1975!
KẾT LUẬN PHẦN MỘT
Tuy nhiên, nếu biết rút tỉa
kinh nghiệm từ biến cố đau thương nêu trên, thì từ nay chúng ta có khả
năng
tránh được các hậu quả TAI HẠI của lề lối LÃNG MẠN của loại Văn Hóa MỘT
CHIỀU
kiểu TÂY PHƯƠNG, bằng cách trở về với
khuynh hướng LÃNG MẠN Siêu Đẳng của nền Minh Triết HAI CHIỀU KÍCH của
VIỆT TỘC.
Hệ quả là khía cạnh NHÂN
QUYỀN mà việc thực thi đòi hỏi là nhu cầu TỰ DO LÃNG MẠN phải được TÔN
TRỌNG
nơi mỗi CÁ NHÂN, tuy đã phần nào bị «hy sinh » trong môi trường HÁN NHO
trước
đây, nay có thể được ĐÁP ỨNG đầy đủ với
sự ra đời của AN VI và VIỆT NHO là Chủ Thuyết có khả năng GIÀN HÒA Kinh THI và Kinh LỄ, khía cạnh LÃNG MẠN với
tập tục LỄ GIÁO, do đó mới có khả năng tiếp nối Truyền Thống Cao Đẹp
của nền
NHÂN BẢN TÂM LINH Đích Thực HAI CHIỀU KÍCH của Tổ Tiên LẠC VIỆT.
CHÚ THÍCH PHẦN MỘT
(1) Lê
Việt Thường, «Luật Hồng Đức và vấn đề Dân Chủ: Tinh Thần và
Thể Chế », «anviettoancau.net » Th.7/07.
(2) «Quốc
Triều Hình Luật » hay «Luật Hồng Đức » được giới Học Giả
Quốc Tế biết đến nhiều nhờ công
trình dịch thuật và bình giải của ba
Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy, Tạ Văn Tài, Trần Văn Liêm qua tác phẩm : »LÊ
Code: Law
in Traditional Viêt Nam » được Ohio University Press xuất bản năm 1987.
Đặc biệt Cố Gs Nguyễn Ngọc
Huy là một Chính Khách Việt có uy tín đối vơi giới Chính Trị Quốc Tế,
và là một
Học Giả thâm cứu về Chính Trị Đông Tây đã có dịp làm công việc Nghiên
Cứu tại
Đại Học Harvard.
Và Gs Tạ Văn Tài là Cựu Giảng
Sư tại Đại Học Harvard về bộ môn Luật Học và có công biên soạn tác phẩm
«The
Vietnamese Tradition of Human Rights » do University of California,
Berkeley
xuất bản năm 1988.
(3) Kim Định, «Cửa Khổng »,
nxb Lĩnh Nam, Louisiana, 1997, USA,
tr.208
(4) Nguyễn Ngọc Huy, «Di Cảo
V », Mekong Tỵ Nạn xuất bản 1994, tr.145-146
(5) Có
nghĩa là «Chỉ
có 1 người con trai cũng coi là có con. Dù có 10 người con
gái cũng coi như không con »
(6)
Nguyễn Hợp Minh, «Lịch Sử Tư Tuởng Trí Thức Dân tộc Việt
Nam Thế Kỷ XX », 2005 Úc, tr.72-82
(7) Lois W. Banner,»Women in
Modern America: A Brief History » San Diego:
Harcourt Brace Jovanovich Inc, 1984, tr.9
(8) Đoàn
Trung Còn, «Luận Ngữ », XVII.9, Trí Đức Tòng Thơ, in kỳ
2, SG 1950
«Tiểu tử hà mạc học phù Thi?
Thi khả dĩ hưng, khả dĩ quán, khả dĩ quần, khả dĩ oán »
(9) LN: XVII.10 «Nhơn nhi bất
vi Châu Nam, Chiêu Nam, kỳ do chính
tường diện di lập dã dư ».
PHẦN HAI: VƯỢT HÌNH THỨC ĐỂ
ĐẾN NỘI DUNG CỦA VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN
DẪN NHẬP
Phần trình bày trên đây (1)
cho thấy là trái với sự tin tưởng của đa số trong giới Trí Thức VN ngày
nay,
vấn đề DÂN CHỦ và NHÂN QUYỀN KHÔNG có Nguồn Gốc DUY NHẤT là TÂY PHƯƠNG
như
những người nàyï thường lầm tưởng. Và muốn nắm vững đề tài này, như đã
đề cập ở
phần trên, có lẽ cần phải hiểu rõ ẢNH HƯỞNG sâu rộng của NHO GIÁO đối
với Tư
Tưởng của thế kỷ XVIII còn được gọi là Thế Kỷ ÁNH SÁNG (le Siècle des
Lumières)
qua các người CHA TINH THẦN của nền Dân Chủ Tây Phương như Voltaire,
Montesquieu, Rousseau,Franklin, Jefferson. Ngoài ra, còn phải BIẾT VƯỢT
qua đợt
HÌNH THỨC, THỜI THƯỢNG để tiến TỚI phần NỘI DUNG, THỰC CHẤT của vấn đề
NHÂN
QUYỀN lẫn khía cạnh PHỔ BIẾN TÍNH thì mới mong NẮM bắt chút nào SỰ THẬT
bị chôn
vùi dưới tầng sâu của biết bao Khẩu Hiệu, Tuyên Truyền của đủ mọi loại
Thế lực
trong thời Cận Đại.
Giới Trí Thức VN hôm nay có
lẽ vì làm quen lâu ngày với lối Lý Luận HÌNH THỨC, MỘT CHIỀU của văn
hóa TÂY
PHƯƠNG nên cứ TƯỞNG là ở đâu, nơi nào người ta xử dụng nhiều từ ngữ như
DÂN
CHỦ, NHÂN QUYỀN..hay những cụm từ tương tự là loại ngữ vựng rất là THỜI
THƯỢNG
ngày nay, thì nơi đó THỰC SỰ có DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN!
Và họ cứ «yên trí » là vì Văn
Hóa TÂY PHƯƠNG, nhất là từ thời Cách Mạng Pháp, hay nhân danh hoặc
thường xử
dụng các từ ngữ nêu trên như DÂN CHỦ,
NHÂN QUYỀN hay QUYỀN LÀM NGƯỜI và đủ mọi thứ QUYỀN khác là nơi thực sự
xuất
phát Tinh Thần DÂN CHỦ cùng với NHÂN QUYỀN!
Nhưng những người này lại
thường quên đi sự kiện và điều NGHỊCH LÝ sau đây là cuộc CÁCH MẠNG 1789
của
PHÁP với bản Tuyên Ngôn NHÂN QUYỀN kèm
theo xảy ra vào thời kỳ lịch sử mà các quốc gia Tây Phương đang bành
trướng
mạnh mẽ chủ nghĩa THỰC DÂN ĐẾ QUỐC trên toàn Thế Giới.
Mà chúng ta ai ai cũng đã
từng nghe và đọc nhiều
về những hành vi lạm dụng, sai trái
của người Tây Phương trong các thế kỷ trước tại các nước nhược tiểu mà
họ cai
trị, không những về khía cạnh cưỡng đoạt các nguồn tài nguyên thiên
nhiên màu
mỡ, thiết lập những tương quan giao dịch bất công với các xứ thuộc địa,
mà còn
qua cach thức đối xử dã man, tàn ác đối với người dân bản xứ như người
Mỹ đối
với dân Da Đỏ hay người Anh đối với dân Bản Thổ Úc và rất nhiều thí dụ
khác mà
qua đó ngưới Tây Phương VI PHẠM một cách trắng trợn những điều khoản về
NHÂN
QUYỀN mà chính họ tuyên dương trong các Hiến Pháp của xứ sở họ.
Chúng ta có thể đặt câu hỏi ở
đây là tại sao lại có những điều NGHỊCH LÝ như vậy? Câu trả lời cho câu
hỏi
trên là có lẽ tại vì chính người TÂY PHƯƠNG
- I)ĐAU BỆNH»NHÂN QUYỀN »MỚI
HAY NÓI VỀ «NHÂN QUYỀN »
Và đó là
nhận xét rất là Ý
NHỊ, LÝ THÚ và XÁC ĐÁNG của Cố Triết Gia Kim Định khi đề cập đến vấn đề
nêu
trên. Cố Triết Gia lập luận như sau: «Thử lấy thí dụ trong đời sống
thực tế:
khi một người nói nhiều đến ĐAU RĂNG chẳng hạn, thông thường là tại
chính người
đó bị bệnh ĐAU RĂNG!!! »
Do đó, việc người Tây Phương
hay nói về hay đòi hỏi «Quyền Này, Quyền Nọ », nhất là gần đây về QUYỀN
LÀM
NGƯỜI hay NHÂN QUYỀN, có lẽ là chính vì họ đã bị MẮC CHỨNG BỆNH LOẠI
NÀY TỪ RẤT
LÂU ĐỜI.
Thật vậy, nếu nghiên cứu lại
Lịch Sử, thì «vết nhơ » tệ hại nhất của Văn Hóa TÂY PHƯƠNG là sự hiện
hữu trên
nhiều ngàn năm của chế độ NÔ LỆ. Mà đặc điểm là việc xem người NÔ LỆ
như là ĐỒ
VẬT: đối tượng của sự buôn bán, đổi chác, nên đó là loại chế độ PHI
NHÂN vì phủ
nhận nơi con người QUYỀN CĂN BẢN nhất là Quyền LÀM NGƯỜI!
Và điều đáng nói ở đây là không
những giới CHÍNH TRỊ gia mà chính những người làm VĂN HÓA
Tây Phương danh tiếng nhất cũng có thái độ
và chủ trương tương tự. Thật vậy, chúng ta biết là các Triết Gia cột
trụ của
Tây Phương như Plato, Aristotle .bênh vực chế độ Nô Lệ, coi như là điều
cần
thiết cho nền móng xã hội.(2) Và các Triết Gia Tây Phương
Thời Mới như Hobbes, Darwin, Machiavel,
Hegel vẫn biện
hộ cho việc dùng võ lực để chiếm đoạt và bóc lột các dân
nhược tiểu.(3)
Và cũng nên nhớ rằng mặc dầu
NÔ LỆ như là SỰ KIỆN thì đâu cũng có, nhưng điều đáng
trách ở đây là khi một nền VĂN HÓA như TÂY PHƯƠNG
qua các đại
diện ưu tú của họ, đã HỢP THỨC HÓA tình
trạng thực tế này trên bình diện LUẬT PHÁP để biến thành CHẾ ĐỘ NÔ LỆ.
Ngoài
ra, người Tây Phương cũng chỉ mới bãi bỏ chế độ NÔ LỆ trong thời gian
rất gần
đây thôi như Hoa Kỳ (1808), Anh (1833), Pháp (1845), Bồ Đào Nha
(1856).(4)
Trái lại, ĐIỂM SON của Văn
Hóa VIỄN ĐÔNG, nhất là LẠC VIỆT là đã BÃI BỎ loại Chế Độ BẤT NHÂN này
từ nhiều
ngàn năm trước.
