Bài
Phát Biểu của GS Nguyễn Lý-Tưởng
Paris 21/5/2006
(Ngày 2 tháng 7 năm 1976 Quốc Hội Khóa VI của CSVN
ra quyết nghị đổi
tên TP Sài Gòn-Gia Định là TP/Hồ Chí Minh).
Kính thưa quý vị,
Tháng 5, 1998, nhân kỷ niệm 30 năm xảy ra vụ
thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế (1968-1998), lần đầu tiên, tôi được mời đến
đây với tư cách là nhân chứng...Hôm nay, sau 08 năm xa vắng, tôi lại
được đến đây lần thứ hai, trước hết là do lòng hiếu khách và nhiệt tình
của các thân hữu đối với chị em chúng tôi ( Nhà văn Nhã Ca và Nguyễn
Lý-Tưởng); sau nữa, chúng tôi đến đây là vì tin tưởng vào truyền thống
văn hóa tốt đẹp đa dạng của Paris, nơi được gọi là kinh đô ánh sáng,
trung tâm của nền văn minh thế giới hiện đại. Và, nơi đây cũng thể hiện
lòng bao dung của quý vị nhân sĩ, trí thức và đồng hương. Tôi không
phải là một nhà hùng biện. Tôi đến đây với một tấm lòng chân thành, đơn
sơ mộc mạc mang hình ảnh của một người dân quê Quảng Trị, nơi tôi đã
sinh ra và lớn lên. Trước một cử tọa vô cùng quan trọng gồm những nhà
trí thức, khoa bảng, những bậc đàn anh, những bậc thầy... như quý vị
đây, tôi thật là người «đứng trước Thái Sơn mà không biết». Nếu có điều
gì vụng về, thất lễ...kính xin quý vị bỏ qua cho.
Tôi xin mượn lời Đức Khổng Tử đã nói từ hơn
2500 năm trước, được ghi lại trong sách Luận Ngữ: « Hữu bằng tự viễn
phương lai, bất diệc lạc hồ?» (có bạn từ xa đến chơi, há chẳng vui
sao?» Hôm nay, không phải chỉ riêng chúng tôi được làm người bạn từ
phương xa dến, mà cả quý vị nữa. Vì, đây cũng là cơ hội thuận tiện, tốt
đẹp nhất để mọi người gặp gỡ nhau.
Tôi xin cám ơn Ban Tổ Chức, cám ơn các đoàn
thể, hội đoàn trong Cộng Đồng người Việt tỵ nạn, các thân hữu và quý vị
quan khách đã dành cho chúng tôi cuộc gặp gỡ ngày hôm nay.
Tôi là người được nói cuối cùng, những gì được
xem là «lời hay, ý đẹp» đều đã được quý vị phát biểu trước tôi, nói ra
hết rồi. Vậy, để được đền bù lại chỗ thiệt thòi đó, tôi xin được phát
biểu dài dòng một chút theo niềm cảm hứng của mình...
Kính thưa quý vị:
(1). Sài Gòn là Trái Tim của đất
Gia Định, của Đồng Nai-Cửu Long- Nam
Kỳ Lục Tỉnh. Sài Gòn là nơi «địa linh sinh nhân kiệt», đất nước anh
hùng...với tinh thần «kiến nghĩa bất vi, vô dũng dã». Tên Sài Gòn đã có
trong sử sách hơn ba trăm năm nay.
Dựa theo thuyết «địa lý lịch sử», có người đã
đưa ra nhận xét: Bán đảo Đông Dương có hình chữ «S» như con rồng uốn
mình bên bờ Thái Bình Dương, có hai con sông lớn rất quan trọng: Hồng
Hà và Cửu Long.
Miền Bắc :
Hồng Hà phát xuất từ Vân Nam (Trung Quốc) chảy
qua Miền Bắc rồi ra biển với chiều dài 1200 km. Mặc dù đã đem phù sa ở
Vân Nam bồi đắp nên đồng bằng Bắc Việt, nhưng sông nầy hằng năm, đã gây
nên nhiều trận lụt lớn làm cho đồng bào Miền Bắc rất khốn đốn. Chiều
dài của sông Hồng trên lãnh thổ nước ta cũng không dài lắm so với sông
Cửu Long.
Do hoàn cảnh lịch sử, người dân miền Bắc luôn
luôn chịu áp lực nặng nề của một dân tộc vĩ đại và hiếu chiến với tinh
thần Đại Hán là Trung Quốc ở bên cạnh. Các cuộc chiến tranh xâm lăng
trong lịch sử từ phương Bắc, đã cho người dân Miền Bắc nước ta một kinh
nghiệm: phải nhẫn nhục chịu đựng và phải biết vâng phục trước sức mạnh
của kẻ thù. Trong hoàn cảnh như thế, bọn xâm lăng bảo sao, người dân
Miền Bắc đều «vâng vâng, dạ dạ» cho qua chuyện để sống. Do đó, người
Miền Bắc bề ngoài nói năng ngọt ngào, khéo léo, có vẻ ngoại
giao...Nhưng trong bụng, họ đang nghĩ gì, đang mưu tính điều gì, khó mà
biết được.
Các triều đại từ Đinh, Lê, Lý, Trần, Hậu Lê đã
cai trị Miền Bắc, đặt thủ đô tại Hà Nội, có tổ chức hành chánh lâu đời;
nhiều người đỗ đạt nhờ có học hành thi cử trải qua hàng ngàn năm. Đất
Miền Bắc núi non hùng vỹ, có nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử
nên cũng là nơi phát xuất nhiều người có tài văn chương thi phú. Miền
Bắc ở gần Trung Quốc nên cũng chịu ảnh hưởng văn minh, văn hóa từ Trung
Quốc truyền sang nhiều hơn các miền xa xuôi khác của nước ta.
Khi có họa xâm lăng từ phương Bắc, những người
anh hùng từ Miền Bắc, trong nhất thời, chưa kịp tập họp nhau lại nên họ
chạy vào Thanh Hóa, Nghệ An nương náu, đợi thời cơ thuận tiện để mưu đồ
phục quốc. Do đó, đất Miền Trung là nơi anh hùng tụ hội, nơi xây dựng
lực lượng để «đánh đuổi xâm lăng, giải phóng đất nước, dành lại độc lập
cho dân tộc». Đa số các vị sáng lập triều đại, lãnh đạo toàn dân chống
xâm lăng đều từ Nam tiến ra Bắc.
