|
Gần cuối
thập niên 40, suốt hai năm trời chạy giặc lánh nạn, gia đình chúng tôi
mới lên
đến được Chợ-Lớn.
Đến được Chợ Lớn, gia đình chúng tôi xem như đã thoát
nạn, may mắn hơn
biết bao nhiêu gia đình khác vẫn còn đang ngược xuôi trong đồng sâu khỉ
ho cò
gáy, lành ít dữ nhiều.Chợ Lớn thời đó cũng không phải là nơi an toàn
đối với
những người dân nghèo khổ quanh năm sống lam lũ thiếu ăn, thiếu mặc bên
ngoài
các khu phố. Vùng đất rộng thênh thang từ cầu Chữ Y đến cầu Nhị Thiên
Đường chỉ
có vài chòm nhà gần lò heo Chánh Hưng, ngoài ra toàn là rừng lau sậy và
bãi tha
ma hoang phế, ban ngày cũng ít khi thấy bóng người lai vãng. Càng ra xa
hơn
càng hiễm nghèo, bên kia sông là khu Phạm Thế Hiển, căn cứ địa của lực
lượng
Bình Xuyên. Về đêm, thường xãy ra những cuộc chạm súng giữa Việt minh
với lính
Tây, hoặc với Bình Xuyên, chúng tôi ở phía bên nầy sông, là những nạn
nhân chịu
đựng những lần bôm đạn thường xuyên triền miên như thế. Bởi vậy, khi
trời tối
tất cả mọi nhà đều tắt đèn và ở trong nhà, trừ trường hợp bất khả
kháng, không
ai dám đi lại ngoài đường.
Saigon lúc đó chỉ có tám quận, quận Sáu, quận Bảy và quận
Tám được xem
là khó kiểm soát an ninh nên hàng đêm, lịnh giới nghiêm được ban hành
từ mười
giờ đến sáu giờ sáng. Trong giờ giới
nghiêm, các trục lộ giao thông trong quận đều bị ràn cản bằng kẽm gai
và có
lính gác, nội bất xuất, ngoại bất nhập, trừ những trường hợp đặc biệt,
đi phải
đốt đèn như đàn bà sanh nở, bệnh tật bất thường phải vô nhà thương,
v.v...Song
song đó, lính quận thường đi tuần tiểu trong giờ giới nghiêm và sẳn
sàng nổ
súng vào những ai còn đi lang thang ngoài đường hoặc vào những nơi mà
chúng
nghi ngờ. Thời đó, Việt minh thường hay
tổ chức những cuộc khủng bố nhằm vào lính Tây và những người mà họ cho
là “Việt
gian”, sau đó, lính Tây tìm giết người Việt mà họ khả nghi để trả thù,
khiến
cho người dân luôn sống trong cảnh trên đe, dưới búa, lúc nào cũng hồi
hợp, lo
âu.
Đường phố về đêm rất ãm đạm vì ít đèn điện, xa xa mới có
được một bóng
đèn, ánh sáng không đủ tỏa một màu vàng nhạt nhòa, vào những đêm mưa
lâm râm
thấy, như phảng phất những mùi tử khí. Các khu nhà lá, khu lao động chỉ
xài đèn
dầu, nhà nào khá giả mới có được ngọn đèn khí đá hoặc đèn măng xong,
nhưng đến giờ
giới nghiêm thì cũng phải tắt hết nên tất cả đều chìm trong sự lặng im
một cách
ghê rợn.
Hồi đó, tôi còn nhỏ, cứ 6 giờ sáng thì thức dậy theo chị tôi để phụ giúp gánh hàng rau cải
ra chợ bên quận Năm bán để mưu sinh cho gia đình. Từ nhà tôi ra chợ
phải đi
ngang qua một cây cầu sắt cao chỉ dành cho người đi bộ, trên đó, thỉnh
thoảng
thấy người bị giết chết trong đêm, còn để nằm vắt ngang giữa cầu, còn
dưới sông
thì cũng thường thấy người chết trôi lềnh bềnh mà người ta gọi là “Hình
Chổng”,
hay “Thằng Chổng”. Không biết những người đó là ai và tại sao họ lại bị
giết
chết như vậy?
Phương tiện phổ thông để di chuyễn đường Saigon - Chợ-lớn
thời đó là xe
điện, xe thổ mộ (loại xe có mui do một con ngựa kéo), xe xich lô đạp,
xe
location (xe hơi, thường là xe của Pháp hiệu Simca, Traction, Citroen)
dành cho
những người có tiền hay những người có việc cần phải đi gắp. Tuy nhiên,
dù là
loại xe nào, bao giờ cũng chờ đầy ấp người rồi mới chạy.
II.Phương Pháp Tuyên Truyền:
Vấn đề tuyên
truyền lúc đó có
hai tương phản rõ rệt:
1.- Về phía
thực dân Pháp:
trên đài phát thanh Pháp Á Saigon cũng
như trên các dĩa đá đen 90 tour được phát hành, hàng ngày chúng ta nghe
được
những bài vọng cổ mùi mẫn làm tê tái lòng người, làm nhục chí thanh
thiếu niên
qua những giọng ca ủy mị, sáng giá bậc nhứt vào thời đó, ví dụ câu vọng
cổ sau
đây do Năm Nghĩa hát:
1.- Một khi đã lậm với ơ, ơ...tình, thì phải yêu đương
trong câm lặng và
nhớ nhung trong bất bình, khi hỏi lại tâm hồn thì mới hay rằng đã chứa
chan
nhiều điều trắc ẩn.
