Nửa đường đi xuống  hay là cuộc thăng trầm của Cộng đảng Pháp (PCF)
- Đặng đình Túy --
  Qua cuộc  bầu cử tổng thống Pháp kỳ tháng 5-2007 này kẻ quan sát nhận ra rất nhiều đặc điểm khó tìm thấy trong những cuộc bầu cử trước đây. Một trong những đặc điểm ấy là đa số cử tri đã gần như thờ ơ với các đảng "con", những khuynh hướng chính trị tuy không có ảnh hưởng lớn trong đại đa số quần chúng nhưng lại chiếm được một sự ủng hộ nhất định của một thành phần xã hội nào đó tỷ dụ như các phong trào cực hữu hoặc cực tả.

Hiện  tượng Jean Marie Le Pen (cực hữu) năm 2002 từng được đơn cử như một trường hợp khá đặc biệt  nói lên sự thất vọng của những người dân thấp bé nhất trong xã hội mà qua nhiều lần thay đổi giữa các phe phái cầm quyền, họ vẫn chưa bao giờ nhận ra được chút cải thiện nào trong đời sống thường nhật, vì vậy với luận điệu trí trá bình dân của một diễn giả có tài, Le Pen đã thuyết phục được một số người theo, đạt được tỷ số phiếu kỷ lục cho phép ông đối đầu với ứng cử viên phe hữu thời ấy là Jacques Chirac  ở vòng hai. Hoàn cảnh oái oăm khiến phe tả vốn đối lập với J. Chirac buộc lòng động viên cử tri của họ dồn phiếu cho ..Chirac để tránh hiểm họa Le Pen ! Vì mối ám ảnh đó, trước kỳ bầu cử lần này có rất nhiều người đã lên tiếng cảnh cáo dư luận và ngay các viện  nghiên cứu thống kê cũng tiên đoán một tỷ số phiếu quan trọng cho Le Pen, xếp ông ta ở hạng ba chỉ sau hai đại diện của hai khuynh hướng tả và hữu chính mà coi thường cả cánh trung do François Bayrou  điều khiển. Mọi người đều nhầm. Bận này Mặt Trận Quốc Gia của ông ta chỉ gom góp được có trên dưới 13% số phiếu. Dù vậy, Le Pen  vẫn có thể kiêu hãnh cho sức trì kháng của phe ông khi tự so sánh với một lực lượng chính trị bề thế đã có thành tích cũng như hậu thuẫn quan trọng số một trên chính trường là đảng cộng sản. Trong số 12 ứng cử viên tổng thống, đại diện cho 12 khuynh hướng chính trị khác nhau có không ít những người chưa đạt tới 1% số phiếu bầu !

     Đảng cộng sản Pháp tương đối hơn họ một chút. Bà Marie-George Buffet, đại diện của đảng, dân biểu vùng Seine-Saint Denis, nhận được  707. 327 phiếu, vị chi là 1,93% tính trên tổng số phiếu của người đi bầu. So với những vị tiền nhiệm của bà, chẳng hạn Jacques Duclos trong kỳ bầu cử tổng thống năm 1969, có đến 21,27% phiếu (đổ đồng hơn 4 cử tri thì đã có 1 người bỏ cho ông) ; hoặc ông lão 84 tuổi Marcel Cachin trong năm 1953 còn kiếm nổi hơn 12% ; tổng bí thư Georges  Marchais, sau vụ cải vả năm 1977 với phe xã hội (vì kỳ bầu cử  năm 1974, họ liên minh với đảng Xã hội, dồn phiếu cho Mitterand) tách rời đảng này, ra ứng cử một mình một chiếu, cũng thu được trên 15% phiếu... cớ chi lần này bà Buffet  còn thua phiếu cả anh phát thư Besancenot, đại diện của nhóm Cộng Sản Cách Mạng (LCR) ? Để hiểu rõ hơn  một chút về con đường đi xuống của đảng Cộng sản Pháp, có lẽ chúng ta phải đi xa hơn, tìm kiếm lý do thăng trầm của đảng này qua những chặn đường  của lịch sử  Pháp.