Miền Trung :
Người Miền Trung sống trong một địa thế «nước
chảy một chiều từ Tây sang Đông, từ Trường Sơn ra biển Thái Bình» nên
tính tình của họ, theo bên nào là dứt khoát một bề. Thời tiết khắc
nghiệt, trong một năm có khi thiên tai bão lụt đến bốn năm lần. Trong
thời bình, ngoài việc chăm sóc ruộng vườn, họ còn phải làm thêm nghề
rừng, nghề biển mới đủ sống. Trong cuộc nội chiến dưới thời Trịnh
Nguyễn (từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18) và trong cuộc Nam Tiến từ thời Lý,
Trần, hậu Lê và nhất là dưới thời các chúa Nguyễn (từ Nguyễn Hoàng đến
Nguyễn Phúc Ánh), dân phải chiến đấu để giữ đất, giữ làng, bảo vệ tài
sản của mình nên họ có kinh nghiệm tranh đấu để sinh tồn...Dân nghèo,
muốn vươn lên thì phải chịu khó học hành để đỗ đạt, làm quan, giữ vai
trò lãnh đạo trong xã hội. Thanh niên lớn lên nuôi mộng làm quan, làm
tướng, người anh hùng thì nuôi mộng làm chúa, làm vua. Do đó, Miền
Trung vốn là nơi phát xuất các dòng lãnh đạo như Lê Lợi, Trịnh Kiểm,
Nguyễn Hoàng, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ...và gần đây như Hồ Chí Minh, Ngô
Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, v.v. Thời bình thì giúp vua, giúp nước,
thời loạn thì lập chiến khu chống xâm lăng như Phan Đình Phùng, làm
cách mạng như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Cường Để hoặc trở thành
những nhà tư tưởng cải cách như Nguyễn Lộ Trạch, Nguyễn Trường Tộ,
....v.v...
Miền Nam :
Sông Cửu Long phát xuất từ miền địa linh Tây
Tạng, nguồn gốc của nhiều tôn giáo, chảy qua Trung Quốc, Miến Điện,
Thái, Lào, Kampuchia rồi mới vào Miền Nam Việt Nam, chảy ra biển với 09
cửa sông: cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Hàm Luông, cửa Ba Lai, cửa Ba Sắc, cửa
Cổ Chiên, cửa Định An, cửa Cung Hầu, cửa Tranh Đế. Với chiều dài 4200
km, Cửu Long là con sông dài nhất Á Châu. Tất cả những tinh túy của
vùng núi con, cao nguyên, rừng thiêng...của các quốc gia nói trên đã
theo dòng nước Cửu Long tích tụ tại Miền Nam nước ta. Phần tốt đẹp
nhất, giàu có nhất là đồng bằng sông Cửu Long với ruộng đồng phì nhiêu,
tôm cá dồi dào, khí hậu ấm áp, mưa thuận gió hòa...là nơi Trời dành
riêng cho dân tộc Việt Nam. Vì là nơi tụ khí linh thiêng nên mới
phát sinh các tôn giáo như Phật Giáo Tứ Ân, Cao Đài, Phật Giáo Hòa
Hảo...Đó là các tôn giáo do người Việt Nam sáng lập dựa trên niềm tin,
phong tục của xã hội Việt Nam, nên chỉ trong một thời gian ngắn mà đã
phát triển rất nhanh, rất mạnh, số tín đồ ngang ngửa với các tôn giáo
đã có mặt tại nước ta hàng trăm, hàng ngàn năm như Phật, Lão và
Thiên Chúa Giáo là những tôn giáo du nhập từ Ấn Độ, Trung Quốc hay Âu
Châu.
Dân Miền Nam bản chất anh hùng, thấy việc bất
bình không thể bỏ qua được, người bình dân mà dám liều thân vì
việc nghĩa «kiến nghĩa bất vi, vô dũng dã» (Thấy điều nghĩa mà không
làm là người hèn!) Bất cứ nơi nào ở Miền Nam đều có hạng người như thế.
- Lịch sử hình thành Miền Nam
Ai đã góp công công mở
mang vùng Đồng Nai - Cửu Long ?
Trước thế kỷ
thứ 17, tại Miền Nam đã có các
dân tộc Phù Nam, Bồn Man, Chàm, Chân Lạp (chúng ta thường gọi là người
Miên hay Khmer) đến khai thác những chỗ đất cao như vùng Trà Vinh, Sóc
Trăng,v.v...Đa số phần đất còn lại chưa có người ở là một vùng đất mênh
mông, nhiều chỗ còn hoang vu, đồng lầy ngập nước với những cánh rừng
tràm và cây đước mọc um tùm, muỗi mòng, rắn rết, cá sấu, cọp beo, thú
dữ, đĩa đói... Qua các đợt Nam tiến, các chúa Nguyễn đã quy tụ những
những người dân có máu phiêu lưu mạo hiểm, có tinh thần tranh đấu, cho
đi lập nghiệp ở đất mới. Họ đã phải đối đầu với quân thù, với ma thiêng
nước độc, cọp beo thú dữ, cá sấu, rắn rết, muỗi mòng, đĩa đói...Bàn tay
của họ đã dựng nên nhà cửa, ruộng vườn, lập thành làng mạc. Trên phần
đất vô chủ nầy, ai có sức mạnh thì làm chủ, ai có công lao khó nhọc thì
tạo nên ruộng vườn, nhà cửa, làng mạc. Thời Hiền vương Nguyễn Phúc Tần
(1649-1687) quân đội của chúa Nguyễn rất hùng mạnh, hai danh tướng
Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Hữu Dật đã đem quân đánh chiếm 7 huyện phía
Nam sông Lam của vua Lê chúa Trịnh trong 06 năm và đã đốt cháy 03 chiếc
tàu của Hòa Lan do Van Liestvel chỉ huy ở trên biển Đông, chỉ còn một
người sống sót chạy về Batavia (Nam Dương), đã làm cho tất cả các nước
trong vùng phải kiêng nể. Vua Chân Lạp đã chịu thần phục chúa Nguyễn và
triều cống hàng năm. Năm 1692, đầu đời chúa Nguyễn Phúc Chu, toàn bộ
lãnh thổ Chiêm Thành đã thuộc về chúa Nguyễn.
Để bảo vệ những nơi có người Việt đến khai
khẩn đất hoang, chúa Nguyễn đã cho đóng quân bên cạnh quân đội Chân
Lạp. Tại những vùng đất mới, chúa Nguyễn đã cho tổ chức những lực lượng
tự vệ gồm có binh sĩ và gia đình của họ kết hợp với dân đến định cư,
lập nghiệp. Họ đã thành lập những làng gọi là «đồn điền», thời bình thì
làm ruộng, khi có chiến tranh thì họ là lực lượng chiến đấu tự vệ. Đó
là chính sách «tịnh vi nông, động vi binh» đã có từ thời Lý, Trần,
Lê...ở nước ta.