2.- Bó tay về với yêu đương là tự mình dìm sâu trong hàng
lệ thãm sầu
thương, mà cơ hồ như cuộc đời quặn thắt trăm chiều....
................................
Mấy mươi năm về trước bên kia trời Âu có một khách lụy
tình trụy lạc,
quá cảm động nên đề mấy dòng thơ kiệt tác. Đã không mong gì nữa thì
thôi....
(Tình Trong Mây Nước)
Rồi những tuồng hát như Lan Và Điệp, xúi những kẽ buồn
tình duyên phận
sớm tìm đến cửa chùa, Tuồng Ông Lái Heo, già cả, bán heo có tiền lên
Saigon,
chạy theo trụy lạc, bỏ phế gia can,v.v...
Ban đêm, nghe những tiếng hát nầy văng vẵng phát ra từ
dàn hát máy nhà
ai, thật là buồn não nuột, dễ làm cho con người trở nên sầu thãm, lụy
tình rồi
đăm ra cờ bạc, rược chè, hút sách, trụy lạc, truy hoan...
Đó là chánh sách của thực dân Pháp, mục đích đốn ngã tất
cả ý chí phấn
đấu của người Việt nam để chúng dễ dàng trong việc cai trị.
2.- Về phía người Việt nam:
Để phản ứng lại chánh sách tuyên truyền của người Pháp, nhiều nghệ sĩ
Việt nam
có những tác phẩm làm khích động lòng yêu nước của toàn dân. Trong số
những
sáng tác nầy, có nhiều nhạc phẩm bị cấm lưu hành, nhưng không vì thế mà
không
được hổ biến.
Người nghệ sĩ vốn có tâm hồn lãng mạn luôn được biểu
lộ qua những nốt nhạc, lời ca. Trong thập niên 40, nền tân nhạc còn rất
phôi
thai, còn xa lạ với người Việt Nam, nhưng thời kỳ nầy là thời kỳ toàn
dân kháng
chiến chống lại sự đô hộ của người Pháp rất là mãnh liệt, nên nhiều
nhạc sĩ cố
gắng sáng tác một số nhạc khích động, sôi nổi, mục đích khơi dậy lòng
yêu nước
của toàn dân để hưởng ứng những phong trào cách mạng đang đuợc phát
động.
Khắp các hang cùng, ngõ hẽm, đâu đâu ta cũng nghe tiếng
hát của trẻ em
lẫn người lớn:
Thanh
niên ơi! Hồn tiêng núi sông đợi chờ
Nơi tay ta toàn dân ngóng trông từng giờ
Mang máu anh hùng, ta đừng làm nhơ máu anh hùng
Trai đất Việt phải nêu ngời sáng, thế giới ngắm chung
(Khỏe
Vì Nước)
Nầy
thanh
niên ơi! Đứng lên đáp lời sông núi
Đồng lòng cùng đi, hy sinh tiếc gì thân sống
(Tiếng
Gọi Thanh Niên)
Ta nguyền đồng lòng
điểm tô non sông
Từ nay ra sức anh tài
(Lên
Đường)
Một đoàn người trai hiên ngang, đeo trên vai nợ máu
xương,
Vui ra đi không buồn nhớ thương
(Khởi
Hành)
Bên hàng dừa cao, dòng sông mơ soi bóng
Có những chiến binh trầm thây trên máu hồng
(An
Phú Đông)
Nền tân nhạc thời đó tuy chưa được nhiều người quen biết,
nhứt là giới
bình dân và những loại nhạc kễ trên là những nhạc bị cấm, nhưng nó vẫn
được phổ
biến rộng rãi.
Phương tiện truyền thông thời đó dường như chỉ có đài
phát thanh, vấn đề
đại nhạc hội rất hiếm hoi và nếu có cũng chỉ là môn giải trí của những
người có
tiền, giới có học, ngoài ra là những tuồng cải lương do các gánh hát
trình diễn
có tánh cách quần chúng nhiều hơn vì đáp ứng được thị hiếu chung và
cũng không
đòi hỏi quá đáng đến khả năng tài chánh của giới bình dân.
Người bình
dân có được một chiếc máy radio để nghe đài phát thanh thì thật hiếm
hoi, cả
một làng, một xóm, may mắn lắm mới có được một nhà có máy radio mà nhạc
được
hát trên đó vốn không phải là nhạc cấm, không phải là nhạc cách mạng mà
là nhạc
Tây, nhạc tình cảm, nhạc ru ngủ, khéo léo lắm người ta mới chen được
vào đó một
vài bản nhạc tình tự quê hương.