 Một nhà bình luận chính trị Anh đã nhận xét rằng đảng Cộng sản Pháp là một đảng lớn, tổ chức chặt chẽ và bắt rễ sâu trong quần chúng nhưng lại là một tổ chức không có duyên số trong việc chinh phục quyền lực. Vì sao vậy ? Có lẽ vì đảng Cộng sản Pháp, cũng như mọi đảng CS khác, luôn luôn đặt quyền lợi đảng lên trên hết, và trong một thời gian dài (cho đến khi đại đa số đảng viên nhận ra những sai lầm đáng ghê tởm của chủ nghĩa Staline), đặt quyền lợi đảng lên trên còn đồng nghĩa với đặt quyền lợi Quốc tế Cộng sản  (QTCS) lên trên, mà QTCS lúc đó là Liên Bang Xô viết, nên cho dù được tổ chức chặt chẽ, có một số đảng viên hùng hậu, đảng vẫn không đạt được sự hậu thuẫn nhất tề của dân. Hơn nữa vì một thời tuân phục nhất nhất chỉ thị của Mạc-Tư-Khoa nên có sự trống đánh xuôi kèn thổi ngược, tỷ dụ lúc hiệp ước bất tương xâm giữa Đức và Liên Xô được ký năm 1939 đảng đã phải rút vào hoạt động trong vòng bí mật (lúc ấy  hai nước Anh và Pháp đã tuyên chiến với Đức rồi nên chính quyền Daladier ký nghị định đặt các tổ chức cộng sản ra ngoài vòng pháp luật vì đảng CS Pháp tuân lệnh Liên Xô nên tôn trọng thỏa ước Molotov-Ribbentrop nói trên) và nhất là sự ràng buộc với Đức đã khiến đảng đi ngược lại nguyện vọng của nhân  dân Pháp (chống Đức) ;  "nhờ" Hitler vi phạm giao kết,  tấn công Liên Xô sau đó nên bắt đầu từ  nửa năm 1941 đảng cộng sản Pháp mới thực sự tham gia vào mặt trận kháng chiến chống Đức và khi chiến tranh kết thúc thì những người cộng sản trong hàng ngũ kháng chiến được nhân dân Pháp đón rước như những người anh hùng quên mình vì Tổ quốc ; ít ai nhớ đến vết nhơ trước đó.

 Phải đợi đến khi Georges Marchais lên nắm chức tổng bí thư thì báo chí Pháp mới bắt đầu khui lên vụ ông này đã từng tình nguyện làm công nhân trong một xưởng chế tạo vũ khí của Đức quốc xã. Làm sao một ông tổng bí thư đảng cộng sản lại có thể có một thời phục vụ trong hàng ngũ kẻ thù, điều đó mới nghe thì thật lạ tai nhưng nếu người ta hiểu được đường lối hành động của đảng cộng sản Pháp (cũng như bất cứ đảng cộng sản nào khác) nhất là những âm mưu tròng tréo trong việc dùng người dưới sự giật dây của bộ phận "tổ chức" (CS pháp gọi là section des cadres) thì sự việc sẽ trở nên rất dễ hiểu. Trường hợp của Marchais chỉ là một thí dụ điển hình trong hàng nghìn thí dụ về cách lựa chọn người đưa vào guồng máy.  Đó là cách dùng người của bộ máy đảng theo phương pháp Staline, ông ta không ưa những lý lịch cá nhân quá sạch : một đồng chí sạch là một đồng chí khó bảo ; phải lấm lem một chút, phải phạm tội (quí hồ tội ấy được thú nhận trước đảng) thì mới là một đồng chí tốt đáng đưa vào địa vị quan trọng. Tổ chức sẽ giữ kỹ hồ sơ tội của đồng chí để dễ bề ra lệnh cho đồng chi thi hành "tốt" nhiệm vụ. Ngộ lỡ một ngày kia, lương tâm của đồng chí có vùng dậy cải lại đảng thì người ta sẽ gọi đồng chí vào phòng tổ chức nhắc với đồng chí rằng tội lỗi của đồng chí còn rành rành giấy trắng mực đen kia kìa . Thế là đồng chí đành im thin thít, ngoan ngoản trở lại với đường lối "đúng đắn" của lãnh đạo ngay.