Lợi dụng lúc chú cháu vua Miên là Nặc Ông Chân
và Nặc Ông Đài tranh quyền, chúa Hiền lấy lý do bảo vệ người Việt nên
ra lệnh cho Nguyễn Hữu Cảnh đem 3000 quân vào đóng ở Bà Rịa, bắt được
Nặc Ông Chân, sau đó tha cho về và bắt phải triều cống nước ta. Sau khi
Nặc Ông Chân chết, Nặc Ông Nộn và Nặc Ông Đài tranh nhau ngôi vua. Đài
qua cầu viện vua Xiêm (Thái Lan), Nộn thì chạy sang cầu cứu với chúa
Nguyễn. Quân chúa Nguyễn đánh Nặc Ông Đài tại Sài Gòn, Đài bỏ chạy qua
Nam Vang và chết ở trong rừng. Chúa Nguyễn chia đôi nước Chân Lạp cho
Nặc Ông Thu (là con dòng trưởng) làm vua một nửa nước và Nặc Ông Nộn
làm vua phần còn lại. Hai vua Miên đều dưới quyền của chúa Nguyễn, hằng
năm phải triều cống. Người Miên (Chân Lạp) dần dần suy yếu, cho đến
thời chúa Nguyễn Phúc Ánh (1790-1800), thì còn lại 12 thủ lãnh người
Miên chiếm cứ 12 vùng chung quanh Gia Định. Trước khi Nguyễn Phúc Ánh
thắng Tây Sơn, thống nhất đất nước vào năm 1802, tất cả 12 thủ
lãnh người Miên nầy đã theo về với ông.
Từ thời lập quốc đến thế kỷ thứ 10, biên
giới nước ta mới đến Đèo Ngang (Hà Tĩnh sang Quảng Bình). Cuộc Nam tiến
thời Lê Thánh Tông (thế kỷ 15,16) quân ta mới đến Đèo Cả (tỉnh Phú
Yên). Bảo vệ và phát triển vùng đất mới từ Đèo Ngang trở vào là công
lao của Nguyễn Hoàng và con cháu của ông. Cho đến đời Nguyễn Phúc Tần
(1649-1687), Nguyễn Phúc Chu (1691- 1725) thì người Việt mới có
mặt ở vùng Đồng Nai, Cửu Long (Miền Nam ngày nay). Diện tích xứ Đàng
Trong dưới thời các chúa Nguyễn và các vua nhà Nguyễn mở mang còn lớn
hơn diện tích nước Việt Nam từ thời Đinh, Lê, Lý, Trần và Hậu Lê. Nói
lên điều đó để thấy rằng việc nhà nước CSVN hiện tại xóa bỏ tên Sài Gòn
là phủ nhận công lao của tiền nhân đã ba trăm năm mở mang vùng Đồng Nai
- Cửu Long tức Miền Nam nước Việt của chúng ta ngày nay.
Tổ tiên của những người Miền Nam chính là dân
Ngũ Quảng vào (Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức (Thừa Thiên), Quảng
Nam, Quảng Ngãi) những danh tướng như Nguyễn Hữu Cảnh (Quảng Bình),
Nguyễn Cư Trinh (Thừa Thiên), Châu Văn Tiếp (Bình Định), Đỗ Thanh Nhân
(Thừa Thiên), Nguyễn Văn Thành (Thừa Thiên), Lê Văn Duyệt (Quảng Ngãi),
Nguyễn Văn Thoại (tức Thoại Ngọc Hầu, Quảng Nam),v.v.
-Sự có mặt
của người Hoa (Minh hương) dưới
thời các chúa Nguyễn.
Dưới thời chúa Hiền Vương
Nguyễn Phúc Tần
(1649-1687) người Mãn Châu xâm lăng Trung Hoa, lật đổ nhà Minh, lập ra
nhà Thanh. Những người trung thành với nhà Minh đã bỏ nước ra đi, đem
quân đội và gia đình đến nước ta xin theo chúa Nguyễn. Sách «Đại Nam
Thực Lục Tiền Biên» và «Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên» do Quốc Sử Quán
nhà Nguyễn biên soạn (ghi chép công nghiệp các chúa và các công thần
thời các chúa Nguyễn) cho biết:
«Vào một ngày tháng Giêng năm Kỷ Mùi (1679)
tức năm thứ 31 dưới triều đại chúa Hiền Vương, hai quan phòng giữ cửa
biển Tư Hiền (Thừa Thiên) và Đà Nẵng (Quảng Nam) bỗng phát hiện một
đoàn chiến thuyền của Trung Quốc kéo đến nước ta. Lệnh cấp báo được
ngựa trạm trình về kinh đô Phú Xuân (Huế) và toàn bộ hải quân của xứ
Đàng Trong được lệnh phải phòng giữ cửa biển thật nghiêm ngặt. Nhưng
đoàn chiến thuyền kia đã dừng lại ở ngoài khơi và một chiếc thuyền nhỏ
chở phái đoàn khách đã đáp vào bờ với những lễ vật và tờ tấu trình bày
hoàn cảnh của họ: Đó là những quan quân nhà Minh, bị người Mãn Châu
(Nhà Thanh) xâm lăng, không chịu khuất phục cường quyền và để tỏ lòng
trung thành với nhà Minh nên họ đã bỏ nước ra đi, đến xứ Đàng Trong,
xin được phục vụ và thề hứa tuyệt đối trung thành với chúa Nguyễn. Đạo
quân thứ nhất do Dương Ngạn Địch (nguyên Tổng binh Long Môn) chỉ huy,
với phó tướng Hoàng Tiến. Đạo quân thứ hai do Trần Thượng Xuyên,
(nguyên Tổng binh ở Cao Lôi Liêm, tỉnh Quảng Đông) chỉ huy, với phó
tướng Trần An Bình. Toàn bộ lực lượng của họ gồm có 50 chiến thuyền với
3.000 binh sĩ và gia đình».
Chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần (tức Thái Tông
Hiếu Triết Hoàng Đế của nhà Nguyễn), sinh năm 1620, lên nối nghiệp chúa
cai trị xứ Đàng Trong từ năm 1648 đến 1687 là người anh hùng đã từng
đem quân đánh chiếm 7 huyện phía Nam sông Lam (Nghệ An) của họ Trịnh
trong 6 năm và cũng đã tiêu diệt Chiêm Thành và thôn tính đất Chân Lạp,
biến xứ Đàng Trong thành một nước giàu có, hùng mạnh vào bậc nhất ở
vùng Đông Nam Á thời bấy giờ, uy danh vang dội đến nhà Minh, nhà Thanh
bên Trung quốc. Thương nhân người Hoa, Nhật Bản, Mã Lai, Thái Lan (Xiêm
La), Phi Luật Tân và các nước Tây Phương như Hòa Lan, Tây ban Nha, Bồ
Đào Nha, Pháp, Anh,v.v...cũng đã vào ra buôn bán ở các cửa biển nước
ta, đã làm cho Hội An (Quảng Nam) và các nơi khác ở xứ Đàng Trong trở
thành những thành phố thương mãi sầm uất.