3.- Đội
ngủ người mù: Như đã nói
trên, những loại nhạc hùng ca, nhạc cách
mạng chỉ được phổ biến trong dân gian qua chuyền miệng, hát cho nhau
nghe một
cách lén lút, nhưng đặc biệt và hữu hiệu nhứt là tổ chức hát rông của
nhóm
người mù. Khoảng thời gian từ năm 1947 đến năm 1953, có rất nhiều nhóm
người mù
đi hát dạo xuất hiện, họ đi khắp làng, khắp xóm, nhứt là những xóm
nghèo. Thông
thường, mỗi lộ trình chỉ có một, hai người mù được một em bé khoảng
dưới 10
tuổi dẫn đi. Nhạc cụ của họ thông thường chỉ là một cây đờn mandoline,
họa hoằn
lắm mới có được một cây đờn guitare, ai mời họ hát thì phải trả tiền,
mỗi bản
50 xu, lối xóm xúm lại nghe, ai muốn nghe tiếp thì cứ bỏ 50 xu vào lon
và được
nghe bản nhạc yêu cầu. Người mù hát say sưa, hát như cái máy hát, nhưng
đặc
biệt họ chỉ hát nhạc cấm, nhạc hùng, nhạc cách mạng mà thôi. Tuy đui mù
khổ sở,
đi hát rông để kiếm ăn, nhưng họ không bao giờ hát nhạc ủy mị, ru ngủ,
nếu có
ai hỏi tại sao, thì họ trả lời giống nhau: “Không biết bản nhạc đó”.
Tất cả
những nhóm người mù đều có lối hành xử rập khuôn như thế. Không biết họ
ăn đâu,
ở đâu, nhưng có điều là họ xuất hiện đồng loạt, ngày nào cũng như ngày
nấy,
người ta đều thấy họ chia nhau đi “kiếm ăn”, cũng với cùng một số bản
nhạc
giống nhau như thế.
Có lúc họ
cũng bị lính Tây bắt, tra gạn, nhưng họ là những kẻ đui mù, tàn tật,
chọn mưu
sinh bằng nghề hát rông thay vì làm ăn mày, lính Tây không khai thác
được gì
nên rồi cũng làm lơ. Nhờ vào đó mà nhạc cách mạng được lan truyền rất
nhanh. Ở
khắp mọi xóm, đi đâu ta cũng nghe trẻ con hát:
Mờ trong
bóng chiều, một đoàn quân thấp thoáng
Núi cây
rừng, lắng tiếng nghe hình dáng của người anh hùng
........
Hồn quật
cường chờ mong giây phút chiến thắng,
Thù hận
đời lấp tan
(Chiến Sĩ
Vô Danh)
...
Toàn dân
nghe chăng, Sơn hà nguy biến?
Hận thù
đằng đằng, biên thùy rung chuyễn.
(Hội Nghị
Diên Hồng)
....
Đây, Bạch
Đằng Giang, sông hùng dũng của nòi giống Tiên Rồng
Giống
giống Lạc Hồng, giống anh hùng Nam Bắc Trung
(Bạch Đằng
Giang)
....
Con
sông Bạch Đằng êm trôi triền miên,
Có
biết đâu bao năm qua là mồ quân Nguyên
(Trên
Sông Bạch Đằng)
Ngoài
ra còn có những loại nhạc kễ chuyện cổ tích như: Trầu Cau, Thiếu Phụ
Nam Xương, đặc biệt hơn cả là 3 bản nhạc Hòn Vọng Phụ của Lê Thương,
dựa vào
đại áng văn Chinh Phụ Ngâm Khúc để soạn nên đã nhanh chóng ăn sâu vào
tâm khảm
củ mọi người và trở thành 3 kiệt tác phẩm bất hủ trong lịch sử tân nhạc
Việt
Nam.
Hồi
đó, đi đâu cũng nghe hát từ em bé, mục đồng cho đến những nàng thôn nữ
với những lời trau chuốt đẹp đẻ:
Vui
ra đi rồi không ước hẹn ngày về
Ai
quên ghi vào gan đá bao nguyện thề
(Hòn Vọng
Phu I).
Một số
nhạc sĩ khác xoay qua khía cạch chánh trị như:
Kìa nền
dân chủ sáng chói non sông
Toàn dân
mong sao sống đời hạnh Phúc
(Nền Dân
Chủ)
Để chống
nạn mù chữ, lúc đó có thể nói là khoản 80% dân số, người ta mở những
lớp Truyền
Bá Quốc Ngữ, dạy ban đêm ở nhiều nơi:
Lòng vui
sướng, anh em ơi! Tim thắm nhuần tình đồng bào,
Trai đời
mới sao cho nên tiếng trai
Cùng đi
gieo sáng tươi vào lòng người đó đây,
Cùng đi
gieo khắp nơi chữ ta
Nơi thôn
quê tối tăm, đời mịt mù xót xa
Tiếng kêu
than, tiếng rền vang đồng quê
Đánh thức
giấc toàn dân chìm đắm trong cơn mê
Nhọc nhằn
mới nên danh thanh niên
(Gieo Ánh
Sáng)
Những nhạc
phẩm trên đã mở đường, khai lối cho nền tân nhạc du nhập vào Việt nam.