Ngoài ra, làm sao giải thích
các THÀNH TÍCH rất là NGOẠN MỤC của Tổ
Tiên LẠC VIỆT như việc bãi bỏ sớm sủa chế độ Nô Lệ vừa đề cập ở trên
hoặc sự ra
đời của bộ Luật HỒNG ĐỨC với nội dung TIẾN BỘ VƯỢT BỰC về mặt NHÂN
QUYỀN với
khía cạnh PHỔ BIẾN TÍNH, VƯỢT BỰC ngay đối với các tiêu chuẩn của con
người hôm
nay, vào thời kỳ mà phần còn lại của Nhân Loại còn đang sống trong tình
trạng
dã man, mông muội?
- II)PHẠM TRÙ»NÔNG NGHIỆP - DU
MỤC » VÀ VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN
Câu Đáp Số
cho bài toán nêu
trên có lẽ bắt nguồn từ một khám phá rất quan trọng của Cố Triết Gia
KIM ĐỊNH
qua cặp Phạm Trù NÔNG NGHIỆP - DU MỤC. Trước đó, cặp phạm trù này cũng
đôi khi
họa hiếm được đề cập trong giới Nghiên
Cứu Quốc Tế, nhưng chưa ai xử dụng một cách nhuần nhuyễn, thấu triết,
hệ thống
cũng như rút tỉa được nhiều kết luận
phong phú, đa dạng và hữu ích như Cố Triết Gia về phương diện Triết Lý
Lịch Sử.
Đây là một cặp Phạm Trù NỀN
TẢNG mà nếu nắm vững được Ý NGHĨA thì mới mong hiểu được
NGUỒN GỐC và NỘI DUNG của các ý niệm căn bản
như PHỤ HỆ -MẪU HỆ, ĐỘC TÀI-DÂN CHỦ, MINH TRIẾT-TRIẾT HỌC
vvv . có thể giúp tìm câu ĐÁP SỐ cho các vấn
nạn có liên hệ xa gần với ý niệm NHÂN QUYỀN. Còn KHÔNG thì sẽ xảy ra
loại hoạt
cảnh «Người Mù Sờ Voi » hay kiểu «ông nói gà, bà nói vịt » với điều lạ
lùng
thường xảy đến là tuy phát biểu với nội dung rất là khác biệt, nhiều
khi tương
phản lẫn nhau nữa, nhưng tất cả những người này đều cùng nhân danh lý
tưởng DÂN
CHỦ, NHÂN QUYỀN cả!
A) NHÂN QUYỀN VÀ DÂN CHỦ
Ngoài ra, chúng ta có thể
nhận thấy là trong thời cận đại, nền DÂN CHỦ Tây Phương đã được thành
hình SONG
SONG với việc tranh đấu cho những QUYỀN căn bản của người DÂN của xứ
họ, qua
Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền của cuộc Cách Mạng Pháp 1789 chẳng hạn.
Một cách tương tự, như phần
trình bày của chúng tôi ở một bài viết trước, tính chất TIẾN BỘ VƯỢT
BỰC của
Luật Hồng Đức về mặt NHÂN QUYỀN cũng đi kèm theo với Tinh Thần và Thể
Chế DÂN
CHỦ đã hiện hữu từ thời rất xa xưa trong môi trường Làng Xã VIỆT. Do
đó, ta có
thể kết luận là hai ý niệm NHÂN QUYỀN và DÂN CHỦ thường đi đôi như hình
với
bóng.
Hệ quả của điều trên là nơi
nào, thời nào, nền VĂN MINH, VĂN HÓA nào thuận lợi cho sự nẩy sinh tinh
thần
BÌNH ĐẲNG, DÂN CHỦ, NHÂN BẢN thì cũng là nơi là thời là loại Văn Minh,
Văn Hóa
thuận lợi cho sự bảo vệ những QUYỀN CĂN BẢN nhất của Con Người hay NHÂN
QUYỀN
theo ngôn ngữ ngày nay.
B) VĂN MINH NÔNG NGHIỆP VÀ
VẤN ĐỀ DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN
Tính chất DÂN CHỦ, NHÂN BẢN
của Văn Hóa VIỆT theo ý
kiến của nhiều nhà Nghiên Cứu có tầm vóc Quốc Tế, được thể hiện một
cách trung
thực nhất qua thực thể LÀNG XÃ VIỆT như nhận xét của Học Giả Paul Mus
sau đây:
«Làng Việt Nam là cái gì kỳ diệu, vì trong đó người ta sống hoàn toàn
BÌNH ĐẲNG
cũng như là một tổ chức cai trị tuyệt vời »(5)
Lý do khiến những tác giả
danh tiếng ngoại quốc như Paul Mus đánh giá CAO môi trường Làng Xã VIỆT
có lẽ
là vì họ đã có dịp chứng kiến ở tận bên trời TÂY những cảnh BẤT CÔNG
Trầm Trọng
một thời gây ra bởi giới TƯ BẢN ở giai đoạn đầu tiên của Chủ Nghĩa này,
cũng
như những cảnh ĐỘC TÀI Tàn Bạo gây ra bởi phong trào CỘNG SẢN.
Câu hỏi có thể được đặt ra ở
đây là tại sao môi trường LÀNG XÃ VIỆT, lại có mối liên hệ thâm sâu với tinh thần BÌNH ĐẲNG, DÂN CHỦ, NHÂN BẢN mà hệ
quả tất yếu là nơi mà NHÂN QUYỀN có nhiều cơ may được tôn trọng nhất,
chẳng hạn qua nội dung của Triết Lý TẢ
NHẬM như phần
trình bày trước đây cho thấy.
Chúng ta biết Lịch Sử Con
Người bắt đầu với giai đoạn SĂN HÁI,
thường được ghi nhớ như là thời đại HOÀNG KIM vì lúc đó dân cư còn thưa
thớt,
con vật có đâu đó rồi, hoa trái thì đầy trên cây, nên con người thời ấy
chỉ
việc săn hái đem về.
Nhưng với thời gian, thú vật
dần dần thưa thớt, dân số gia tăng, nên nhân loại bước vào thời kỳ mà
Kinh Thư
gọi là GIAN THỰC, tức là từ đó con người phải khổ công mới có miếng ăn,
cho tới
khi con người khám phá ra được kỹ thuật GIEO TRỒNG mà mọi nhà nhân
chủng đều
đồng thanh xác quyết là do PHỤ NỮ tìm ra. Việc này rất quan trọng vì
giúp giữ
chân con người không cần đi lang thang hái lượm như trước nữa , mà có
thể ở lại
định cư, do đó đưa tới nhu cầu làm nhà và mọi đồ dùng khác. Và bắt đầu
giai đoạn
NÔNG NGHIỆP, MẪU HỆ cùng với
thời kỳ VĂN HÓA.
Trong xã hội NÔNG NGHIỆP,
tinh thần BÌNH ĐẲNG, DÂN CHỦ, NHÂN BẢN cũng như tínhï LIÊN ĐỚI TRÁCH
NHIỆM dễ
được nảy sinh do việc cấy cày gieo gặt đòi hỏi rất nhiều công việc tỉ
mỉ và
nhẫn nại, nên từ nhỏ tới lớn , tất cả mọi người đều có việc. Và để sống
còn, ai
cũng phải làm và làm một cách tận tình. Vì thế khi khai thác một thuở
ruộng thì
về mặt Năng Xuất , Gia Tộc thường vượt xa đoàn thể lớn. Cũng như nảy
sinh Tình
GIA TỘC trong môi trường NÔNG NGHIỆP là loại Xã Hội TÌNH trong đó Quyền
Uy tuy
vẫn cần thiết cho kết quả của công việc, nhưng được tiết giảm do chính
bầu khí
Gia Tộc. Do đó, TRÁCH NHIỆM trở thành LIÊN ĐỚI hơn là Độc Tài, cũng như
tương
quan trong xã hội có NĂM mối (NGŨ LUÂN) thay vì một luân duy nhất là
Chủ-Nô. Và
TÔN TI thay cho Giai Cấp : tức cũng có tình trạng GIÀU NGHÈO nhưng
không quá
chênh lệnh nhờ chế độ BÌNH SẢN cũng như Giàu Nghèo không có tính chất
cố định
nên mới có câu ca dao «Ai giàu ba họ, ai khó ba đời ».(6)
Và như đã nói ở trên, DÂN CHỦ
và NHÂN QUYỀN thường đi đôi vơí nhau như hình với bóng. Đó có lẽ là lý
do tại
sao Tổ Tiên LẠC VIỆT với nội dung Văn Hóa có tính chất thực sự BÌNH
ĐẲNG, NHÂN
BẢN của nền Văn Minh NÔNG NGHIỆP nên một mặt có được
Tinh Thần và Thể Chế DÂN CHỦ ở cấp LÀNG XÃ vào thời
rất xa xưa ,
cũng như mặt khác sau này, nước ĐẠI VIỆT qua bộ Luật HỒNG ĐỨC đã đi
trước TÂY
PHƯƠNG và phần còn lại của Nhân Loại ít
nhất 4,5 trăm năm về mặt NHÂN QUYỀN.
C) VĂN MINH DU MỤC VÀ VẤN ĐỀ
DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN
Nếu ở thời nguyên thủy, CON
chưa biết CHA, mà chỉ biết có MẸ nên cũng là khởi đầu của MẪU TỘC: đặt
tên con
theo tên đất, họ mẹ, song song với sự ra đới của Văn Minh NÔNG NGHIỆP
Nhưng từ
lúc định cư thì CON bắt đầu biết CHA, là điều sẽ dẫn đến văn minh PHỤ
HỆ nổi về
LÝ TRÍ. Nhất là đến lúc tranh chấp đất đai, con thú rồi đến con người
(chiếm về
làm nô lệ) thì xảy ra chuyện đánh nhau, mà đánh nhau thì phải có sức
mạnh nên
cần ĐÀN ÔNG. Sự chuyển mình này xảy ra vào khoảng thời kỳ khám phá ra
KIM KHÍ,
cũng là giai đoạn xảy ra CHIẾN TRANH đoạt NÔ LỆ giành đất đai mà kết
quả là sự
xuất hiện những ĐẾ QUỐC lớn như Babylon, Perse .bên miền Lưỡng Hà. Trào
lưu này
sau đó truyền qua Ai Cập, La Hy, Ấn Độ, Miền Thảo Nguyên đến tận Bắc
Trung Hoa,
mà Tần Thủy Hoàng là Đỉnh Cao của Văn Minh DU MỤC Tây Bắc ở bên miền
Viễn Đông
đề cao SỨC MẠNH, LÝ TRÍ.(7).
Do đó, Xã hội DU MỤC có các
nét đặc trưng như sau:
- ĐỀ CAO TÙ TRƯỞNG: và có lẽ
vì lý do SỨC MẠNH gia tăng theo tỷ lệ
thuận với sự PHỤC TÙNG, nên nhiều khi còn cần phải dùng đến phép THẦN
THÁNH HÓA
người chỉ huy để đạt được mục tiêu nêu trên.
-LIÊN HỆ CHỦ NÔ: Đó chỉ là
hệ quả của tinh thần đề cao tù trưởng đến cùng cực: CHỦ chiếm mọi Quyền
Hành,
dành cho NÔ mọi Nghĩa Vụ với sự SUY PHỤC trọn vẹn.