Được tin cấp báo, Hiền Vương liền triệu tập
một cuộc họp tại Huế để bàn về vấn đề nầy. Các quan trong triều đã nhận
định rằng:«Phong tục tiếng nói của họ đều khác, khó bề sai dùng, nhưng
họ bị thế cùng bức bách đến đây thì không nỡ cự tuyệt» (Đại Nam
Liệt Truyện Tiền Biên, bản Hán văn, quyển 6 tờ 14 b bản dịch của Trần
Vinh Anh, Lê Ngọc Bích, Nguyễn Đức Cung, Nguyễn Lý-Tưởng, nxb Khai Trí,
Sài Gòn, 1974 và Đại Nam Thực Lục Tiền Biên, bản dịch, Hà Nội ,
1962, q.5 trang 125)
Với lập luận trên, triều đình chúa Nguyễn đã
có hướng giải quyết là chấp thuận cho họ vào tỵ nạn ở nước ta và được
làm dân của chúa Nguyễn, phục vụ xứ Đàng Trong. Tờ trình của các quan
tâu lên chúa Nguyễn có đoạn viết như sau:«Nay đất Đông Phố, nước Chân
Lạp, đồng ruộng phì nhiêu nghìn dặm. Triều đình chưa rỗi mà kinh lý
(khai thác, mở mang), chi bằng nhân lấy sức của họ cho đến khai thác để
ở, làm một việc mà lơi ba điều» (Đại Nam Thực Lục Tiền Biên, bản dịch,
Hà Nội, 1962, q.5 tr.125). Chúa theo lời bàn, bèn đặt yến tiệc ủy lạo
khen thưởng, trao cho quan chức, khiến đến ở đất Đông Phố.
Họ đã được chúa Nguyễn cho vào khai phá vùng
Bến Tre, Mỹ Tho, Chợ Lớn, Biên Hòa...ngày nay. Họ lập chợ ở bờ
sông, mở sòng bài, tổ chức hành chánh, kiểm tra dân số, thu thuế ruộng,
đất, thuế bến đò, thuế buôn bán để nuôi quân và nộp cho chúa
Nguyễn. Họ có công dẹp yên các cuộc nổi loạn của người Miên ở trong
vùng. Thuyền buôn Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến đến buôn bán, bà con
người Hoa nghe tin tìm đến lập nghiệp...đã biến vùng nầy thành một nơi
trù phú. Về sau, phó tướng là Hoàng Tiến nổi loạn giết chủ tướng là
Dương Ngạn Địch để tranh quyền. Chúa Nguyễn ra lệnh cho Nguyễn Hữu
Cảnh, (Khâm Sai Kinh Lược ở Biên Hòa) đem quân bắt Hoàng Tiến giết đi,
rồi đưa sĩ quan người Việt vào chỉ huy lính người Minh, cho lập ra
những làng dành cho người Hoa gọi là Minh hương.
Trần Thượng Xuyên, là người có công lớn trong
việc bình định nước Chân Lạp, vào sinh ra tử, nhiều trận đánh thắng
người Miên, đem lại ổn định cho dân chúng. Sau khi qua đời, dân những
nơi ông đã đóng quân trấn nhậm, lập đền thờ để nhớ ơn. Hiện nay tại
Biên Hòa và Vĩnh Long đều có đền thờ Trần Thượng Xuyên. Con trai của
ông là Trần Đại Định cũng đã phục vụ chúa Nguyễn và được phong làm Tổng
binh, là người trung thành, ngay thẳng, lập được nhiều công và cũng
được ghi tên vào sử sách.
Mạc Cửu ở Hà Tiên là người Lôi Châu, tỉnh Quảng
Đông, trung thành với nhà Minh, không chịu theo tập tục của nhà Thanh
(Mãn Châu), đem gia đình theo đường biển chạy về phương Nam, đến đất
Sài Mạt nước Chân Lạp (Kampuchia), chiêu dụ người Hoa, Mã Lai, Nam
Dương, Ấn Độ, Chân Lạp (Miên)...đến tụ tập buôn bán, bèn mở sòng bạc
kiếm lời; lại gặp được hầm chôn giấu tiền bạc nên chẳng bao lâu trở nên
giàu có, bèn bỏ Sài Mạt đi đến xứ Phương Thành, chiêu dụ dân phiêu bạt
các nơi đến Phú Quốc, Cần Bột, Giá Khê, Luống Cày, Hương Úc, Cà Mâu lập
được 7 xã. Nghe đồn nơi ấy thường có tiên hiện ra trên sông nên đặt tên
là Hà Tiên. Đất nầy dựa vào núi, dọc theo biển có thể tụ tập bun bán
làm giàu được.
Người nước Xiêm (Thái Lan) thường đến xâm
phạm, dân Chân Lạp nghe giặc đến bèn bỏ chạy, Mạc Cửu bất đắc dĩ phải
xin hàng tướng Xiêm, được vua Xiêm cho ở tại núi Vạn Tuế. Nhân nước
Xiêm có nội biến, ông liền bỏ núi Vạn Tuế về đất Lũng Kỳ, dân phiêu bạt
về với ông mỗi ngày một đông. Nhận thấy đất Lũng Kỳ chật hẹp nên ông
dời về Phương Thành, dân buôn bán theo về với ông càng ngày càng đông,
chẳng mấy chốc đất Phương Thành càng ngày càng phồn thịnh.