Với sự
khéo léo và tài năng đa dạng, các nhạc sĩ tiền phong đã chuyễn những âm
điệu xa
lạ của nền tân nhạc hòa nhập nhanh chóng vào tâm hồn của mọi tầng lớp
nhân dân,
chiếm một vị trí quan trọng trong địa hạt phát triễn văn hóa, nghệ
thuật Việt
nam. Từ đó, tạo nên những tác động mạnh để truyền bá những tư tưởng
mói, khơi
dậy lòng yêu nước của mọi người, góp phần không nhỏ trong công cuộc
tranh đấu
chống thực dân Pháp trên toàn quốc.
Năm 1954,
sau khi đất nước bị chia đôi, nhiều văn nghệ sĩ ham chuộng tự do đã lìa
bỏ quê
hương miền Bắc để vào Nam lập nghiệp, ngay cả những người ở trong khu
chiến từ
cuộc cách mạng mùa thu năm 1945, đã thấy rõ chân tướng bán nước của Hồ
Chí Minh
và đảng Cộng sản nên cũng quyết tâm từ bỏ miền Bắc để vào Nam. Từ đó,
nền tân
nhạc của hai miền Nam Bắc chuyễn mình theo hai khuynh hướng khác nhau,
tiêu
biểu rõ ràng cho hai miền Nam, Bắc.
1.- Miền
Bắc: Miền Bắc, với sự cai trị độc tài khắc nghiệt của Hồ Chí
Minh và đảng Cộng sản, thi hành nghĩa vụ quốc tế nên chủ trương gieo
rắc hận
thù dân tộc và xăm lăng miền Nam, do đó, nhạc miền Bắc chỉ được sáng
tác theo
một chiều nhất định theo lịnh đảng, nên lời lẻ luôn luôn đầy sắt máu và
hận
thù. Phát xuất từ tinh thần đó, qua người ca sĩ miền Bắc, trên đài
phát-thanh
Hà-nội hồi đó và ngay cả sau nầy, chúng ta luôn được nghe những giọng
ca the
thé, cao vút với những lời mạt sát, chưởi bới hung-tợn
như những con thú dữ đang điên-khùng,
cào-xé, bắn giết anh em của những Lưu-Hữu-Phước, những Nguyễn-Văn-Tý,
những tên
bồi bút, văn-nô “Hồng hơn Chuyên”. v.v...
Vào năm
1978, sau khi được nghe một số ca sĩ miền Nam hát tại công-ty Đại-Dương
tại
Quận Tư, Khánh-Hội, Saigon, một ông Phó Cục-Trưởng Cộng-sản trong cơn
chếch-choán hơi men, đột nhiên thốt lời:” Cũng những bài hát nầy, ca-sĩ
miền
Nam hát nghe sao hay quá, trong khi những ca sĩ miền Bắc hát nghe như
chó sủa”!
Lời
phát-biểu nầy quả là một sự đánh giá xác-đáng về thể-chế chánh-trị của
hai miền
Nam, Bắc hay nói đúng hơn là sự khác biệt của Tự-do và Cộng-sản.
Nhiều
văn-nghệ sĩ miền Bắc thời đó đã nhìn thấy thâm ý dã-tâm bán nước của
tập-đoàn
Cộng-sản nên cùng đứng ra thành-lập phong-trào Nhân-Văn Giai-Phẩm để
chống lại
chánh-sách của đảng Cộng-sản, lập-tức họ bị đàn-áp dã-man, như Văn-Cao,
như
Hữu-Loan, như Hoàng-Cầm, như Nguyễn-Bính...một số khác tìm đường vượt
sông
Bến-Hải trốn vào Nam, trong số đó có nhà văn Vũ-Anh-Khanh, tác-giã bài
Tha-La
Xóm Đạo, đã bị bộ-đội Bắc Việt bắn chết khi sắp đến được bến bờ tự-do,
bên nầy
sông Bến Hải.
2.- Miền
Nam: Miền Nam sống trong tự-do, mọi người dân cùng nhau góp
công điểm-tô, xây-dựng, đất nước, nên hồn nhạc vô cùng phơi-phới, không
bị
gò-bó, trái lại, nó còn biểu-lộ tình thương chan-hòa trong cảnh sống
thái-bình
và hạnh-phúc, cho nên tự nó đã dễ-dàng thâm-nhập sâu vào tâm-hồn mọi
người từ
giới thượng-lưu, trí-thức cho đến các nàng thôn-nữ, các em bé mục-đồng.
Chúng
ta thấy, nhạc thời đó là lúa chín vàng, là trăng thanh, là hoa đồng cỏ
nội, là
tình yêu đôi lứa, là tình yêu thương cha mẹ, anh em , là tiếng chày, là
nhịp
võng, là những điệu ru tươi-mát, dịu-hiền như nước dừa tươi, như đọt
nhãn lồng,
như cọng rau má.
Trong xóm,
trong làng hay ngoài đồng lúa, đâu đâu ta cũng nghe những tiếng cười
dòn, những
đoạn ca khúc:
Người từ,
từ là phương Bắc
Đã qua
dòng sông, sông dài
Tìm đến
nơi nầy, một nhà thân-ái.....
(Khúc Hát
Ân-Tình - Xuân-Tiên)
Mừng trăng
lên chúng ta cùng múa hát
Ước mong
sao lúa hai mùa thơm ngát
Lúa về
mang bao khúc ca tuyệt vời...