-GIAI CẤP: Đây cũng là hệ
quả của tương quan CHỦ NÔ, vì CHỦ không thể bao hết việc nên cần người
giúp. Và
để tăng quyền uy của Chủ thì những đầy tớ ở gần Chủ cũng được Thần
Thánh Hóa
như niềm tin bên Hy Lạp xưa là những người sinh ra từ Thần Zeus thì thuộc hàng QUÝ TỘC , mà giai cấp này trên
thực tế chỉ chiếm khoảng từ 10% đến 20% dân số. Phần còn lại TOÀN DÂN
là một
đoàn NÔ.
-THIÊN NHIÊN VÀ ĐÀN BÀ BỊ
ĐÀN ÁP.
Phần trình bày ở trên cho
thấy rằng Văn Minh DU MỤC thường đi đôi với chế độ PHỤ HỆ đề cao SỨC
MẠNH, LÝ
TRÍ và là mầm móng của CHUYÊN CHẾ, ĐỘC TÀI cùng với GIAI CẤP và chế độ
NÔ LỆ là
loại chế độ mà nét đặc trưng là PHỦ NHẬN ở đối tượng Quyền Căn Bản Nhất
là
QUYỀN LÀM NGƯỜI hay NHÂN QUYỀN.
Do đó, trong lãnh vực Triết
Lý Lịch Sử, cặp Phạm Trù NÔNG NGHIỆP - DU MỤC cũng thường đi đôi với
cặp Phạm
Trù DÂN CHỦ - ĐỘC TÀI.
III)TỔ TIÊN LẠC
VIỆT KHAI
SÁNG VĂN MINH VĂN HÓA NHÂN LOẠI
Một Hệ luận mà Cố Triết Gia
rút tỉa từ cặp Phạm Trù NÔNG NGHIỆP - DU MỤC là sự KHÁC BIỆT Nền Tảng
giữa một
bên là Xã Hội DU MỤC với tính chất MỘT CHIỀU
của QUYỀN LỰC Chính Trị đi từ TRÊN XUỐNG DƯỚI,
và bên kia là Xã
Hội NÔNG NGHIỆP với tính chất Cộng Tác Hỗ Tương Hài Hòa HAI CHIỀU Ngang
- Dọc.
Mà đại diện cho tinh thần NÔNG NGHIỆP chính là Huyền Sử TIÊN RỒNG của
Việt Tộc
được tiếp nối bởi cuốn KINH DỊCH với nội dung là Triết Lý ÂM DƯƠNG.
Ngoài ra, NHÂN CHỦ là cụm từ
mới mà AN VI dùng để gọi nền Nhân Bản Nông Nghiệp của Viễn Đông. Và
chính từ
khía cạnh NHÂN CHỦ của nền Văn Hóa Viễn Đông mà theo Cố Triết Gia, có
tính chất
«ĐỘC LẬP NHƯNG KHÔNG CÔ LẬP » ở cấp độ Siêu Hình đối với THIÊN-ĐỊA,
TRỜI-ĐẤT
thì mới có thể nảy sinh ở cấp độ Xã Hội một nền DÂN CHỦ Đúng Nghĩa.
Ngoài ra,
nội dung TẢ NHẬM trong Nho Giáo hay NHÂN QUYỀN theo ngôn ngữ ngày nay có thể dùng như THƯỚC ĐO về tính chất
CHÂN CHÍNH, ĐÍCH THỰC cũng như trình độ lẫn nội dung của một nền DÂN
CHỦ , đối
tượng của công việc nghiên cứu.
Văn Hóa VIỆT vượt trội Văn
Hóa TÀU, cả về khía cạnh HAI CHIỀU KÍCH từ huyền sử TIÊN-RỒNG đến đặc
tính QUÂN
BÌNH, ĐỐI XỨNG của Ca Dao, Tục Ngữ VIỆT ..vvv ..
lẫn về tính chất TẢ NHẬM nhằm bênh vực người cô
thế, yếu kém .được
nhận thấy từ thứ tự trong cách thức xưng hô như VỢ CHỒNG (tức VỢ trước
CHỒNG)
của VIỆT, thay vì PHU PHỤ (tức PHU trước PHỤ)Ï của TÀU, đến nội dung
của Bộ
LUẬT NHÂN QUYỀN ĐẦU TIÊN của Nhân Loại là QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT hay Bộ
Luật HỒNG
ĐỨC.
Đó chính là lý do của sự ra
đời của Chủ Thuyết VIỆT NHO qua đó, Cố Triết Gia đã chủ trương là:
- Dân LẠC VIỆT vào đất Trung
Hoa trước Hoa Tộc
- Nên đặt nền móng đầu tiên
cho NHO GIÁO
-Do đó là CHỦ NHÂN Thực
Sự của KINH DỊCH
Và từ đó, một loạt khám phá
của giới Học giả QUỐC TẾ, đi từ tính chất LÂU ĐỜI của nền Văn Minh NÔNG
NGHIỆP
của Sắc Dân HÒA BÌNH của TS Wilheim G. SOLHEIM II qua «Địa Đàng tại
Phương Đông
» của BS Stephen OPPENHEIMER là người chủ trương VĂN MINH NHÂN LOẠI BẮT
NGUỒN
TỪ ĐÔNG NAM Á, hay các khám phá về địa bàn của LÚA NƯỚC bên miền Viễn
Đông nằm
ở miền Nam Trung Hoa và vùng Đông Nam
Á, hoặc qua sự kiện là các CỔ VẬT ở đất VIỆT được xếp đặt theo BỘ SỐ
2-3-5 là
nguồn gốc của các thuyết ÂM-DƯƠNG (2), TAM TÀI (3), NGŨ HÀNH (5) của
Dịch
Lý .vvv đến
nội dung NHÂN QUYỀN của bộ Luật HỒNG ĐỨC, hoặc ï qua khám phá
của chúng tôi gần đây về tính chất LÂU ĐỜI của THỂ CHẾ Làng Xã VIỆT rất
TƯƠNG
TỰ với Thể Chế DÂN CHỦ Ngày Nay.
Tóm lại, phần trình bày trên
đây cho thấy Tổ Tiên LẠC VIỆT là TÁC GIẢ của
nền Văn Hóa HAI CHIỀU KÍCH, là đặc tính mà Triết
Gia lớn nhất của
Tây Phương cận đại Martin HEIDEGGER gọi là NÉT GẤP ĐÔI và theo Ông, Văn
Hóa Tây
Phương đã đánh mất từ lâu, nhưng là điều mà Nhân Loại hiện đang hướng
tới nhằm tìm GIẢI PHÁP cho cuộc KHỦNG
HOẢNG Văn Hóa
của con người hôm nay.
Kèm với tính chất HAI CHIỀU
của Văn Hóa là cặp Phạm Trù NHÂN CHỦ- DÂN CHỦ nhằm đáp ứng cũng như
QUÂN BÌNH
hai Nhu Cầu NỀN TẢNG trong mỗi người chúng ta là nhu cầu Trở Về NGUỒN
CỘI với
NHÂN và nhu cầu Hướng Đến sự TIÊN TIẾN
KHAI PHÓNG với DÂN, mà như đã đề cập ở trên, Triết Lý TẢ NHẬM hay Nội
Dung NHÂN
QUYỀN được truy nhận dưới nhiều khía cạnh và trong các lãnh vực khác
nhau của
Văn Hóa VIỆT, là THƯỚC ĐO nhằm KIỆN CHỨNG cho tính chất CHÂN CHÍNH ,
ĐÚNG NGHĨA
của nền NHÂN-DÂN-CHỦ của VIỆT TỘC.
Và tất cả các điều trên đều
XÁC NHẬN sự ĐÚNG ĐẮN của Chủ Thuyết VIỆT NHO đã được thành hình khoảng
nửa thế
kỷ trước đây trong công trình Văn Hóa Đồ Sộ của Cố Triết Gia KIM ĐỊNH.
- IV) LỊCH SỬ MẶT TRẬN NHÂN
QUYỀN
A) NHỮNG HÌNH THÁI VI PHẠM
NHÂN QUYỀN
Thật ra, trái với sự tin
tưởng của đa số, Mặt Trận NHÂN QUYỀN cũng như Tinh Thần DÂN CHỦ KHÔNG bắt nguồn từ TÂY PHƯƠNG với biến cố
thường được trưng dẫn là cuộc Cách Mạng 1789 của Pháp.
Riêng với Mặt Trận NHÂN
QUYỀN, điểm khởi đầu theo nghĩa RỘNG, có lẽ trùng hợp với sự xuất hiện
của
chính CON NGƯỜI. Thật vậy, nếu căn cứ trên các khám phá mới nhất của
Khoa Học,
thì mỗi CÁ NHÂN, bất kể NAM hay NỮ, là kết quả độc đáo, duy nhất về mặt
TÂM LÝ
của một sự DUNG HỢP giữa NAM TÍNH và NỮ TÍNH, mà mục tiêu nhắm tới là
đạt được
sự QUÂN BÌNH giữa hai khuynh hướng nêu trên, vì trạng thái QUÂN BÌNH
chính là
LUẬT TẮC có tính chất PHỔ BIẾN trong đời sống của Vũ Trụ, Vạn Vật và
Con Người.
Do đó, về mặt TÂM LÝ, NAM
Tính và NỮ Tính là những Phạm Trù có tính chất TƯƠNG ĐỐI. Hệ quả của
điều trên
là mỗi khi một cá nhân tìm cách QUÂN BÌNH NAM Tính với NỮ Tính, thay vì
để NAM
Tính LẤN ÁP NỮ Tính chẳng hạn, trong đời sống Nội Tâm của mình, thì đó
cũng có
thể là điểm khởi đầu của Mặt Trận NHÂN QUYỀN nhằm BẢO VỆ phần NỮ TÍNH
thường dễ
bị Nam Tính lấn áp.
Mở rộng lãnh vực Cá Nhân, mỗi
khi chúng ta chứng kiến trong một GIA ĐÌNH người CHỒNG hay người CHA
với những
hành vi ĐỘC ĐOÁN, thì đó cũng là một hình thức VI PHẠM NHÂN QUYỀN của
người
CHỒNG đối với người VỢ, của người CHA đối với người CON.. Hay với
trường hợp
một cặp TÌNH NHÂN, thì một người như TRỌNG THỦY trong Huyền Sử VIỆT, do
óc LÝ
TRÍ TÍNH TOÁN của Bắc Phương, đã PHẢN BỘI Tình Yêu Chân Thành của MỴ
CHÂU, thì
đó cũng là một thí dụ khác về VI PHẠM NHÂN QUYỀN.
Và lẽ dĩ nhiên, ở trong một
đồng văn rộng lớn hơn là XÃ HỘI, khi nhà CẦM QUYỀN, thay vì tuyên dương
tinh
thần Cộng Tác Hỗ Tương Hài Hòa giữa mọi người nhằm mưu cầu lợi ích
CHUNG và
PHỤC VỤ những Nhu Cầu Chính Đáng của Người DÂN như trong một xã hội
NÔNG NGHIỆP
Lý Tưởng, thì trái lại lợi dụng địa vị, quyền lực để BÓC LỘT người DÂN,
nhằm PHỤC VỤ cho CÁ NHÂN và GIAI CẤP
Thống Trị như trong một xã hội DU MỤC Điển Hình, thì đó là một Hành Vi
VI PHẠM
NHÂN QUYỀN Trắng Trợn.