Lúc bấy giờ chúa Nguyễn Phúc Chu (1691- 1725)
đang cai trị xứ Đàng Trong,là người văn võ kiêm toàn, tiếng tăm lừng
lẫy đến tận nhà Thanh và các nước Đông Nam Á, người Trung Hoa, Nhật Bản
và Âu Châu tới buôn bán tấp nập ở các cửa biển, nhất là Hội An. Người
Hoa và người Việt tuy khác tiếng nói nhưng cùng chung một văn tự (chữ
Hán) nên Mạc Cửu tuy ở xa mà cũng biết rõ tin tức. Nhân có người bạn là
Tô Quân, khuyên Mạc Cửu:«Người Chân lạp tính tình gian xảo, thiếu trung
hậu, nên theo về với chúa Nguyễn để vạn nhất có điều gì còn có chỗ nhờ
cậy lâu dài». Mạc Cửu nghe theo. Tháng 8 năm Mậu Tý (1708) tức năm thứ
17 đời chúa Nguyễn Phúc Chu, Mạc Cửu cùng đàn em là
Trương Cầu, Lý Xá mang lễ vật đến Huế yết kiến chúa Nguyễn, dâng đất Hà
Tiên. Nguyên đất nầy là do chính Mạc Cửu khai phá, xây dựng nên. Chúa
Nguyễn không nhọc công chinh chiến mà có, lại thấy bọn họ tướng mạo oai
hùng, tới lui cung kính và có lòng trung thành bèn thu nhận đất mới
nầy, đặt tên là trấn Hà Tiên, phong cho Mạc Cửu làm Tổng binh. Mạc Cửu
được chúa Nguyễn ban cho ấn kiếm, cờ hiệu, được quyền cai trị dân trên
một dải đất bao gồm vùng Hà Tiên, Châu Đốc, Rạch Giá, Long Xuyên, Cà
Mâu...ngày nay. Chúa cho mở yến tiệc khoản đãi rồi tiễn chân ra về. Mọi
người đều hoan hỷ vui mừng.
Với danh nghĩa quan Tổng Binh của chúa Nguyễn, danh
chính ngôn thuận, Mạc Cửu cho xây thành quách, tổ chức quân đội, hành
chánh, đặt quan cai trị tại địa phương, xây dựng cơ sở, kiểm tra dân
số, chiêu hiền đãi sĩ, đón tiếp nhân tài, tổ chức làng mạc, khai khẩn
đất hoang...dân chúng theo về mỗi ngày một đông, chẳng bao lâu Hà Tiên
trở thành phố thị phồn hoa, đô hội. Ông mất năm 1735, hưởng thọ 80
tuổi. Ông là người đã đóng góp công lao rất lớn cho việc bình định mở
mang vùng Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch Giá, Cà Mau ngày nay,
được tặng chức Nhai trấn Thượng trụ quốc Đại tướng quân Võ
nghị công, năm 1823 dưới thời vua Minh mạng, ông được phong Thuận Nghĩa
Trung Đẳng Thần, cho phép dân xã Mỹ Đức ở Hà Tiên được thờ tự như cũ.
Con ông là Mạc Thiên Tứ, một người văn võ song
toàn vừa là danh tướng đánh Đông dẹp Bắc, giữ vững giang sơn, mở rộng
bờ cõi; vừa là nhà thơ, nhà văn, đã lập ra Chiêu Anh các tiếp đãi nhân
tài, có tác phẩm Hà Tiên Thập Vịnh để lại cho đời sau. Khi Tây Sơn nổi
lên, chúa Nguyễn bị giết, ông theo phò chúa Nguyễn Phúc Ánh lưu lạc qua
Xiêm, bị người Xiêm bắt giam và chết trong tù.
Họ Mạc vì trung thành với nhà Minh, không chịu
làm tôi người Mãn Châu (nhà Thanh), đã bỏ nước ra đi đến quy thuận chúa
Nguyễn và trải qua nhiều đời trấn giữ vùng biên cương, vào sinh ra tử,
mở mang bờ cõi, xây dựng phố chợ, làng mạc làm cho đất Hà Tiên trở nên
phồn thịnh. Họ Mạc đã tận trung với chúa Nguyễn, một lòng chết sống với
quê hương dân tộc Việt Nam
Người Hoa đối với nước ta thời đó, tuy ngôn
ngữ bất đồng nhưng cùng chung một văn tự (chữ hán) nên việc giao thiệp
giữa họ với ta không khó khăn lám. Sống ở nước ta một thời gian, họ dần
dần hiểu và nói được tiếng Việt, trải qua một hai thế hệ, con cháu của
họ đã thực sự trở thành người Việt.
Trong cuộc Nam tiến, người Việt đã không đi
sâu vào vùng Rừng Lá (là vùng đất dọc theo quốc lộ I từ Phan Thiết đến
Long Khánh ngày nay) theo kiểu tằm ăn dâu, mà lại theo đường biển xâm
nhập vùng Bà Rịa, Đồng Nai, Bến Tre, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ,
Long Xuyên...
Sau khi Sài Gòn, Gia Định, Biên Hòa đã thuộc
về người Việt thì vùng Rừng Lá đương nhiên là phần lãnh thổ của nước
ta. Nhưng mãi cho đến giữa thế kỷ 19, khi người Pháp dòm ngó nước ta
thì vùng nầy mới được khai thác. Đầu thế kỷ 20, khi thực dân Pháp
mở mang quốc lộ I nối liền Sài Gòn với Phan Thiết thì vùng nầy càng
phát triển mạnh nhất là ngành khai thác gỗ và lập các đồn điền cao su,
cà phê và trồng cây ăn trái... Sau 1954, dưới thời Tổng Thống Ngô Đình
Diệm, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã đưa dân từ miền Trung và miền
Bắc vào và nhất là sau 1975, khi đất nước hòa bình toàn bộ vùng nầy, từ
bờ biển cho đến tận rừng sâu đã tràn ngập người Việt đến định cư, sinh
sống.
(2) Sài Gòn là thành
phố quan trọng nhất về kinh tế, văn hóa, chính trị
của nước Việt Nam, là thành phố quốc tế, thành phố đa văn hóa gồm đủ
mọi sắc dân, mọi ngôn ngữ: nơi mọi người được sống hạnh phúc, yên ổn
làm ăn, nơi đất lành chim đậu, nơi mọi người mơ ước, tìm đến lập
nghiệp...
Sài gòn là trục giao thông quốc tế: đường bộ, đường biển, đường hàng
không. Trong thế kỷ 18 (năm Canh Tuất 1790), thành Gia Định được chúa
Nguyễn Phúc Ánh gọi là Kinh Thành; trong thế kỷ
thứ 19, thời Lê Văn Duyệt làm Tổng
trấn, Sài Gòn được sánh ngang hàng với Băng Cốc, thủ đô nước Xiêm (Thái
Lan), Sài Gòn được gọi là «Hòn Ngọc Viễn Đông»...Từ năm 1862 trở đi,
sau khi ba tỉnh Miền Đông Nam Kỳ bị quân Pháp chiếm đóng, các cuộc cải
cách giáo dục, các Phong Trào học chữ Quốc ngữ (thay vì học chữ Hán,
chữ Nôm) và sách báo, tiểu thuyết viết bằng tiếng Việt đầu tiên ở
nước ta đã được phát động từ Sài Gòn với các nhà trí thức Tây học như
Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của,v.v.(Gia Định báo, viết bằng chữ Quốc
ngữ, xuất bản tại Sài Gòn năm 1865, do Trương Vĩnh Ký làm chủ bút)
Trong khi đó, tại Hà Nội mãi đến 52 năm sau mới có báo tiếng Việt (báo
Nam Phong do Phạm Quỳnh chủ trương, ra đời năm 1917)! Các nhà trí thức
Sài Gòn (Miền Nam) cổ động phong trào học chữ Quốc ngữ thay chữ Hán,
chữ Nôm cũng như viết văn, viết báo, làm sách tiểu thuyết, dịch truyện
Tàu...trước các cuộc vận động học chữ Quốc ngữ và viết văn tiếng Việt
tại Miền Trung và Miền Bắc trên nửa thế kỷ!