(Khúc Ca
Ngày Mùa - Lam-Phương)
Trong đêm
trăng, tiếng chày khua
Ta hát
vang trong đêm trường mênh-mang
Ai đang
say, chày buông rơi nghe tiếng vơi, tiếng đầy...
(Gạo Trắng
Trăng Thanh – Hoàng-Thi-Thơ)
Em gái
vườn quê, cuộc đời trong-trắng
Dầm mưa
dãi nắng mà em biết yêu trăng đẹp ngày rằm
Anh biết
mặt em, một chiều bên thềm,
Giọng hò
êm-đềm và đôi mắt em lóng-lánh sau rèm...
(Duyên Quê
– Hoàng-Thi-Thơ)
Làn sóng
đồng-bào miền Bắc bỏ làng, bỏ xóm, bỏ mồ-mã tổ-tiên, trốn chạy Cộng-sản
độc-tài
để vào miền Nam tự-do lập nghiệp, mang theo nhiều nhạc-sĩ cùng với các
nhân tài
miền Nam đã làm tươi sáng khuôn mặt của nền tân nhạc, phản-ảnh
trung-thực
xã-hội miền Nam của một thuở thanh-bình, an-lạc. Vào những đêm trăng
rằm sau
mùa lúa, đất ruộng khô, thôn xóm miền Nam thường có những buổi lễ cúng
đình,
chùa trong xa có tổ-chức hát bội, nhân dịp những đêm như vậy, người ta rũ nhau đi dự lễ
thật đông. Thôi thì, kẻ trên bờ đê, người
dưới ruộng, đi tắt,
băng đồng, từng nhóm người vừa đi vừa kễ chuyện, cười đùa nhộn-nhịp,
nam thanh,
nữ tú, trẻ em chạy nhãy tung-tăng, làm sinh-động những khung-cảnh
tuyệt-vời
trong cánh đồng bao-la, bát-ngát cùng với tiếng trống đình chùa từng
hồi, tưởng
chừng rung-động cả vầng trăng.
Được sống
trong cảnh nầy mới thấy tình quê thật là thấm-thía. Trong quyễn
Đoạn-Tuyệt, có
đoạn, nhà văn Nhất-Linh viết:” ...Biểu-tượng của đất nước không phải là
những
bậc vua chúa hay danh nhân mà chính là những đám dân hèn không tên
tuổi. Dân là
nước, yêu nước là yêu chung những đám thường dân, nghĩ đến sự đau-khổ
của đám
thường dân...”.
Bản nhạc
Xóm Nghèo,( không nhớ tên tác-giả), đã biểu-lộ những nét đáng yêu về
tình-tự
dân-tộc nầy mà thời đó, có một lúc chúng ta thường được nghe trên đài
phát
thanh Saigon:
Tôi yêu
xóm nghèo, nhà tranh mái thấp xiêu-xiêu
Quanh-co
ngõ quen, quen từ tất đất quen vào
Cây đa vút
cao, ôm làn gió mát vào xóm
Con sông
nước xanh, thuyền xuôi ngược tháng ngày chiều hôm.
....
Từ tờ-mờ
sương khi nắng mới vừa reo vui
Từng đoàn
trai gái quảy gánh tiến ra chợ rồi
Vui trong
tiếng cười là đoàn trai đi gặt hái
Ê-a khắp
xóm tiếng học bài rộn bên tai...
(Xóm
Nghèo)
Phương-tiện
truyền-bá văn-nghệ thời-kỳ nầy thật phong-phú, nhiều vui-tươi và
hấp-dẫn. Ngoài
những ban nhạc có chương-trình hàng ngày trên đài phát thanh Saigon,
đài Tiếng
Nói Quân-Đội, còn có những chương-trình Tuyễn Lựa Ca-Sĩ hàng tuần,
chương-trình
Xỗ Số Kiến-Thiết Quốc-Gia, Đại-Nhạc-Hội, Dĩa nhựa.... với sự góp mặt
của những
cặp song ca thời danh như: Ngọc-Cẩm Nguyễn-Hữu-Thiết, Minh-Diệu
Mạnh-Phát,
Tuyết-Nhung Thanh-Thoại, Túy-Phượng Hồng-Phúc... đã đóng góp rất nhiều
cho
phong-trào phát-triễn nền tân nhạc, như những đóa hoa hàm-tiếu chợt nở
rộ để
khoe sắc, đưa hương khắp từ Bến Hải cho đến mũi Cà-Mau.
Nhưng,
thời thanh-bình nầy đến với miền Nam như những cơn gió thoảng mau, nụ
cười tươi
của những bà Mẹ, những trẻ thơ chưa được trọn-vẹn, những mối duyên lành
của
nàng thôn-nữ và chàng trai làng chưa đầy nguyện-ước thì binh lửa từ
phương Bắc
tràn vào tàn-phá quê-hương. Năm 1959, Cộng-sản phát-động chiến-dịch
Đồng-Khởi,
xua quân vào xăm-lược miền Nam, gieo bao thãm-cảnh chết-chóc, tang-tóc,
điêu-linh khắp nơi, khắp chốn. Dân quê phải bỏ làng, bỏ xóm, bồng bế
nhau về
các nơi tỉnh thị để tìm sự an-toàn hơn. Nhà cửa, ruộng vườn bị bôm đạn
cày xới
tan-hoang, bao lớp trai phải lìa bỏ mái ấm gia-đình, lên đường nhập
ngủ. Nền
tân nhạc bước qua một khúc quanh khác, khóc buồn theo vận nước, ít còn
nghe
những lời hát mang nặng tính chất tơ-vương:
Anh đi
chiến-dịch xa-vời
Lòng súng
nhân-đạo, cứu người lầm-than
Thương dân
nghèo, ruộng hoang, cỏ cháy
Thấy nổi
xót-xa của kiếp dọa-dày, Anh đi.