B) NÔNG NGHIỆP - DU MỤC VÀ
MẶT TRẬN NHÂN QUYỀN
Do đó, có thể nói là Mặt Trận
NHÂN QUYỀN bắt đầu từ thời rất xa xưa, tận từ thời có sự ĐỤNG ĐỘ đầu
tiên giữa
một bên là Văn Minh NÔNG NGHIỆP và bên kia là Văn Minh DU MỤC. Và cuộc
chiến
này xảy ra ở khắp nơi, bên Âu Châu, Ấn Độ cũng như ở miền Viễn Đông,
nhưng với
những kết quả khác nhau.
Bên ÂU CHÂU, Văn Minh Minoens
NÔNG NGHIỆP hoàn toàn BỊ Văn Minh Hellens DU MỤC TIÊU DIỆT. Hệ quả về
Văn Hóa
là DUY LÝ, về Chính Trị là THẦN QUYỀN, về Xã Hội là GIAI CẤP (Classe)
kèm theo
với Chế Độ NÔ LỆ mới được Tây Phương
bãi bỏ ở thế kỷ XIX mà thôi.
Bên ẤN ĐỘ, Văn Minh Dravidien
NÔNG NGHIỆP cũng BỊ Văn Minh Aryen DU MỤC TIÊU DIỆT, nhưng không hoàn
toàn, nên
một chút còn lại của Văn Minh DRAVIDIEN đóng góp với ARYEN làm nên Văn
Minh ẤN
ĐỘ đầy dẫy những nghịch lý, mâu thuẫn. Hệ quả trên đại cương là về Văn
Hóa và
Chính Trị là THẦN QUYỀN, về Xã Hội là ĐẲNG CẤP (Caste) kèm theo với Chế
Độ NÔ
LỆ như bên Tây Phương. Tinh Hoa NHÂN BẢN của một chút còn sót lại của
Văn Minh
DRAVIDIEN là PHẬT GIÁO và VEDANTA, nhưng Vedanta phải trốn lên rừng,
còn Phật
Giáo phải lìa xứ Ấn Độ mới phát triển được.
Tóm lại, vì tại ÂU CHÂU lẫn
ẤN ĐỘ, Văn Minh NÔNG NGHIỆP bị THUA TRẬN trước Văn Minh DU MỤC, nên
cũng thua
luôn trên Mặt Trận NHÂN QUYỀN, mà bằng chứng là Chế Độ NÔ LỆ đã hiện
hữu trên
nhiều ngàn năm ở hai nơi này.
Trái lại, ở VIỄN ĐÔNG, tuy
Văn Minh Viêm Việt NÔNG NGHIỆP cũng BỊ Văn Minh Hoa Tộc DU MỤC LẤN ÁP,
nhưng có
lẽ vì tộc VIÊM VIỆT đã định cư tại đất Trung Hoa từ rất LÂU ĐỜI với dân
số ÁP
ĐẢO, nên khác với ẤN ĐỘ ở đây dân ARYEN chứ không phải DRAVIDIEN, có
vai trò
CHỦ ĐỘNG trong công cuộc Thống Nhất VĂN HÓA, thì ngược lại ở bên VIỄN
ĐÔNG, vai
trò CHỦ ĐỘNG về mặt VĂN HÓA không phải là HOA TỘC mà là VIÊM VIỆT, BÁCH
VIỆT,
LẠC VIỆT, ít nhất ở phần NỘI DUNG.(9)
Do đó, ở bên miền VIỄN ĐÔNG,
có một sự GIẰNG CO lâu đời giữa một bên là Văn Minh NÔNG NGHIỆP của
VIỆT TỘC và
bên kia là Văn Minh DU MỤC của HOA TỘC. Và mặc dầu kết quả đạt được
thay đổi
lên xuống theo dòng thời gian, nhưng cuối cùng cũng còn lại những ĐÓNG
GÓP giá
trị và lâu dài của VIỆT TỘC vào Gia Tài của Nhân Loại về khía cạnh NHÂN
QUYỀN bao gồm chẳng hạn về mặt THỂ hay
NGUYÊN LÝ, Triết Lý HAI CHIỀU KÍCH của Huyền Sử TIÊN RỒNG và DỊCH LÝ,
NHÂN CHỦ
tính cùng với nội dung TẢ NHẬM của VIỆT NHO .vvv hoặc
về mặt DỤNG hoặc THỰC HÀNH, bộ LUẬT HỒNG ĐỨC đi Tiên Phong
đối với phần còn lại của Nhân Loại về
mặt NHÂN QUYỀN , Tinh Thần và Thể Chế DÂN CHỦ của Làng Xã VIỆT và còn
rất nhiều
điều khác nữa, cùng với PHỔ BIẾN TÍNH là nét đặc trưng của các giá trị
nêu
trên.
C) BÀN CỜ MỚI VÀ MẶT TRẬN
NHÂN QUYỀN
Đó suýt soát là tình trạng
của Mặt Trận NHÂN QUYỀN cho tới các thế kỷ 17,18. Nhưng có những biến
cố quan
trọng đã xảy ra ở giai đoạn giao thời và chuyển tiếp này, mà vì nhiều
lý do
khác nhau, đại đa số trong giới Sử Gia Tây Phương vô tình hay cố ý đã
lướt qua,
nên khiến cho giới Trí Thức VN ngày nay hầu hết đều lầm tưởng về Nguồn
Gốc của
DÂN CHỦ và NHÂN QUYỀN.
Nhưng may mắn là còn sót lại
một vài chứng nhân lịch sử hé cho chúng ta thấy một BIẾN CỐ TỐI QUAN
TRỌNG đã
xảy ra từ thế kỷ 17 là ẢNH HƯỞNG LỚN
LAO của NHO GIÁO đối với giới TRÍ THỨC
TÂY PHƯƠNG của Thế Kỷ ÁNH SÁNG cùng với sự THÀNH HÌNH của NỀN DÂN CHỦ
TÂY PHƯƠNG.
Các biến cố quan trọng nêu trên có thể tìm thấy trong hai LUẬN ÁN, một
của một
Học Giả gốc Anh, G.F. HUDSON (10), và một của một Học Giả gốc Pháp, V.
PINOT
(11).
Phần trình bày chi tiết về
ẢNH HƯỞNG nêu trên của NHO GIÁO đối với những NGƯỜI CHA TINH THẦN của
NỀN DÂN
CHỦ TÂY PHƯƠNG như Voltaire, Montesquieu, Rousseau, Franklin, Jefferson ..đã được chúng tôi thực hiện trong một bài
viết trước đây(12). Mà hệ quả như nhận xét của GS H. CREEL là : «Bên Âu
và cách
riêng bên Pháp, tất cả những phương thức suy tư đã bị biến thiên trong
hai thế kỷ
XVII, XVIII. Và sau sự biến trạng đó thì nền tư tưởng Tây Âu trở nên
giống Viễn
Đông trong nhiều khía cạnh. Sự biến dạng cũng như trở nên giống nhau
không phải
chỉ hời hợt bên ngoài ».(13)
Thật vậy, giới Trí Thức VN
hôm nay cứ lập đi lập lại hai từ ngữ DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN như «Kinh Nhật
Tụng »
với «hồn vía » đang chăm chú hướng về phía Trời TÂY. Mà điều oái ăm ở
đây là họ
không biết đến sự kiện sau đây là NỘI DUNG của DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN thực
sự BẮT
NGUỒN từ nền VƯƠNG ĐẠO và Triết Lý TẢ NHẬM của VIỆT NHO. Và biến cố tối
quan
trọng này đã xảy ra ở các thế kỷ 17,18 như GS H. CREEL vừa nhận xét ở
trên.
- V) TÂY PHƯƠNG : THỂ CHẾ DÂN
CHỦ VÀ NHÂN QUYỀN
Mặt khác, nếu nghiên cứu Lịch
Sử một cách thấu đáo, chúng ta sẽ nhận thấy là không có dân tộc nào
«độc quyền
» về phương diện Văn Minh cả! Mà tùy theo thời cơ vận số, vai trò lãnh
đạo Văn
Minh chuyển tay từ dân tộc này qua dân tộc khác. Theo các khám phá mới
nhất
(14), thì CÁI NÔI của VĂN MINH NHÂN LOẠI nằm ở vùng ĐÔNG NAM Á. Và theo
dòng
thời gian chuyển qua TRUNG HOA, ẤN ĐỘ, LƯỠNG HÀ, AI CẬP, HY LẠP, Á RẬP,
rồi TÂY
PHƯƠNG.
Có những Học Giả danh tiếng
như Sử Gia Will DURANT cho rằng nếu KHOA HỌC theo nghĩa thời mới, xuất
hiện ở
bên Á RẬP, thì còn hợp lý hơn là ở Tây Phương. Nhưng người ta không
hiểu lý do
tại sao Văn Minh Á RẬP khi đã đạt được đỉnh cao ở thế kỷ XII, thì lại
gặp đủ
tai họa, hết thiên tai bão lụt lại đến họa Mông Cổ, nên cuối cùng bị
tàn phá
đến tận gốc rễ. May mà một chút còn lại của Văn Minh Á Rập được chuyển
qua Âu
Châu với các cuộc Thánh Chiến, làm «bàn đạp » cho sự phát triển Khoa
Học ở bên
Tây Phương sau này.
Có lẽ vì lý do GIÀU SANG SINH
LỄ NGHĨA chăng , nên do những nguyên nhân khác nhau trong đó phải kể
đến ẢNH
HƯỞNG của NHO GIÁO, Tư Tưởng DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN tự nhiên nở rộ bên Âu
Châu ở
Thế Kỷ ÁNH SÁNG, nhưng ở giai đoạn đầu chỉ trên bình diện LÝ THUYẾT mà
thôi! Vì
như đã nói ở trên, song song với các CHIÊU BÀI ở mặt TUYÊN TRUYỀN về
«Tự Do,
Bình đẳng, Huynh Đệ » của Cách Mạng Pháp 1789 là THỰC TẾ Phủ Phàng của
Chủ
Nghĩa THỰC DÂN THUỘC ĐỊA hoàn toàn đi
ngược lại với Tư Tưởng DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN mà chính họ tuyên dương.
Ngoài ra, ở các thế kỷ 18,19
tức vào thời kỳ đầu tiên của Chủ Nghĩa TƯ BẢN, tình trạng BẤT CÔNG trở
nên rất
TRẦM TRỌNG ngay trong chính Xã Hội TÂY PHƯƠNG. Và đó là lý do ra đời
của Chủ
Nghĩa CỘNG SẢN, mà áp lực đối với sự sống còn của giới Cầm Quyền TƯ BẢN
khiến
giới này theo dòng thời gian, phải dần dần nhượng bộ một phần quyền lợi
của họ
trước các yêu sách của giới THỢ THUYỀN. Và những BẤT CÔNG mà giới Thợ
Thuyền ở
Tây Phương đã phải gánh chịu trước đây, nay được chuyển qua các nước
THUỘC ĐỊA,
NHƯỢC TIỂU. Do đó, như đã nói ở trong một bài viết trước đây, nếu trước
kia nền
DÂN CHỦ LA-HY được dành cho 10% đến 20% thiểu số người Tự Do được gọi
là «Công
Dân », thì nền DÂN CHỦ TÂY PHƯƠNG Cận Đại, cũng như NHÂN QUYỀN có vẻ
chỉ dành
cho thiểu số các dân tộc DA TRẮNG!