Sài Gòn là đất mới nhưng đã được xây dựng và
phát triển qua nhiều đợt để trở thành một thành phố lớn và quan trọng
nhất Việt Nam. Tên Sài Gòn luôn luôn được mọi người nhắc nhở, sử sách
ghi chép, nói đến Sài Gòn là nói đến Miền Nam...Tên Sài Gòn mãi mãi tồn
tại với lịch sử của dân tộc Việt Nam...
Chúng tôi xin trích dẫn một vài sử
liệu từ thế kỷ thứ 18 đến nay ghi lại hình ảnh Sài Gòn-Gia Định ngày
xưa để biết công lao của những ai đã làm cho Sài Gòn trở thành «Hòn
Ngọc Viễn Đông»:
-Sách Đại Nam Thực Lục Chính Biên, Đệ I Kỷ,
bản dịch của Viện Sử Học Hà Nội, 1963, trang 112 ghi lại công tác xây
thành Gia Định vào năm Canh Tuất (năm) dưới thời chúa Nguyễn Phúc Ánh
như sau:
«Thành đắp theo kiểu bát quái, mở tám cửa, ở
giữa là cung điện, bên tả dựng nhà Thái miếu, phía sau miếu là kho
tàng, bên hữu đặt cục chế tạo, chung quanh là nhà tranh cho quân túc vệ
ở. Giữa sân dựng kỳ đài ba tầng, trên làm tòa vọng đẩu bát giác, ban
ngày kéo cờ, ban đêm thì kéo đèn làm hiệu cho các quân. Thành xây xong
gọi tên là kinh thành Gia Định...Tám cửa thành đều xây bằng đá ong,
phía Nam là cửa Càn nguyên và cửa Ly minh, phía Bắc là cửa khôn hậu và
cửa Khảm hiểm, phía Đông là cửa Chấn hanh và cửa Cấn chỉ, phía Tây là
cửa Tốn thuận và cửa Đoài duyệt. Ngang dọc có 8 đường, Đông sang Tây
dài 131 trượng 2 thước, Nam sang Bắc cũng thế, cao 13 thước, chân dày 7
trượng 5 thước. Phía ngoài thành là hào, hào rộng 10 trượng 5 thước,
sâu 14 thước, có cầu treo bắc ngang. Chu vi ngoài thành là 794 trượng.
Ở ngoài là đường phố chợ búa, dọc ngang la liệt đều có thứ tự. Hai bên
đường quan đều trồng cây thích nghi, gọi là đường thiên lý»
(Chú thích: Tòa vọng đẩu bát giác là xây theo kiểu bát giác không có
mái che. Có mái thì gọi là vọng lâu).
Năm 1822 một phái đoàn Anh Quốc do ông
Crawfurd dẫn dầu có đến yết kiến tả quân Lê Văn Duyệt, Tổng Trấn Gia
Định. Trong dịp nầy, Crawfurd đã có nhận xét như sau:
«Đây là lần đầu tiên tôi tới Saigun (Sài Gòn)
và Pingeh (Bến Nghé). Và tôi bất ngờ thấy rằng nó không thua gì kinh đô
nước Xiêm. Về nhiều mặt, trông nó còn sầm uất hơn, không khí mát mẻ
hơn, hàng hóa phong phú hơn, giá cả hợp lý hơn và an ninh ở đây rất
tốt, hơn nhiều kinh thành mà chúng tôi đã đi qua. Tôi có cảm giác như
đây là một vương quốc lý tưởng» (Trích Nguyễn Thanh Liêm: Tìm hiểu văn
hóa Đồng Nai- Cửu Long, đăng trên tập san Tìm Hiểu Văn Hóa Đồng Nai-
Cửu Long, số 2, trang 31)
Crawfurd cũng đã nhận xét về sinh hoạt của
thành phố Sài Gòn dưới thời Lê Văn Duyệt, như sau:
«Thành phố Saigun (Sài Gòn) không xa biển, có
lẽ cách độ 50 dặm; thành phố Pingeh (Bến Nghé) gần đó cách thành phố
Saigun (Sài Gòn) độ 3 dặm. Dinh tổng trấn khá đồ sộ và uy nghiêm. Các
thành trì nằm ở bờ sông An Thông Hà. Nơi đây buôn bán sầm uất. Dân xiêu
tán tới đây được tổng trấn cho nhập hộ tịch, qua một hai đời đã trở
thành người Gia Định. Đông nhất nơi đây là dân Trung Hoa. Các dân tộc
nơi đây được nhà nước bảo hộ và họ đều có nghĩa vụ như nhau. Tất cả đều
được sống trong bầu không khí an lành. Trộäm cướp không có. Người ăn
mày rất hiếm. Tổng trấn rất nhân từ, tha thứ cả bọn giặc, bọn phỉ, bọn
trộm cướp ăn năn. Nhưng ông lại rất tàn bạo với bọn cố tình không chịu
quy phục triều đình. Chưa ở đâu kỷ cương phép nước được tôn trọng
như ở đây. Một vị quan nhỏ ra đường ghẹo gái cũng bị cách chức lưu đày.
Một đứa con vô lễ chửi mẹ, tổng trấn biết được cũng bị phạt rất nặng.
«Ở đây chúng tôi mua được rất nhiều lúa gạo,
ngà voi, sừng tê giác, các hàng tơ lụa, đũi thật đẹp. Từ các nơi, dân
đi thuyền theo các kênh rạch lên bán cho chúng tôi. Nhìn dân chúng hân
hoan vui vẻ, chúng tôi biết dân no đủ. Nhiều người rất kính trọng vị
tổng trấn của họ.