(Anh Đi
Chiến-Dịch - Phạm-Đình-Chương).
Từ đó,
những nổi vui buồn đời lính được xuất-hiện qua rất nhiều nhạc-phẩm, từ
chuyện
buồn xa nhà từ bỏ những cuộc chơi của tuổi thanh-niên tràn đầy nhựa
sống cho
đến vấn-đề gian-khổ, chết nay, sống mai ra sao, cả đến việc đám cưới
nhà binh
cũng được nói đến để tìm chút vui tươi trong những cuộc đời lính-tráng
xa nhà
vốn ít may, nhiều rũi.
Tôi ở miền
xa, trời cao, đất lạ
Nhiều
đông, lắm hạ nối tiếp đi qua, thiếu bóng đàn bà
(Kẻ Ở Miến
Xa)
Nay góp
mặt, góp lời, làm lính mà thôi. Đối-diện đây rồi.
Giày saut
tôi đi hằn trên lá cỏ
Đồn xa tôi
ở, trấn quân thù ngày đêm tỏ mặt
(Thành Phố
Sau Lưng)
Mình trở
lại với đơn-vị, bén hơi chuyến đi, hẹn ngày về
Nhưng kẻ
phương xa, đời còn thú vui xa
Những đêm
ngang tầm súng, vào nửa khuya nhung-nhớ ngập lòng...
(Người Xa
Về Thành-Phố - Trúc-Phương)
Đồn anh
đóng bên rừng mai,
Nếu mai
không nở, anh đâu biết xuân về hay chưa?
(.......-
Trần-Thiện-Thanh)
Ngày mai,
ngày cưới vui không? Áo em màu tươi pháo hồn
Ngày mai,
ngày cưới vui không? Áo anh màu xanhhoa súng...
(Đám Cưới
Nhà Binh- -)
Vì miền
Nam sống trong tự-do, mặc dầu trong thời kỳ chinh-chiến, vẫn không có
những
cấm-đoán gì trong vấn-đề tư-tưởng, vì vậy, các nhà văn-nghệ-sĩ vẫn có
quyền
tự-do sáng-tác theo khuynh-hướng của mình. Có bốn khuynh-hướng sáng-tác
nhạc
rõ-rệt nhứt trong thời kỳ nầy cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 như sau:
1.-
Khuynh-hướng 1, Nhạc
lãng-mạn: gồm
một số ít nhạc sĩ, vì một lý-do nào đó, hoặc thất tình, hoặc yếm-thế
trước
thời-cuộc mà buông lõng tình-cảm, thất chí, tâm-hồn ướt-át vô tận. Nhạc
nầy
không nhiều, nhưng rất tai-hại cho tinh-thần thanh-niên trong thời-kỳ
chinh-chiến. Ta
hãy nghe:
Nếu
biết rằng tình là giây oan
Nếu
biết rằng hợp rồi sẽ tan
Nếu
biết rằng yêu là đau-khổ
Thà
dương-gian đừng có chúng mình...
(Sang-Ngang
- Đỗ-Lễ)
2.-
Khuynh-hướng 2, Nhạc
Lính: Những nhạc-phẩm nầy được sáng-tác rất nhiều nhầm ca-tụng
đời lính
và tình-cảm của người lính VNCH, là những người trai chan-chứa
tình-cảm, yêu
đời, khao-khát tự-do, nhưng gặp lúc đất nước lâm-nguy, phải gạt bỏ
những
tình-cảm riêng-tư, khoát áo chinh-y để làm tròn bổn-phận người trai
trong thời
ly-loạn. Loại nhạc nầy buồn dễ làm xao-xuyến lòng người, thương người
lính trận
vốn là người tình, người thân của mọi người trong xã-hội. Đây, ta hãy
nghe
những lời tâm-sự:
Tôi
là lính xa nhà đi trấn sơn-khê
Hai
mùa mưa mây mù che nẽo đường về
Đêm
rừng núi, lạnh buốt mái pông-sô
Súng
cầm canh, nhịp từng giờ
Trái
châu chiếu trên cành lá ...
(Lính
Nghĩ Gì?- -)
Tôi
xin gởi đến người bằng lời vui
Lời
buồn tôi xin giữ lại cho tôi
Để
đêm đêm, phiên gác canh tàn
Ôm
súng bên ngàn, nghe suối chảy miên-man...
(Lời
Trần-Tình - -)
Mình
cùng là người trai sông núi
Gặp
thời binh khói, tranh-đấu là niềm vui...