Tuy nhiên, nhờ có TỰ DO, và
trước áp lực của hiểm họa CỘNG SẢN trong thời Cận Đại, các quốc gia TÂY
PHƯƠNG
đã phải thực hiện những CẢI TỔ trong xã hội họ về mặt DÂN CHỦ, NHÂN
QUYỀN, đem
lại một THỂ CHẾ DÂN CHỦ qua đó những QUYỀN CĂN BẢN của người DÂN của xứ
sở họ
được TÔN TRỌNG và là thành quả của sự QUÂN BÌNH về QUYỀN LỢI mà giới
THỢ THUYỀN
Tây Phương đã đạt được sau mấy trăm năm tranh đấu với giới CHỦ NHÂN.
Mặt khác có lẽ vì THIẾU TỰ DO
nên tình trạng trên không xảy ra đối với phong trào CỘNG SẢN, mà hậu
quả là
ngày nay các nước Cộng Sản còn sót lại có THÀNH TÍCH về NHÂN QUYỀN vào
hạng TỆ
HẠI nhất trên thế giới!!!
Ngoài ra, có lẽ vì hiểm họa
CỘNG SẢN đã biến mất ở giai đoạn gần đây nên các nước TƯ BẢN không còn
bị áp
lực nặng nề của ĐỐI LỰC như xưa nữa, nên các QUYỀN mà giới CÔNG NHÂN đã
đạt
được trước đây, đã phần nào bị «mai một », cũng như khoảng cách GIÀU
NGHÈO lại
gia tăng trở lại!
KẾT LUẬN VỀ PHẦN HAI
Tóm lại, nếu các nhà «ĐỘC TÀI
Á CHÂU » hôm nay nhân danh các «GIÁ TRỊ PHƯƠNG ĐÔNG » để TỪ CHỐI thực
hiện NHÂN
QUYỀN trên xứ sở họ, thì có lẽ trước đây không lâu, các CHÍNH TRỊ GIA
và ngay
cả giới TRIẾT GIA TÂY PHƯƠNG hình như cũng đã nhân danh các «GIÁ TRỊ
PHƯƠNG TÂY
» để KHƯỚC TỪ áp dụng NHÂN QUYỀN tại các nước THUỘC ĐỊA, NHƯỢC TIỂU.
Trái lại, TỔ TIÊN LẠC VIỆT có
lẽ vì, theo các khám phá mới nhất của Khoa Học, đã KHAI SINH VĂN MINH
VĂN HÓA
NHÂN LOẠI, tức TRƯỚC thời kỳ có sự phân biệt rõ rệt về CHỦNG TỘC lẫn
PHƯƠNG
HƯỚNG như Đông Tây Nam Bắc, nên các Giá Trị DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN mà CÁC
NGÀI đề
xướng đã đạt được PHỔ BIẾN TÍNH, tức có khả năng VƯỢT THỜI GIAN và
KHÔNG GIAN,
do đó có thể được ÁP DỤNG ở MỌI NƠI và MỌI THỜI.ø
CHÚ THÍCH PHẦN HAI
(1) Lê
Việt Thường «Nhân Quyền và Vấn Đề Phổ Biến Tính và các
«Giá Trị Phương Đông: PHẦN MỘT.
(2)Kim Định, «Cửa Khổng »,
nxb Lĩnh Nam, Lousiana, USA, 1997, tr.237
(3)Kim Định, «Nhân Chủ »,
Thanh Niên Quốc Gia, San Jose, USA, tr. 43
(4) Đông
Lan, «Yêu Mến An Vi », Văn Hiến, 2004, tr. 43
(5) Paul
Mus & John McAlister, «Vietnamese and their
Revolution », Harper, NY, 1970, tr.52
(6) Kim
Định, «Sứ Điệp Trống Đồng », Thanh Niên Quốc Gia, San
Jose, USA, tr.301-312
(7) Kim
Định, «Kinh Hùng Khải Triết » Thanh Niên Quốc Gia, San
Jose, USA, tr.103-105
(8) Kim
Định, «Sứ Điệp Trống Đồng », Thanh Niên Quốc Gia, San
Jose, USA, tr.309-311
(9) Kim
Định, »Nhân Chủ », Thanh Niên Quốc Gia, San Jose, USA,
tr.103-104
(10) G.F. Hudson, «Europe and
China, A Survey of Their Relations from the
Earliest Times to 1800 » E. Arnold, London(1961)
(11)V.
Pinot, «La Chine et la Formation de
l'Esprit Philosophique en France
1640-1740 », P. Geuthner, Paris, 1932
(12) Lê
Việt Thường, «Luật Hồng Đức và vấn đề Dân Chủ: Tinh
Thần và Thể chế » th.09/2007 mạng «anviettoancau.net »
(13) H.G. Creel, «Confucius
and the Chinese Way », Harper, NY 1960
(14) S. Oppenheimer, «Eden in
the East:The Drowned Continent of SouthEast Asia », Phoenix, London,
1998
PHẦN BA: TÍNH TUẦN PHỤC BẬC
TRƯỞNG THƯỢNG
DẪN NHẬP
Còn một khía cạnh khác của
vấn đề NHÂN QUYỀN, DÂN CHỦ với øcác «GIÁ TRỊ PHƯƠNG ĐÔNG » có liên quan
đến
điều mà giới Trí Thức hôm nay với cái nhìn thông thường TIÊU CỰC, nghĩ
là đã
tìm thấy trong văn hóa VIỆT NAM cách
riêng và Á CHÂU cách chung và thường
được mệnh danh là tính TUẦN PHỤC BẬC TRƯỞNG THƯỢNG hay Tinh Thần CHA
CHÚ
(Paternalism). Và họ lý luận là các đặc tính nêu trên là một CẢN TRỞ
Nghiêm
Trọng cho con đường DÂN CHỦ HÓA
của
Việt Nam và các dân tộc Á Châu khác, cũng như là một trong những Nguyên
Nhân
của tình trạng LẠM DỤNG về khía cạnh NHÂN QUYỀN trong các xã hội nói
trên!
Và các thí dụ mà họ thường
trưng dẫn, đưa ra hình ảnh của các sinh viên VN và Á Châu tuy với các
thành quả
vượt bực trong các kỳ thi viết, nhưng khác với sinh viên Tây Phương,
lại có
thái độ e dè, không «thoải mái » trong các buổi tranh luận, nhất là khi
phải
đặt vấn đề đối với lập trường, lý luận, kiến thức của chính các vị THẦY
HỌC của
mình. Và «trăm lần như một », họ đổ lỗi thái độ của các sinh viên nêu
trên cho
nội dung của nền văn hóa VIỆT và Á CHÂU mà theo họ quá đề cao tính TUẦN
PHỤC
của người Cấp Dưới, Trẻ Tuổi đối với
ngưới Cấp Trên, Lớn Tuổi .. !!! Có thật như vậy hay không?
Nếu quả đúng là lý do VĂN HÓA
như họ lập luận thì điều trên phải đúng cho mọi thời kỳ. Nhưng hầu chắc
là tình
trạng trên mới xảy ra gần đây khi TÂY PHƯƠNG dẫn đầu văn minh Nhân
Loại. Còn
trước đó, một mặt khi mà các dân tộc khác thay phiên nhau trong vai trò
LÃNH
ĐẠO Văn Minh Nhân Loại, tuần tự theo thứ tự thời gian tính về trước là
Á RẬP,
LA MÃ. HY LẠP, AI CẬP, LƯỠNG HÀ, ẤN ĐỘ, TRUNG HOA và LẠC VIỆT, và mặt
khác nếu
ta có cách nào so sánh chẳng hạn thái độ của giới Trí Thức Á RẬP vào
thời đại
hoàng kim của Văn Minh Á Rập ở vào khoảng thế kỷ XII, hay của giới Trí
Thức
TRUNG HOA vào thời kỳ thịnh vượng như dươí các triều đại Đường Tống,
hoặc của
giới Trí Thức VIỆT vào thời đại huy hoàng Lý Trần Lê, một bên , với bên
kia
thái độ của giới Trí Thức TÂY PHƯƠNG vào khoảng cùng một thời kỳ, tức ở
thời
Trung Cổ mông muội của Tây Phương khi mà nhà khoa học Galileo có «nguy
cơ » bị
đưa lên giàn hỏa chỉ vì theo lý thuyết cách
mạng của Copernic chủ trương «Trái Đất xoanh
quanh Mặt Trời », thì
có lẽ ta cần phải ĐỔI NGƯỢC lại hoàn toàn câu tuyên bố trên đây, tức có
lẽ phải
nói là vào các thời kỳ «vàng son » nêu trên của các dân tộc theo thứ tự Á RẬP, TRUNG HOA, VIỆT NAM,
thì giới Trí Thức của
các Dân Tộc liên hệ có lẽ có thái độ
giống như người sinh viên TÂY PHƯƠNG
ngày nay, còn giới Trí Thức TÂY PHƯƠNG vào cùng các thời kỳ nêu trên ,
ngược
lại có lẽ có thái độ giống như sinh
viên của các Dân Tộc khác ngày nay.
Do đó, có lẽ vấn đề nêu
trên liên quan nhiều đến yếu tố THỜI CƠ
VẬN SỐ lên xuống của các nền VĂN MINH kèm theo với lòng TỰ TIN của giới
Trí
Thức của dân tộc liên hệ hơn là nội dung của một nền VĂN HÓAï.
Có lẽ điều SAI LẦM Nền Tảng ở
đây của các người thường đổ thừa cho VĂN HÓA Việt và Á Châu cách riêng
cũng như
của các dân tộc KHÔNG phải là TÂY PHƯƠNG cách chung như là NGUYÊN NHÂN
Chính
của sự CHẬM TIẾN nói chung hay sự CẢN TRỞ cho tiến trình Dân Chủ Hóa và
việc
thực thi Nhân Quyền nói riêng, là họ không biết đến nội dung của bộ môn
VĂN HÓA
hay Văn Minh TỶ GIẢO mà một trong những Nguyên Tắc căn bản là phải tìm
cho ra
PHƯƠNG PHÁP nhằm đạt được sự CÔNG BẰNG Tối Thiểu trong công việc So
Sánh. Mà
một trong những hệ luận là TRÁNH SO SÁNH NHỮNG ĐIỀU KHÔNG TƯƠNG ĐƯƠNG
như so
sánh văn minh Tây Phương ngày nay đang ở thời Cực Thịnh của họ với văn
minh của
các dân tộc khác đang ở thời Suy Yếu và đổ lỗi cho Văn Hóa của các dân
tộc nàyï
là nguyên nhân của sự Suy Kém. Phương Pháp So Sánh thực sự thích nghi
và đúng
đắn trái lại đòi hỏi PHẢI SO SÁNH NHỮNG ĐIỀU TƯƠNG ĐƯƠNG như so sánh
thời Cực
Thịnh của một nền văn minh này với thời Cực Thịnh của một nền văn minh
kia,
thời Bình Thường với thời Bình Thường, thời Suy Kém với thời Suy Kém vvv .