«Con người này ít học. Nhưng lạ lùng thay là
có được cái nhìn cởi mở hơn những đại thần và cả nhà vua học rộng, làu
kinh sử của Khổng Giáo. Ngài sống thanh liêm, muốn mở mang đất Gia Định
này trù phú hơn mọi quốc gia khác ở trong vùng Biển Đông» (sđd, trang
32)
Năm 1863, Phạm Phú Thứ đi theo phái đoàn
Phan Thanh Giản vào Sài Gòn để đi qua Pháp thương lượng chuộc lại 03
tỉnh miền Đông Nam Kỳ bị Pháp chiếm đóng dưới thời vua Tự Đức. Ông đã
có nhận xét về thành phố Sài Gòn vào thời đó như sau:
«Trước dinh soái phủ, bên kia đường đi là nơi
làm việc của tham biện (1). Bên tay mặt, cách vài trăm trượng, xây sở
xem xét khí hậu (2); bên tay trái là nhà ở của các quan tham tán (3) và
lãnh binh. Tiếp theo đó là kho thuốc súng. Cách chừng một dặm, ở phía
trước và bên trái là bãi tập bắn súng tay (4). Sau dinh soái phủ, dựng
một vọng gác, trên nhọn, dưới vuông, chân rộng vài trượng, cao đến năm
thước, rỗng ở giữa và có xây bậc thoai thoải, giống hình kỳ đài. Xa một
chút, bên tay mặt và bên tay trái dinh (5) là trụ sở của phủ Tân Bình.
Phía Đông Bến Nghé là kho, gồm hơn mười dãy nhà lợp bằng lá «phạn cái»
(6), chứa gỗ, sắt cùng mọi vật liệu kềnh càng. Kế theo là trại lính và
xưởng sửa chữa thuyền sắt và kế theo nữa là kho chưa than đá. Phía Tây
Bến Nghé, là nhà ở của các quan bố chính, án sát Tây và nhà ở của sở
cảng; ngoài chỗ ở của quân ra, tùy theo vùng đất, người ta chia ra từng
khu, nơi này thì xây dựng phố xá, nhà tầng cho những người buôn bán và
nơi kia thì vét cửa, đào mương hoặc làm đường, đắp lộ. Các thứ cơ xảo
của phương Tây như máy luyện thép, máy xay bột máy điện lôi để
truyền tin, đều đã được dùng.»
(trích Nhật Ký Đi Tây của Phạm Phú
Thứ, bản dịch của Quang Uyển, nhà
xuất bản Đà Nẵng, 1999, trang 58)
Chú thích: (1) inspecteur
des affaires indigènes (2) đài khí
tượng (chiêm hậu sở) (3) tham mưu (4) pháo thủ trường (5) tức dinh soái
phủ (6) tre hay dừa nước
Năm 1894 (Thành Thái thứ 6), nhân dịp Toàn
quyền De Lanessan về Pháp, Hoàng Cao Khải, đang giữ chức Phụ chính đại
thần, Thái tử thiếu bảo, Võ hiển điện đại học sĩ, Khâm sai Bắc Kỳ kinh
lược đại sứ tước Diên mậu tử, hiệu Thái Xuyên...từ Huế vào Gia Định để
trình bản dự thảo thỏa ước...lần đầu tiên được đặt chân lên đất Sài Gòn
- Gia Định, đã phải ngạc nhiên khâm phục sự trù phú, thịnh vượng
của miền Nam:
«Đất Gia Định nguyên là đất của bản triều từ
thời long hưng (thời dựng nghiệp của nhà Nguyễn), từ ngày thuộc quyền
cai trị của nước Pháp, kể đã hơn 30 năm rồi, xe thuyền kéo đến như góp
gió, bến đò, đường sá, quán chợ được mở mang mỗi ngày một đẹp đẻ, thấy
được sự tươi tốt sầm uất»
(
trích văn bia của Lê Văn Duyệt do Hoàng Cao Khải lập ngày 1 tháng 8
năm 1894 tức 1 tháng 7 năm Giáp Ngọ, Thành Thái thứ 6, nguyên bản Hán
văn, do Nguyễn Lý-Tưởng dịch ra quốc văn, đăng trong sách Nhà Bè Nước
Chảy Chia Hai, 2003, trang 85)
Và đây, tâm tình của một học sinh từ Bắc di cư
vào SàiGòn năm 1954, đã so sánh Sài Gòn với các thành phố lớn của Miền
Bắc như sau:
«Tôi vốn là một cậu bé Bắc Kỳ, ngây ngô, theo
gia đình vào Nam năm 1954, người lớn gọi đó là cuộc di cư tránh nạn
Cộng Sản, còn tôi, vời tuổi 12 lúc đó, chỉ đơn thuần cho là một cuộc
phiêu lưu hứa hẹn nhiều lý thú. Quê tôi là một làng ngoại ô thành phố
Hải Phòng, hàng ngày tôi cuốc bộ khoảng 2 cây số lên tỉnh học, cuộc
sống nửa, tỉnh nửa quê đã cho tôi được nhìn những văn minh của đời sống
thời đó, nghĩa là không lạ lùng gì với những máy móc, xe
cộ,v.v....nhưng khi biết được gia đình tôi sẽ di cư vào Nam, lòng tôi
vẫn cứ nôn nao khi nghĩ rằng, mai kia tôi sẽ được đến Sài Gòn, lúc đó
có mỹ danh là «Hòn Ngọc Viễn Đông», mà theo lời của một vị Linh Mục
quen với gia đình tôi, đã có dịp ghé qua kể lại, thì Sài Gòn là một
thành phố đèn điện sáng suốt đêm, xe taxi, xe xích lô máy chạy như mắc
cưỡi, người bình dân thì có xe buýt, cứ năm mười phút lại có một
chuyến, sự đi lại ngày đêm tấp nập. Đúng là nơi phồn hoa đô hội. Ngoài
lòng háo hức muốn sớm biết một thành phố nổi tiếng ra, tôi không còn
một ý nghĩ nào khác»(Nguyễn Văn Học, tập san Biệt Động Quân số 17, phát
hành tại California Hoa Kỳ, tháng 4/2006, trang 10)
Không phải chỉ có thế hệ 1954 mới mơ ước được
thấy tận mắt Thành phố Sài Gòn mà ngay sau 1975, biết bao thanh niên,
cán bộ, chiến sĩ, đồng bào ở Miền Bắc cũng mơ ước được đi vào Nam một
chuyến cho biết Sài Goin. Người Miền Bắc được đặt chân đến Sài Gòn cũng
như được đi ra ngoại quốc vậy!
Trước 1954, mặc dù đất nước đang ở trong tình
trạng chiến tranh, nhưng Sài Gòn vẫn như hồi thái bình, không bị Việt
Minh phá hoại. Từ 1954 trở về sau, dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm
cũng như thời Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, nói chung là dưới chế độ
Việt Nam Cộng Hòa, Sài Gòn càng phát triển hơn nữa. Nếu kể từ thời các
chúa Nguyễn cho đến 1975, trải qua hàng mấy trăm năm với hàng triệu
triệu người đã góp công sức mồ hôi và cả xương máu của mình để mở mang,
xây dựng Miền Nam, xây dựng Sài Gòn xứng với tên « Hòn Ngọc Viễn Đông».