(Ly
Cà-Phê Cuối Cùng - -)
Nay
góp mặt, góp lời
Làm
lính mà thôi, đối diện đây rồi
Giày
saut tôi đi hằn trên lá cỏ
Đồn
xa tôi ở, trấn quân thù ngày đêm có mặt...
(Thành-Phố
Sau Lưng - -)
Khuynh-hướng
3, Nhạc đấu-tranh: Nhiều
nhạc-sĩ, đa số là lính trong Quân Lực VNCH, đầy lòng
nhiệt-huyết , có lý-tưởng quốc-gia, có
khí-phách hiên ngang, viết lên những lời hào-hùng, trực-diện đương đầu
với giặc
Cộng phương Bắc. Loại nhạc nầy mang âm-hưỡng hùng-dũng như tiếng
quân-hành,
nhưng không giống như loại nhạc sắt máu của đài Hà-nội, nghe như “chó
sủa“. Ta
hãy nhìn những hình-ảnh đau-thương trong Tết Mậu-Thân 1968 như sau:
Tổ-quốc
vấn khăn tang, mây che phủ đầu
Trên
thành-phố thân-yêu, xóm làng, thị-trấn thân-yêu
Hàng
vạn nhà ra tro, ra khói bóc cao trời
Hàng
vạn người dân không cơm, không áo, rét căm-căm
Hàng
vạn người dân tay ôm, tay bế, bỏ quê nhà
Xa
đất mẹ, xa xóm, xa nương
Xa
nấm mộ, xa lũy tre xanh...
Ô
hay! Ô hay! chiến-tích giải-phóng hòa-bình
Của
Cộng-nô bán nước: Mặt-trận Giải-Phóng Miền Nam
Người
hảy nhìn chân tay, xương máu của dân lành
Người
hảy nhìn trên con đê phơi xác chết anh em
Người
hảy nhìn trên con sông trôi xác chết dật-dờ
Xin
cúi mặt giây phút cho anh,
Xin
cúi mặt giây phút cho em...
(Vuốt
Mặt - -)
Trận
Chiến Mùa Hè năm 1972:
Cờ bay! Cờ
bay! Oai-hùng trên thành-phố thân-yêu
Vừa chiếm
lại đêm qua bằng máu.
Cờ
bay! Cờ bay! Tung
trời ta về với quê-hương
Từng
ngóng đợi quân ta tiến về...
(Cờ
Ta Bay Trên Quảng-Trị Thân-Yêu - -)
Giặc
từ miền Bắc vô Nam, bàn tay chém giết đồng-bào
Giặc
từ miền Bắc vô Nam, bàn tay vấy máu anh em
Hận-thù
đó chất cao trong lòng người
Hận-thù
đó chất cao trong lòng tôi, lòng anh...
(Giặc
Đỏ - -)
4.-
Khuynh-hướng 4, Nhạc phản chiến: Những nhạc-sĩ
có khuynh-hướng nầy đa số là những người có tâm-trạng bất
mãn cá-nhân, vì quyền-lợi riêng, được sự khuyến-khích của Hà-nội và
những tên
văn-công Cộng-sản nằm vùng, nên họ không hiểu và cũng không muốn tìm
hiểu
Cộng-sản là gì, trái lại, còn dễ tin vào những lời đường mật của
Cộng-sản để
quay lưng lại với anh em, bán đứng đồng-đội, viết nên lời trong dòng
nhạc của
họ những điều xuôi hướng về phía kẻ thù của nhân-dân miền Nam, cho nên
nhiều
người đánh giá họ là những thành-phần bất-trí, ăn cơm quốc-gia, thờ ma
Cộng-sản
mà tiêu-biểu nhứt là nhạc-sĩ nô-dịch Trịnh-Công-Sơn với nhạc phẩm Nối
Vòng Tay
Lớn, Gia-Tài Của Mẹ, Người Già Em Bé...
Đối
với những thành phần nầy, Đại-Tướng Cao-Văn-Viên viết:
“Tướng
Minh (Dương-Văn-Minh) không phải là người duy nhất bị cộng sản
lừa: nhiều người dễ tin khác, khi nhận ra sự lừa dối của cộng sản và
muốn ra đi
nhưng quá trể. Một số người ở lại, gồm sĩ quan, công chức, văn nghệ sĩ,
được
cộng sản trọng dụng vì vai trò nằm vùng, gián điệp ngầm, của họ trong
quá khứ“.
(Những
Ngày Cuối Của Việt Nam Cộng Hòa, trang 225)
Bằng
những lời thống-hận, người lính chiến Mũ Đỏ Lê-Minh-Ngọc, cựu
Lữ-Đoàn-Trưởng Lữ-Đoàn 4 Nhãy Dù QL/ VNCH đã nhận xét trong bài viết Mỗi
Độ
Tháng Tư Về, như sau:
“ Tội
nghiệp cho Miền Nam Việt Nam, đã bao năm tháng
cưu-mang, nâng niu,
đãi ngộ các ông, kaki cũng như dân chính! Hít thở không khí tự do của
Miền Nam,
Trịnh Công Sơn đã dệt lên những tình khúc bất hủ. Ngày Miền Nam sụp đổ,
Trịnh
Công Sơn lên đài phát thanh, phừng phừng guitare hát bài:“Nối Vòng Tay
Lớn“. Rồi
lặn ngụp trong vòng tay lớn của xã hội chủ nghĩa một thời gian, Trịnh
Công Sơn
đã mửa ra một ca khúc, chưa bao giờ nghe thấy trong âm nhạc nhân
gian:“Tiến
Thối Lưỡng Nan“!