Tóm lại, những người nêu trên
phạm phải LỖI LẦM Nghiêm Trọng là có lối nhìn CẬN THỊ quá dán mắt vào
hiện
trạng, do đó đánh MẤT tính VIỄN TƯỢNG và TƯƠNG ĐỐI
đối với chiều dài LỊCH SỬ của các dân tộc, là yếu tố
TỐI CẦN THIẾT
trong lãnh vực Văn Hóa hay Văn Minh TỶ GIẢO.
- I) CHỮ TRUNG. CHỮ HIẾU, CHỮ
LỄ CÓ PHẢI LÀ NGUYÊN NHÂN CỦA VẤN ĐỀ HAY KHÔNG ?
Đối với vấn
đề được mệnh danh
là tính TUẦN PHỤC đối với các BẬC TRƯỞNG THƯỢNG hay tinh thần CHA CHÚ
(Paternalism), người ta thường đem chữ TRUNG, chữ HIẾU, chữ LỄ của Nho Giáo là làm «vật tế thần ». Những
người này không biết hay «giả vờ » không biết đến sự phân biệt của Cố
Triết Gia
KIM ĐỊNH giữa VIỆT NHO và HÁN NHO, và tiếp tục dùng những luận cứ của
các thế
kỷ trước để đả phá Nho Giáo, xem như là nguyên nhân của nhiều điều Tiêu
Cực
trong Văn Hóa VIỆT, trong đó có tính TUẦN PHỤC BẬC TRƯỞNG THƯỢNG, bị
«cáo buộc
» là làm cản trở cho tiến trình Dân Chủ Hóa và tiến bộ về mặt Nhân
Quyền.
A) CHỮ TRUNG
1) THEO NGHĨA XÃ HỘI
Nói đến TRUNG, người ta
thường nghĩ ngay đến TRUNG QUÂN và đưa ra những thí dụ trong lịch sử về
sự
Trung Thành MÙ QUÁNG của đám Bề Tôi đối với các
Vua Chúa, đồng thời đổ lỗi cho Nho Giáo về tệ
trạng này.
Và kèm theo sau là câu «Trung
thần bất sự nhị quân » (= người trung không thờ hai chúa). Có lẽ do
thành kiến
và tính «lười biếng » tra cứu, học hỏi hoặc do một âm mưu nào đó, họ
gán bừa
cho Nho Giáo chủ trương trên. Nhưng có thật đúng như vậy hay không? Nếu
chịu
tra cứu đàng hoàng thì họ sẽ nhận thấy là câu trên không «ăn nhằm » gì
đến Nho
Giáo và Khổng Tử cả!
Thật vậy, «Khổng Tử không hề
để mình bị nô lệ với nhất, nhị, tam, tứ quân gì cả, mà mục tiêu của Ông
là chỉ
cốt thi hành Đạo Lý. Đạo có cần «nhị quân » thì cứ «nhị quân » như
chính Ông đã
bỏ vua nước Lỗ để đi tìm «nhị quân ». Và Ông cũng đã ca ngợi Quản Trọng
đã biết
«Sự Nhị Quân » đặng có cơ hội phụng sự dân nước (LN XIV.17)(1)
Câu kế tiếp thường được trích
dẫn là «Quân sử thần tử, thần bất tử bất trung » (=vua bảo tôi chết mà
tôi
không chết là bất trung » Câu này là của Thái Tử Phòng Tô, con Tần Thủy
Hoàng,
trả lời Mông Điềm khi vị Tướng này can Phòng Tô đừng chết ngay vì nghi
là Sắc
Lệnh do đám Triệu Cao, cận thần của Tần Thủy Hoàng giả mạo để bức tử
Phòng Tô.
Cho nên câu trên cũng không «ăn nhằm » gì với Nho Giáo cả!
Trái lại, tinh thần trung
thực của Nho Giáo được biểu lộ chẳng hạn qua câu sau đây của Tuân Tử :
«Tòng
Đạo bất tòng quân, nhân chi đại hạnh giả » (= theo Đạo mà không theo
vua, đó là
đại hạnh của con người)
Hoặc câu «Quân sử thần dĩ lễ,
thần sự quân dĩ trung » (= vua phải lấy lễ để đối đãi với tôi, thì tôi
mới lấy
trung mà thờ vua).
Như vậy, tương quan VUA-TÔI
theo quan niệm NHO GIÁO có tính chất HAI CHIỀU đối đãi đàng hoàng, chứ
KHÔNG
phải kiểu TRUNG QUÂN MÙ QUÁNG, MỘT CHIỀU như họ lầm tưởng!
Bằng chứng là Mạnh Tử còn đi
xa hơn nữa khi tuyên bố «Nếu vua coi thần như cỏ rác thì thần coi vua
như trộm
đạo (khấu trù) »(2)
Tóm lại, quan niệm về tương
quan CẤP TRÊN - CẤP DƯỚI của Nho Giáo như vừa trình bày ở trên tỏ ra
rất QUÂN
BÌNH, PHẢI ĐẠO, ngay đối với tiêu chuẩn của con người hôm nay, chứ đâu
có tính
chất Tuần Phục Bậc Trưởng Thượng một cách quá đáng như thường bị xuyên
tạc!!!
2) THEO NGHĨA TRIẾT LÝ
Nhưng chữ TRUNG trong Nho
Giáo không chỉ dừng lại ở
tương quan với Cấp Trên, với Bậc Trưởng Thượng trên bình diện Xã Hội,
mà còn
vươn lên đến cấp TRIẾT LÝ, SIÊU HÌNH. Và chính trên đỉnh cao này thì Nho Giáo mới đạt được Tinh Hoa của chữ TRUNG
Nền Móng như trong câu «Trung lập nhi bất ỷ, cường tai kiểú! » kêu gọi
Hành Giả
phải tự lập, tự cường không dựa vào đâu bất kể thế giá hay uy quyền,
hoặc ngoại
lực nào cả, nhưng phải «Doãn Chấp Kỳ Trung » tức phải tín thuận, kiên
trung với
Nội Ngã của mình, với cái Tâm Linh ở phần sâu thẳm nhất của lòng
mình.(3) Do
đó, VIỆT NHO hay VƯƠNG NHO là một nền Đạo Lý đề cao NHÂN CHỦ TÍNH đến
chỗ cùng
cực được thể hiện qua tính chất ĐỘC LẬP của Hành Giả không những đối
với CẤP
TRÊN hay BẬC TRƯỞNG THƯỢNG về mặt Xã Hội, mà còn với bất cứ thế lực nào
trên
mọi bình diện của cuộc sống.
Nhưng với HÁN NHO thì chữ
TRUNG bị hiểu thấp hẳn xuống: «Trung » hiểu là nửa nạc nửa mỡ, hoặc
cùng lắm là
điều độ trong công việc ..
B) CHỮ HIẾU
1) ĐẠI CƯƠNG
Ngoài ra, vì là con của Tần
Thủy Hoàng nên cũng chính Thái Tử Phò Tô còn thêm vào câu sau»Phụ sử tử
vong,
tử bất vong, bất hiếu » (= cha bảo con chết, mà con không chết là bất
hiếu), mà
người ta lầm tưởng là của Nho giáo, và thường được xem như
là thí dụ điển hình về loại
HIẾU ĐỂ có tính chất MÙ QUÁNG, MỘT
CHIỀU.
Có lẽ đến đây, chúng ta nên
thử xem thái độ của chính Khổng Tử đối với chữ TRUNG, chữ HIẾU như thế
nào :
«Học trò hỏi Thầy về trường hợp của Vệ Tuyên Công làm điều loạn luân
với Tuyên
Khương là vợ của con trai là Cấp Tử. Nhân Tề Hi Công cho người sang
mượn quân
nước Vệ, Vệ Tuyên Công sai Cấp Tử cầm cờ tiết lên đường, rồi sai võ sĩ phục kích giết chết. Công tử Thọ là con của
Tuyên Khương và Vệ Tuyên Công , biết được, thông báo cho anh và khuyên
đừng đi.
Nhưng Cấp Tử trả lời, đạo làm con không nghe lời cha là bất hiếu, đạo
làm bầy
tôi cãi lệnh vua là bất trung. Biết ra đi là chết, Thế Tử Cấp Tử vẫn ra đi để cho võ sĩ giết ..
Khổng Tử trả lời học trò,
hành động của Thế Tử Cấp Tử không gọi là hiếu hay trung, mà là NGU
HIẾU, NGU
TRUNG.(4)
Câu chuyện thứ hai trích từ
«Khổng Tử Gia Ngữ », Tam Thư, phần IX: Một hôm Ai Công nước Lỗ hỏi
Khổng Tử,
con theo mệnh cha có phải là hiếu không ? Tôi theo mệnh vua có phải là
trung
không ?
Hỏi ba lần mà Khổng Tử không
thưa. Khi ra ngoài, Khổng Tử đem câu chuyện đó nói lại học trò là Tử
Cống để
hỏi ý thế nào?
Tử Cống trả lời, con theo
mệnh cha là hiếu, tôi theo mệnh vua là trung, thì đúng như vầy, thưa
Thầy.
Khổng Tử nói người không biết
gì hết. Hiếu hay Trung còn tùy cha và vua không làm điều lầm lỗi. Cho
nên con
theo mệnh cha há đã là hiếu, tôi theo mệnh vua há đã là trung. Hiếu
đúng mới
gọi là HIẾU, Trung đúng mới gọi là TRUNG.(5)
Tóm lại, trái với những lời
cáo buộc rằng Nho Giáo với chữ HIẾU và chữ TRUNG là nguyên nhân của óc
CHA CHÚ
(Paternalism), thì qua những thí dụ trên đây, ta thấy chữ HIÊÁU và chữ
TRUNG
với Khổng Tử, không những không khuyến khích sự Tuân Phục mù quáng vào
các Bậc
Trưởng Thượng như người ta thường xuyên tạc, mà trái lại khuyên nhủ
hành giả
phải giữ được sự ĐỘC LẬP của mình trong Phán Đoán để xác định đâu thực
sự là
TRUNG và HIẾU, hầu tránh phạm những hành vi mang tính chất Ngu Trung
Ngu Hiếu!
2) LỄ GIA QUAN VÀ CHỮ HIẾU
Ngoài ra, nét Đặc Trưng của
nền Văn Hóa NHO, DỊCH, VIỆT là tính chất HAI CHIỀU. Do đó, chữ HIẾU tuy
là một
nét Đẹp của văn hóa Viễn Đông và Việt Nam, như nếu đứng riêng biệt một
mình
thiếu yếu tố đối đãi, bổ túc thì dễ trở thành HẸP HÒI. Nên nhớ rằng
Khổng Tử
lấy NHÂN làm Nền Móng, lấy HIẾU, ĐỂ, LỄ, NHẠC làm Phương Tiện nhưng đến
thời
Tăng Tử thì lấy HIẾU ĐỂ làm Nền Tảng nên đã phần nào bắt đầu tiến trình
SA ĐỌA
của Nho Giáo.