    Cộng sản Pháp cũng bị tai tiếng nhiều trong việc "hợp tác hữu nghị" với người anh em Liên Xô, cụ thể là cơ quan mật vụ KGB trong phạm vi tuyên truyền và phản tuyên truyền như bằng chứng của sự phản bội tổ quốc mà những sự việc sẽ bị phanh phui bởi báo chí ngày này qua ngày khác. Có thể bảo rằng mọi tổ chức đều bị trà trộn của gián điệp Liên Xô nhưng nạn nhân (là chính quyền cùng các chính đảng) không dám tiết lộ một khi khám phá ra như gái ngồi phải cọc, chỉ đỏ mặt xấu hổ thầm. Ngày 5/4/1983 Pháp trục xuất một lúc 47 nhân viên ngoại giao Nga Xô. Không ai giải thích những kẻ này đã hoạt động ra sao, vi phạm những gì trên quan điểm pháp luật và thể thức ngoại giao ; chỉ biết một cách mơ hồ rằng những nhân vật này đã có những hoạt động gián điệp trên đất Pháp. Về phía Liên Xô theo thông lệ có bản văn phản đối qua loa, sau đó sự việc được xử chìm xuồng. Và như vậy chẳng ai hiểu gì nhiều về cái gọi là "hồ sơ Farewell"(bạn đọc có thể tìm hiểu rõ ràng hơn trong cuốn sách của Thierry Wolton, Le KGB en France ). Vào năm 1978 có vụ án gián điệp của viên đại tá Beaufils, anh hùng kháng chiến chống Đức. Viên đại tá này bị kết án 8 năm tù vì tội làm gián điệp cho Liên Xô mà trước tòa, luật sư bị cáo vẫn nằng nặc binh vực Beaufils nại cớ rằng viên sĩ quan cao cấp trong quân đội và thành viên của đảng CS Pháp chỉ là một nạn nhân ngây thơ vô tội.
   
Năm 1936, khi mặt trận bình dân lên cầm quyền, mặc dù ủng hộ tập đoàn Léon Blum, đảng cộng sản Pháp không tham gia vào nội các, nhưng sau khi chiến tranh chấm dứt được sự ủng hộ rộng rãi (lúc này họ có đến 550.000 đảng viên) chính phủ De Gaulle mở cửa đón 5 bộ trưởng do đảng đưa vào. Năm 1947, con số đảng viên tăng lên đến  900.000, trở thành lực lượng số một trong các cuộc bầu cử. Tuy nhiên, con số thành viên trồi sụt theo từng biến cố chính trị và đảng càng lúc càng bị quần chúng bỏ rơi, nhất là thành phần trí thức. Ông Jean-Pierre Gaudard, trong cuốn sách nhan đề  Những đứa con mồ côi của đảng CS Pháp  sau khi trình bày những trường hợp hục hặc khác nhau qua từng biến động lịch sử đã dành mấy trang sau cùng để thành lập bảng danh sách có kèm vài giòng tiểu sử của một trăm mấy chục nhân vật nổi tiếng nhất đã ly khai khỏi đảng. Có những thời kỳ mà đảng mất đi gần một nửa thành viên như trong thời gian Mendès France làm thủ tướng.

Từ năm 1960, một số đảng viên quan trọng đã đi theo khuynh hướng Mao, số khác theo về với đảng xã hội, một số khác nữa thành lập các nhóm cực tả khuynh hướng Trostki. Khi François Mitterand của đảng xã hội trúng cử tổng thống, có bốn nhân vật của đảng cộng sản tham gia chính quyền. Đứng trước thái độ nghi ngờ của chính quyền Reagan, Mitterand phải giải thích cho G. Bush (lúc ấy là phó tổng thống do Reagan gửi sang Pháp để tìm hiểu) rõ rằng đường lối của đảng xã hội không giống với đường lối của đảng CS và sự việc để các nhân vật CS vào nội các sẽ khiến họ mất đi cái chất CS (originalité trong nguyên văn) vì họ phải lệ thuộc vào đường lối của đảng xã hội. Bush hoàn toàn bị Mitterand thuyết phục và tỏ ra hâm mộ ông này quá cỡ. Như tiên đoán của Mitterand, khoảng ba năm sau 4 vị bộ trưởng kia quyết định rút lui để phản đối chính sách kinh tế quá tự do của đảng xã hội, vì không hợp giáo điều mà họ phải tuân phục. Tuy cũng được xếp vào phe tả nhưng đảng xã hội đã có những cải cách và nhất là họ dứt khoát chống lại chủ nghĩa Staline nên lực lượng phát triển hơn và thu hút được một số cựu đảng viên cộng sản có lập trường trung dung hoặc cải cách. Kể từ đó trong bất cứ cuộc bầu cử nào số cử tri bỏ phiếu cho người của PCF cũng càng lúc càng kém đi, thí dụ trong kỳ bầu cử quốc hội Âu châu, liên danh do G. Marchais dẫn đầu chỉ đạt 11% phiếu, nhích hơn liên danh cực hữu (Le Pen) chỉ 1% và đến năm 1988, ở quốc hội chỉ còn 20 ghế dành cho các dân biểu cộng sản. Dựa trên các lập luận này, người ta sẽ không lấy làm lạ khi thấy  đảng CS Pháp dần dần mất chỗ đứng trên chính trường. Tuy nhiên, với ý thức sâu sắc về quan niệm dân chủ, chúng tôi tin rằng đảng CS Pháp vẫn còn được ủng hộ đủ để duy trì sự có mặt của họ, sẽ không hoàn toàn mất tích trên sân khấu một khi bên kia cán cân vẫn còn hiện diện Phong trào Quốc gia của Le Pen như một đối trọng để giữ thăng bằng cho thể chế dân chủ cũng như cho bình đẳng công lý.
  