Nhìn
chung bối-cảnh lịch-sử từ năm 1945 cho đến ngày 30/4/75, nền Tân Nhạc
đi từ lúc phôi-thai cho đến lúc trưởng-thành và phát-triễn cao độ, đã
phản-ảnh
rất trung-thực về sự thăng-trầm của vận nước và đời sống của người dân,
của
xã-hội trước những khúc quanh của lịch-sử. Xã-hội đã tạo nên nguồn
cảm-hứng để
dệt nên dòng nhạc, và chính những dòng nhạc đã khơi dậy trong lòng
người những
tình-cảm sống-động thích-ứng với xã-hội hiện-hữu, thúc đẩy cường-độ
phát-triễn
xã-hội theo chiều thăng hoa, thậm chí cũng hùa theo chiều chủ bại và đi
xuống
của những con người bất-trí.
Riêng
ở hải-ngoại, có thể nói, vào đầu thập niên 80 nền Tân Nhạc Việt-nam
mới bắt đầu sinh-sôi, nẩy-nở. Trong thời-gian đầu, lòng người còn
sôi-sục máu
căm-thù, nóng nải muốn góp phần để nhanh chóng lật đổ chế-độ Cộng-sản
để trở về
xây-dựng lại quê-hương, nên hầu hết các nhạc-sĩ hải-ngoại sáng-tác
những bản
nhạc có nhạc-điệu rất hùng-hồn và được sự hưởng-ứng nồng-nhiệt của
những người
Việt-nam tị-nạn. Những bản nhạc nhanh chóng ăn sâu vào lòng người lúc
đó như:
Tháng Tư Đen, Vĩnh-Biệt Saigon, Bài Ca Đông Tiến, Thà Chết ngoài Biển
Đông, Dưới
Ngọn Cờ Phục Quốc, Lửa Rực Lòng Trai,v.v...Thêm vào đó là những ca-khúc
của
Tổng Cục Chính-Huấn Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa đã được những giọng ca
sắc bén
của Nguyệt-Ánh, Việt-Dzũng và những nhóm Hưng-Ca trình bày, nghe như
lửa dậy
trong lòng, hừng-hực không-khí đấu-tranh. Đi đâu ta cũng nghe :
Bỏ
làng ra đi, Bỏ làng ra đi
Mang
theo tiếng nói quê-hương với con tim rĩ máu
Bỏ
làng ra đi, Bỏ làng ra đi
Mang
theo mái tóc mẹ yêu, đôi bàn châm ốm yếu
........
Ớí!
Con trâu rẽ lúa, Hò ơi! Nhánh bí
hàng cau
Mai
nầy tôi trở lại,
Dẫu
làng xưa đổ nát, bàn tay tôi còn đây
Với
trái tim chưa gì. Ôi, ngày về bao xa!
(Mai Nầy Tôi Trở Lại - -)
Ta
sẽ về Đông-Hà, Ta sẽ về Gio-Linh
Bằng
con tim lửa cháy
Bằng
dòng máu kiêu-hùng
Bằng
hờ căm ngàn đời, Gio-Linh ơi!
Nhưng,
những bản nhạc hùng-ca nầy dần dần phai-nhạt theo năm tháng với sự
nuối-tiếc của nhiều người, từ khi chiến-sĩ Trần-Văn-Bá nằm xuống và xãy
ra
những xáo-trộn trong một số tổ-chức đấu-tranh.
Nền
Tân Nhạc hải-ngoại sinh-động ào-ạt với những trung-tâm sản-xuất băng,
dĩa nhạc và nhiều ca nhạc sĩ thời danh từ trong nước vượt biên ra được
bên
ngoài, nhưng đã chuyễn sang một âm-hưởng khác, tình-cảm, dịu-dàng hơn.
Nhiều
người còn nặng lòng trăn-trở với vận nước đã tự nhũ, phải chăng
khuynh-hướng nhạc disco, nhạc khiêu-vũ, nhạc thất-tình, trầm-lụy ở
hải-ngoại có
thể làm cho người ta quên đi nổi đau-khổ của đồng-bào, quên đi chính
thân-phận
mình đang sống trong kiếp người vong quốc?
Sực
nhớ mấy câu thơ của Đỗ-Mục:
Thương-nữ
bất tri vong-quốc-hận
Cách giang
do xướng Hậu-Đình-Hoa
Tuy nhiên,
có lẽ không đến nổi bi-quan thái quá, chúng ta vẫn còn những cộng-đồng,
những
đoàn-thể tranh-đấu của tập-thể Người
Việt Quốc-Gia luôn luôn là những bức trường thành giử vững tinh-thần
đấu-tranh
một cách kiên-trì, không bao giờ mệt-mỏi, bên cạnh đó là một số
trung-tâm nhạc
còn giử vững tinh-thần tranh-đấu cho đến ngày nay.
Thanh-Thủy (10/5/2007)
|