Thật vậy, muốn chữ HIẾU không
bị hiểu thấp xuống để dễ trở thành những thí dụ điển hình của các
trường hợp mà
óc Tự Chủ của người con bị đè bẹp và Khổng Tử gọi là Ngu Hiếu, thì chữ
HIẾU
phải đi kèm với Lễ GIA QUAN là một thể chế của Nho Giáo được thiết lập
nhằm
tuyên dương Óc ĐỘC LẬP của những người tới tuổi THÀNH NHÂN. Thể chế này
lúc đầu
được những người như Mạnh Tử tuyên dương, nhưng về sau từ nhà HÁN trở
đi, do
ảnh hưởng của các vương triều nặng óc DU MỤC, thì chữ HIẾU tiếp tục
được đề
cao, nhưng Lễ GIA QUAN thì lại bị «lơ là », quên lãng! May mà một dạng
của Lễ
Gia Quan gọi là Lễ THÀNH ĐINH còn được tiếp tục trong môi trường NÔNG
NGHIỆP
của Làng Xã VIỆT.
C) CHỮ LỄ
1) ĐẠI CƯƠNG
Cùng với chữ TRUNG, chữ HIẾU,
chữ LỄ cũng bị «cáo buộc » là nguyên nhân của óc CHA CHÚ (Paternalism)
trong
văn hóa VIỆT và NHO.
Chữ LỄ có nhiều nghĩa, nhưng
ở đây xin được dừng ở ý nghĩa đơn giản nhất là Lòng TRỌNG NỂ qua cụm từ
CUNG
KÍNH, với CUNG là lòng trọng nể mà mình dành cho chính mình, và KÍNH là
lòng
trọng nể mà mình dành cho người.
Nếu lễ GIA TIÊN của Việt Tộc
tuyên dương lòng tri ân, HIẾU THẢO mẹ cha , thì lễ GIA QUAN hay lễ
THÀNH ĐINH
đề cao óc tự lập tự chủ của con cái để vun tưới đức CUNG KỶ: tự trọng
mình, làm
cho mình trở thành ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ, xứng đáng là Đại Trượng Phu. Mà ĐẠI
hơn hết là không dựa vào đâu, nhưng tìm
thấy nơi
mình đủ lý do tồn tại.
Lễ GIA TIÊN chủ ở chữ KÍNH,
thế mà Tế Tự chính là để lòng KÍNH: «tế tư kính »(LNXIX.1). KÍNH là Đức
đầu
tiên đối với tha nhân, tỏ lòng tôn trọng nhân phẩm nơi tha nhân, tức là
nền
móng an bình cho xã hội. Vì bất cứ ai thấy được tôn kính cũng thấy thỏa
mãn
nguyện vọng thâm sâu trong lòng. Nên KÍNH là đầu mối của HÒA LẠC, an
vui. Đó
cũng là ý nghĩa của câu: «Tu kỷ dĩ kính. Tu kỷ dĩ an nhơn. Tu kỷ di an
bá tánh
»(LN: XIV.45) (6)
Phần trình bày trên cho thấy
là chính tính chất HAI CHIỀU của VIỆT NHO qua cụm tự CUNG KÍNH đã dung
hòa được
hai nhu yếu trong mỗi người: một bên là nhu cầu tỏ lòng HIẾU THẢO đối
với các
bậc sinh thành, dưỡng dục, dạy dỗ mình, là một nét ĐẸP
hiếm quý trong lãnh vực Văn Hóa được dân tộc
VIỆT thể hiện qua Lễ GIA TIÊN, và bên kia là nhu cầu ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ
của những
ai nuôi mộng thành QUÂN TỬ, ĐẠI TRƯỢNG PHU qua Lễ GIA QUAN của NHO hay
Lễ THÀNH
ĐINH của VIỆT, mới có khả năng tránh cho chữ LỄ cạm bẫy của óc QUYỀN
BÍNH, CHA
CHÚ (Paternalism) mà HÁN NHO và mọi nền Văn Hóa nặng óc DU MỤC, THẦN
QUYỀN đều
mắc phải.
Nhờ tính QUÂN BÌNH, NHÂN CHỦ
của VIỆT NHO qua đức KÍNH kêu gọi con
người tôn trọng NHÂN PHẨM nơi Tha Nhân như điều kiện thiết yếu cho chữ
HÒA, chữ
LẠC là Cứu Cánh mà con người thời nào nơi
nào cũng muốn hướng tới, do đó Nho giáo với chữ LỄ cùng đức KÍNH đi
cùng chiều
hướng DÂN CHỦ và NHÂN QUYỀN của Nhân Loại hôm nay.
2) CHỮ LỄ VÀ NỀN HÒA BÌNH THẾ
GIỚI
a) Dẫn Nhập
Như vừa nói ở trên, con người
thời nào nơi nào cũng muốn HÒA BÌNH, AN LẠC, vậy mà tại sao kết quả xảy
đến
thường là tình trạng TRANH CHẤP, BẤT AN ? Đến nỗi ta thường nghe hai
câu thơ
sau đây:
«Kể từ thiên hạ yêu nhau,
Đống xương vô định đã cao
bằng đầu »
Theo Cố Triết Gia KIM ĐỊNH,
sở dĩ thảm trạng đó xảy đến là tại con người thiếu MINH TRIẾT, tức nền
Triết Lý
HAI CHIỀU KÍCH.(7)
Ngoài ra, khi nghiên cứu về
Tinh Thần DÂN CHỦ ngày nay, học giả Charles Merriam có quy ra 5 Tiêu
Chuẩn, mà
một trong 5 điểm nêu trên là Niềm Tin vào khả năng cải thiện được tình
trạng xã
hội BẰNG THUẬN TÌNH HƠN BẰNG VÕ LỰC,(8) tức nói cách «nôm na » là BẰNG
Giải
Pháp HÒA BÌNH HƠN LÀ Phương tiện CHIẾN
TRANH.
Vậy thử xét xem về mục tiêu
vừa đề cập ở trên, con người ngày nay đã phần nào đạt được hay chưa ?
Ai cũng có thể nhận thấy là
cho đến ngày nay, LỊCH SỬ con người phần lớn là lịch sử của CHIẾN
TRANH, Tranh
Chấp xảy ra ở mọi nơi, mọi thời, mà nguyên nhân trước tiên có lẽ là do
sự NGU
DỐT nói chung. Nhưng có một loại Tranh Chấp liên quan đến lãnh vực VĂN
HÓA mà
người ta thường gọi là Xung Đột Ý THỨC HỆ có lẽ bắt nguồn từ nền Triết
Học DUY
LÝ của bộ ba Socrates - Plato - Aristotles.
Thật vậy, tính chính chất DUY
LÝ, MỘT CHIỀU, của nền Triết Học Cổ Điển TÂY PHƯƠNG đã đưa tới việc
TUYỆT ĐỐI
HÓA mọi sự, mọi việc trên cõi đời này bằng cách như Plato đã làm, là
PHÂN CHIA
Thực Tại ra làm HAI phần: bên Lý Giới (le monde des Idées) bên Trần
Giới (le
monde Sensible), bên Thiện bên Ác, bên Chánh bên Tà, bên Ta bên Người
vvv và vì nguyên lý CẤM MÂU THUẪN trong
Triết
TÂY nên văn hóa Tây Phương chủ trương «chọn MỘT bỏ MỘT » do đó là đầu
mối của
mọi chứng bệnh DUY sau này, cũng như mở đầu cho Chiến Tranh Ý THỨC HỆ:
Duy TÂM
chống Duy VẬT, HỮU Thần chống VÔ Thần, Tư Bản chống Cộng Sản .vvv ..
Chính sự kiện TUYỆT ĐỐI HÓA
nêu trên thường gây ra tình trạng THÙ HẬN triền miên giữa các phe phái
như giữa
DO THÁI hay TÂY PHƯƠNG với Á RẬP, cũng như khiến đương sự dễ đánh MẤT
chút LỄ
ĐỘ Tối Thiểu đối với Đối Phương! Trái lại, chính bầu khí
TƯƠNG ĐỐI nhẹ nhàng của nền Văn Hóa VIỆT NHO
không những khiến người ta cố gắng giữ một mức LỄ ĐỘ cần thiết, mà còn
giúp
đương sự dễ có óc BAO DUNG, THA THỨ, như Tiền Nhân ta đã nhiều lần
chứng tỏ đối
với Kẻ Thù.
Tóm lại, có lẽ nguyên do
khiến người Tây Phương THẤT BẠI trong việc xây đắp nền HÒA BÌNH cho Thế
Giới,
cũng như sự kiện nền Dân Chủ kiểu TÂY PHƯƠNG không đạt được mục tiêu
của điều 5
của Tinh Thần DÂN CHỦ vừa nêu trên là «tìm cách cải thiện xã hội bằng
THUẬN
TÌNH HƠN BẰNG VÕ LỰC » bắt nguồn từ tính chất DUY LÝ, MỘT CHIỀU của nền
Văn Hóa
TÂY PHƯƠNG. Mà hệ luận là người Tây Phương có khuynh hướng giải quyết
mọi sự
mọi việc trên cõi đời này bằng cách CHỈ DỰA TRÊN LÝ TRÍ.
Nhưng như Pascal đã viết «Le
Coeur a ses raisons que la Raison ne
connait pas » (= Con Tim có những lý lẽ mà Lý Trí không thể nào hiểu
được) do
đó nếu chỉ xử dụng cơ năng Lý Trí, khả năng giải quyết vấn đề của con
người rất
giới hạn!. Lý do đầu tiên dễ hiểu là theo các khám phá mới nhất của
khoa Tâm
Lý, LÝ TRÍ Ý THỨC chỉ chiếm cỡ 10% trong toàn thể Cơ Cấu Tâm Lý của con
người.
Và người ta thường so sánh phần LÝ TRÍ Ý THỨC nhỏ như Sông Hồ với phần
VÔ THỨC
lớn như Đại Dương.
Ngoài ra, nếu không hành động
như Tiền Nhân ta là LẤY cái TÂM bao la, rộng lớn như Trời Đất để DÀN
HÒA phần
LÝ TRÍ Ý THỨC với phần VÔ THỨC, mà chỉ dựa trên LÝ TRÍ mà thôi như
người Tây
Phương thường làm, thì do định luật Tâm Lý mà Cố Triết Gia KIM ĐỊNH gọi
là luật
«MẠNH CHỐNG MẠNH CHẤP », người ta thường không đạt được kết quả. Có lẽ
do sự
kiện luật QUÂN BÌNH chi phối mọi sự mọi việc trên cõi đời này, phần VÔ
THỨC khi
ở trong trạng thái mâu thuẫn xung đột với phần Ý THỨC, thường khiến
chúng ta
LÀM NGƯỢC LẠI điều mà phần LÝ TRÍ Ý THỨC chủ xướng!
Chẳng hạn, người Tây Phương
MIỆNG (đại diện phần LÝ TRÍ Ý THỨC) thì hô hào Tự Do, Bình Đẳng, Huynh
Đệ như
trong bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền 1789 của Pháp nhưng
TAY (đại diện phần VÔ THỨC) thì thực hiện những hành
vi Tàn Bạo,
Sai Trái Phi Nhân trước tiên đối với đồng bào của họ, sau đóï và nhất
là đối
với các sắc dân khác!