 Một  lý do khác giúp duy trì sự hiện diện của đảng là nhờ một ngân quỹ dồi dào. Tuần san kinh tế Challenges số 79 ra ngày 16/5 vừa qua có đăng một  tựa nhỏ nói về hoạt động của PCF nhân kỳ vận động bầu cử vừa qua. Trước thời kỳ rã ngũ của khối cộng sản, nguồn tài chánh của đảng được sự tăng viện của Liên Xô ngoài  niên liễm của đảng viên và tiền đóng góp của các thành phần dân cử do đảng đưa ra. Kết toán ngân sách 2005 cho thấy nguồn tiền này chiếm đến 52% quỹ đảng so với 3,8% của đảng đa số và 25% của đảng xã hội. Hiện nay đảng có một ngân khoản tiêu dùng hàng năm là 33 triệu (À) trong khi đảng đa số (UMP) với số dân biểu nhiều gấp 15 lần nhưng chỉ có ngân khoản là 50 triệu. Trong các cuộc vận động bầu cử đảng không tỏ ra bủn xỉn chút nào : bà Buffet  vì chỉ đạt 1,93% phiếu nên với 5 triệu tiền bỏ ra để làm cuộc vận động, nhà nước Pháp sẽ chỉ bồi thường cho đảng  800.000  trong khi hai đảng lớn  (Xã hội và  Liên hiệp phong trào nhân dân) sẽ thu về 16 triệu trên số 20 triệu mà họ đã bỏ ra. Challenges cũng tiết lộ một chi tiết khác là ứng cử viên cộng sản dám bỏ tiền thuê sân vận động Bercy để họp mặt quần chúng trong khi các đảng khác không dám nghĩ tới ngoại trừ 2 lực lượng chính trị lớn. Một nhà nghiên cứu đã ước lượng từ 2 đến 6 tỷ đô la, số tiền viện trợ do Mạc tư khoa gửi sang hàng năm tính từ 1970 đến 1990. Ngoài tiền mặt, đảng CS Pháp còn là chủ nhân của một số bất động sản lớn.  Như vậy, nếu cho rằng đồng tiền là sức mạnh, ta thấy trong trường hợp này không nghiệm đúng.
   
Mặc dù mọi cố gắng, đảng CS Pháp vẫn đang đứng trên đà dốc đổ. Năm 1995, đảng mất hai hậu cứ quan trọng từ lâu vẫn nằm trong vòng ảnh hưởng của đảng : Le Havre và Garges-les-Gonesse. Miền bắc Pháp vẫn là hậu phương vững mạnh của đảng, bổng chốc xoay chiều. Nếu đảng cứ khư khư ôm chặt giáo điều Mác-Lê thì e rằng có ngày người ta không còn nghe tên đảng trên chính trường Pháp nữa. Nhưng ngược lại, nếu đảng  cải cách ?

Nhiều phen, khuynh hướng cải cách đã cố công làm mới bộ mặt trong tình thế chẳng đặng đừng của thời kinh tế thị trường như năm 1997, hai bộ trưởng CS đã tham gia vào nội các Jospin, Jean Claude Gayssot giữ bộ giao thông và nhà ở, bà Buffet phụ trách thanh niên. Khi Gayssot, theo chủ trương chung của đảng xã hội, chuẩn bị việc tư hữu hóa ngành hỏa xa thì một số đảng viên nòng cốt lâu đời của đảng đã bất mãn ra mặt, chưa kể đến số công nhân đường sắt đa số nếu không cầm thẻ đảng, ít ra cũng là thành viên tổng công đoàn lao động (CGT) một tổ chức phụ thuộc vào đảng (trước đây luôn luôn được phụ trách bởi một thành viên của bộ chính trị) sẽ phản đối dữ dội và hậu quả sẽ rất khó lường. Do đó cải cách chưa hẳn là giải pháp cứu nguy. Đứng trước tình trạng tấn thối lưỡng nan, ngày nào đảng còn ngắc ngoải được là nhờ lực lượng cơ sở từ những ngày  đầu của năm 1920 khi đảng chịu đặt mình dưới sự lãnh đạo của Quốc tế Cộng sản mà đảng CS Pháp chỉ được tính như một phân bộ (Section française). Thế hệ ấy nay đã tàn. Liệu con cháu họ hôm nay có tiếp tục truyền thống một khi chiếc nôi cộng sản đã mất biến đi rồi ?