Và gần đây hơn nữa, những
Chính Trị Gia Tây Phương kiểu Cựu Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger
bên ngoài
(tức phần LÝ TRÍ Ý THỨC) thì hô hào DÂN CHỦ kiểu TÂY PHƯƠNG, nhưng bên
trong(
tức phần VÔ THỨC) lại ĐI ĐÊM với các
chế độ Chuyên Chế ĐỘC TÀI tại các xứ NHƯỢC TIỂU.
Do đó, chúng ta không nên lấy
làm lạ về điều NGHỊCH LÝ sau đây là cuộc CÁCH MẠNG 1789 của PHÁP với bản Tuyên Ngôn NHÂN QUYỀN kèm theo(tức
LÝ TRÍ Ý THỨC) xảy ra vào thời kỳ lịch sử mà các quốc gia Tây Phương
đang thi
đua nhau bành trướng mạnh mẽ thế lực của họ cùng với chủ nghĩa THỰC DÂN
ĐẾ QUỐC
(tức BẢN NĂNG VÔ THỨC), trên toàn Thế Giới, hết Tây Ban Nha, Bồ Đào
Nha, Hòa
Lan . ở các thế kỷ 16,17 lại đến Anh,
Pháp, Bỉ ở các thế kỷ 18,19.
Chưa kể là cùng lúc ngay trên
xứ sở họ, ra đời đủ loại chủ thuyết PHI NHÂN nào là PHÁT XÍT, QUỐC XÃ,
TƯ BẢN,
CỘNG SẢN ..vvv .đưa tới hai cuộc THẾ CHIẾN và sau đó là các cuộc CHIẾN
TRANH
THUỘC ĐỊA, Ý THỨC HỆ giết hại hàng trăm triệu ngưới và gieo rắc biết
bao đau
thương trên khắp thế giới. Và cuộc Chiến Tranh VIỆT NAM thảm khốc vừa
qua mà
dân tộc Việt Nam đã gánh chịu, là một thí dụ ĐIỂN HÌNH.(9) Đến nỗi
Triết Gia
lớn nhất của Tây Phương Cận Đại là M. HEIDEGGER phải thốt lên câu sau
đây: «Văn
Hóa TÂY PHƯƠNG đi đến đâu thì đem MÁU và NƯỚC MẮT đến đó »!!!
b) Hai Lối Giải
Quyết Vấn Đề
Những ngưới Trí Thức Tây Học
VN, nhất là có dịp sống ở ngoại quốc thường «phục » lối giải quyết vấn
đề của
người Tây Phương mà họ cho là thẳng thắn, cởi mở, hợp pháp, hợp lý,
trái ngược
với thái độ của ngưới Việt mà họ cho là «rào trước đón sau »!
Đối với trường hợp người Tây
Phương, nhận xét về tính «cởi mở hợp pháp » nêu trên có lẽ cũng chỉ
đúng ở trên
bề mặt, vì gần đây biết bao vụ «xì căn đan » của các đại công ty liên
quốc tại
HK như Enron ..»biển thủ » cổ đông viên
lên cả hàng tỷ bạc, chứng tỏ tính chất «lươn lẹo, bất hợp pháp » của họ
thường
được che dấu. Đó chỉ là những vụ gian lận bị «bắt quả tang », còn biết
bao
trường hợp gian lận khác không bị bắt gặp! Chưa kể giới Tư Bản Tây
Phương với
thế lực tiền bạc trong tay, lợi dụng những «kẻ hở » của luật pháp cũng
như «lobby » (tức hối lộ) giới dân cử
nhằm phục vụ quyền lợi của giai cấp họ!
Ngoài ra, thành phần Tây Học
VN ở ngoại quốc có lẽ vì quen với lối «chạy đua », «tranh thủ thời giờ
»(mà họ
thường quên đặt câu hỏi về mục tiêu của việc này), nên tỏ ra khó chịu
đối với
thái độ của người Việt nói chung, mà họ cho là «úp úp mở mở »!
Thật ra, người Việt với tập
tục Việt mà sống ở ngoại quốc thì có thể ví như lấy một nhánh «chiếc »
ở cây
Việt mà đi «cắm » ở một nơì khác phong thổ, thì lâu ngày nhánh cây trên
sẽ trở
nên khô héo, «còm cõi »! Do đó, để có được sự CÔNG BẰNG tối thiểu trong
công
việc So Sánh, có lẽ phải thử đặt thái độ, tập tục của ngưởi Việt liên
quan đến
đường lối Giải Quyết Vấn Đề, trong đồng
văn của bầu khí Văn Hóa VIỆT ở thời Sung Mãn, như khi nhánh cây nêu
trên còn
gắn liền với CÂY VIỆT mọc trên ĐẤT VIỆT.
Về lãnh vực GIẢI QUYẾT VẤN
ĐỀ, ta có thể phân loại hai đường lối có thể tạm gọi là TRỰC TIẾP và
GIÁN TIẾP.
Hãy lấy một thí dụ cụ thể là
một người anh em, bạn hữu, phối ngẫu hay cho sát với đề tài hơn là một
Bậc
Trưởng Thượng như Mẹ Cha, Thầy Học hay hồi xưa là Vua Quan, còn ngày
nay là Chủ
Nhân, «Chef », «Boss », CẤP TRÊN làm một điều LẦM LỖI. Và vấn đề đặt ra
ở đây
là ta sẽ có thái độ như thế nào trong trường hợp này?
Người Tây Phương thường theo
lối giải quyết TRỰC TIẾP, tức là đi thẳng ngay vào vấn đề và xử dụng LÝ
TRÍ
cùng với hai phương tiện chính yếu là
NGÔN NGỮ và LÝ LUẬN. Vì những lý do nêu trên, lối Giải Quyết này có lẽ
thích
hợp cho chuyện ĂN LÀM, MƯU SINH, nhưng cũng đến mức độ nào đó thội! Còn
đối với
những vấn đề tế nhị, phức tạp hơn của cuộc sống, như trường hợp vừa nêu
trên
thì có lẽ họ không được thành công lắm! Bằng chứng là tỷ lệ lớn lao về
số lượng
đổ vỡ gia đình của người Tây Phương ngày nay khi mà LÝ TRÍ được xử dụng
một
cách tối đa.
Do đó, Tiền Nhân ta thích đi
theo lối GIÁN TIẾP hơn đòi hỏi nhiều thời giờ, công phu và nhẫn nại.
Lối này
thường tỏ ra HỮU HIỆU hơn lối Trực Tiếp. Tuy nhiên, Các Ngài cũng không hoàn toàn loại bỏ lối TRỰC TIẾP,
nhưng xem như HẠ SÁCH tức chỉ dùng sau khi lối Gián Tiếp không đạt
đượckết quả.
Sở dĩ Tiền Nhân ta thích
theo lối GIÁN TIẾP hơn có
lẽ vì rất sành Tâm Lý con người nên Các Ngài biết là các phương tiện
của LÝ TRÍ
như Ngôn Ngữ, Lý Luận là những phương tiện BẤT TOÀN để đo lòng người.
KHOA HỌC
ngày nay cũng xác nhận TRỰC GIÁC
của
Tiền nhân ta khi khám phá ra rằng CON NGƯỜI cụ thể không những có LÝ
TRÍ, mà
còn cả TÂM TÌNH, TIỀM THỨC, Ý CHÍ, SIÊU THỨC .vvv .với tính chất ĐA
KÍCH , ăn
thông với Thiên Địa Vạn Vật.
Phương pháp gọi là GIÁN TIẾP
không đi thẳng ngay vào vấn đề, vì Các Ngài biết rõ tính chất HÀM HỒ
của Ngôn
Ngữ, nên nếu chỉ dựa trên Lời Nói mà thôi thường dẫn tới NGỘ NHẬN. Về
mặt LÝ
LUẬN, ta có thể THẮNG LÝ nhưng chưa
chắc đã THUYẾT PHỤC được đối phương! Còn vấn đề TỰ ÁI thường khiến con
người MÙ
QUÁNG, chưa kể đến TƯ CÁCH của đương sự có
xứng đáng làm công việc «thuyết nhân » không ?
KẾT LUẬN PHẦN BA
Vậy nên bằng cả TÂM HỒN, tức
con người Toàn Diện bao gồm thái độ, hành vi, cách cư xử mà khoa Tâm Lý
học
ngày nay gọi chung tên là «body language», cả lời nói «gián tiếp» nữa,
mục đích
của công việc là giúp đương sự TỰ Ý
THỨC về sự SAI TRÁI của mình và TỰ SỬA ĐỔI. Nếu phương pháp GIÁN TIẾP
này, có
tính chất «Tình Lý Tương Tham», đạt kết
quả thì Tiền Nhân ta mới xem là THƯỢNG SÁCH, vì DUNG HÒA được sự ĐỘC
LẬP, TỰ
CHỦ của «thuyết nhân » trong Phán Đoán với CHỮ LỄ mà «thuyết nhân » cần
phải có
đối với tùy trường hợp, người Đồng
Đẳng, Cấp Dưới hoặc Bậc Trưởng Thượng.
Thật vậy, nếu mỗi người trong
chúng ta cố gắng áp dụng Phương Pháp XỬ THẾ Thâm Trầm, Sâu Sắc này của
Tổ Tiên
LẠC VIỆT, thì có lẽ một ngày không xa HÒA BÌNH, AN LẠC sẽ đến với từng
NGƯỜI,
từng GIA ĐÌNH, cả DÂN TỘC và NHÂN LOẠI
nữa!
Tóm lại, chữ TRUNG, chữ HIẾU,
chữ LỄ của VIỆT NHO nếu được đặt đúng chỗ trong đồng văn của nền MINH
TRIẾT,
tức Triết Lý HAI CHIỀU KÍCH của VIỆT TỘC, thì không những KHÔNG LÀM CẢN
TRỞ như
thường bị «cáo buộc», mà còn ĐÓNG GÓP TÍCH CỰC vào tiến trình DÂN CHỦ
HÓA và đặc biệt Chữ
LỄ, chữ KÍNH còn giúp Nhân Loại Tôn Trọng NHÂN
PHẨM, Thực Hiện NHÂN
QUYỀN cũng như Đem Lại AN LẠC, HÒA BÌNH Thực Sự cho toàn Thế Giới!
Lê
Việt Thường
CHÚ THÍCH
PHẦN BA
(1)Kim Định,
«Định Hướng Văn
Học », Ra Khơi Nhân Ái, SG, VN, 1969, tr.148
(2)Kim Định, «Pho Tượng Đẹp
Nhất của Việt Tộc », An Việt, CA, USA,1984, tr.74
(3)Kim Định, «Định Hướng Văn
Học », Idem, tr. 147
(4)Nguyễn Thị Sông Hương,
«Yếu Tính Phá Sản Trong Tổ Quốc Ăn Năn », Đại Nam, CA, USA, tr. 148
(5)NTSH,
Idem tr.151
(6)Kim
Định, «Hồn Nước và Lễ Gia
Tiên », Nam Cung, CA, USA, 1979, tr. 132
(7)Kim
Định, Nhân Chủ », Thanh
Niên Quốc Gia, CA, USA, 1982, tr. 13
(8)Charles Merriam, «The New
Democracy and the New Despotism », McGraw-Hill, New York, London, 1939
(9)Lê Việt Thường, «Nhân
Quyền và Vấn Đề Phổ Biến Tính và «Giá Trị Phương Đông», PHẦN HAI.
|
|