(3) -Hồ Chí Minh có
công gì, đảng Cộng Sản có công gì đối với Sài Gòn
và Miền Nam?
Trước mắt, Cộng Sản chỉ có phá hoại, đốt nhà, giết người, pháo kích,
đặt mìn, ăn cướp nhà cửa, tài sản của dân chúng, cướp đi cuộc sống yên
lành và ngay cả tính mạng của dân chúng.
-Sài Gòn là tượng trưng cho Miền Nam. Xóa bỏ tên Sài Gòn là phủ nhận
công lao của hàng triệu triệu người, trải qua hơn ba trăm năm, với biết
bao thế hệ đã đổ mồ hôi, xương máu, góp công khai phá miền Đồng Nai-Cửu
Long, xây dựng và bảo vệ Miền Nam.
-Ngày 30-04- 1975: Việt Nam Cộng Hòa
bị bức tử thì Sài Gòn bị đổi tên.
Vận mệnh của TP Sài Gòn đi liền với vận mệnh của dân tộc Việt Nam.
Trong lịch sử Việt Nam từ xưa tới nay chưa hề
có sự kiện «người Việt Nam bỏ nước ra đi», dù trải qua một ngàn năm bị
người Tàu đô hộ hay gần 80 năm dưới chế độ thực dân Pháp. Trước đây khi
có sự thay đổi chế độ, thay đổi triều đại, thay đổi người cai trị thì
người Việt vẫn sống trên quê hương của mình. Ngay cả khi bị ngoại quốc
xâm lăng, người Việt vẫn không bỏ quê hương. Chỉ có dưới chế độ Cộng
Sản mới có chuyện «bỏ nước ra đi» chấp nhận chết để đổi lấy tự do.
-Biến cố năm 1945, Việt Minh (Cộng Sản) lên nắm chính quyền, dẫn đến
cuộc di cư năm 1954 của cả triệu người Việt Nam bỏ nhà cửa, tài sản, bà
con họ hàng, mồ mả tổ tiên, bỏ quê hương Miền Bắc để di cư vào Miền Nam.
-Biến cố 30/4/1975, to lớn hơn, bi đát hơn biến cố 1954: hàng triệu
người bỏ nước ra đi, tìm đường thoát khỏi chế độ Cộng Sản bằng đủ mọi
phương tiện: máy bay, tàu thủy, ghe thuyền. Một số lớn đã chết trên
sông, trên biển, trong rừng; bị bắt, bị hành hạ trong các trại giam, bị
chính quyền Cộng Sản tịch thu hết tài sản, bị hải tặc cướp của, giết
người, hãm hiếp...Họ chấp nhận sự nguy hiểm, hy sinh cả tính mạng để
đổi lấy tự do. Báo chí thường gọi họ là những «thuyền nhân».
-Những người ở lại trong nước không phải vì chấp nhận chủ nghĩa Cộng
Sản, nhưng vì không có cách nào thoát được, nên dành phải ở lại. Câu
chuyện kể: có một người mù vượt biên, bị bắt. Công an Việt cộng hỏi
ông:«Tại sao ông đã mù rồi mà còn vượt biên làm gì?» Người ấy trả
lời:«Nếu cái cột đèn mà đi được thì nó cũng ra đi!»
-Những người tin vào tình huynh đệ, tình đồng bào, tin tưởng vào lời
hứa hẹn và chính sách 12 điểm của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (công cụ
của Cộng Sản Bắc Việt trá hàinh), tin tưởng vào chính sách «Hòa hợp hòa
giải dân tộc»...đã buông súng đầu hàng để được «hưởng sự khoan hồng»,
hy vọng «được làm một người dân lương thiện trong xã hội», «được làm
lại cuộc đời»...kết cuộc vẫn bị đày đọa trong các trại tù mệnh danh là
«Trại Cải Tạo». Một số đã chết vì bị đày đọa ở những nơi rừng thiêng
nước độc, vì bị bắt buộc phải lao động khổ sai, thiếu ăn, thiếu mặc,
thiếu thuốc men...Nhiều người đã chết trong cảnh cô đơn lạnh lùng, chết
không được thấy mặt cha mẹ, vợ con...Ngay cả những bậc tu hành, tín đồ
của các tôn giáo, cán bộ của các chính đảng đối lập với Cộng Sản, nhà
văn, nhà báo, trí thức, thanh niên, sinh viên, học sinh,v.v...vì lên
tiếng đòi hỏi tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền mà bị đàn áp, giam
cầm, giết hại...đến những thành phần buôn bán, làm nghề tự do để sinh
sống cũng bị chung số phận dưới danh nghĩa «diệt tư sản mại bản» hoặc
bị chụp mũ «Tay sai CIA»
Con số người Việt Nam tỵ nạn hiện nay trên thế
giới vào khoảng 03 triệu người, riêng tại Hoa Kỳ có khoảng 2 triệu
người (tính luôn những người sinh ra và lớn lên tại hải ngoại sau
1975): trong đó có những người vượt biên, được bảo lãnh đoàn tụ, được
định cư theo diện cựu tù nhân chính trị (mà chúng ta quen gọi là diện
H.O), du học hay đi lao động tại các nước xã hội chủ nghĩa (Đông
Âu và Liên Xô) rồi xin tỵ nạn sau khi chế độ Cộng Sản tại các nước đó
sụp đổ.
( 4) -Đòi trả lại tên
Sài Gòn có nghĩa là đòi lại các quyền Tự Do Dân Chủ đã
mất
Chúng ta biết hiện nay tại Sài Gòn không còn
tên đường Tự Do và đường Công Lý vốn đã có trước 1975. Điều đó có nghĩa
là dưới chế độ Cộng Sản thì không có Tự Do và Công Lý.
Trong các quyền tự do của con người thì quyền
Tự Do Về Tôn Giáo và Quyền Tự Do về Chính Trị là quan trọng nhất.
Quyền Tự Do
Tôn Giáo.
Con người có những nhu cầu về vật chất và tinh
thần như ăn mặc, nhà ở, giải trí, văn chương, nghệ thuật, triết lý,
chính trị...và cao hơn tất cả các nhu cầu đó là Tôn Giáo. Vậy Tôn Giáo
là phần cao nhất trong sinh hoạt tinh thần của con người.
-Cộng Sản tự cho rằng mình là ưu việt và chủ trương tiêu diệt,
loại bỏ tất cả các tư tưởng khác ngoài chủ nghĩa Cộng Sản để chủ nghĩa
Cộng Sản được độc tôn.
-Cộng Sản cho rằng TÔN GIÁO là thuốc phiện, là ru ngủ, là lừa dối và
khôgn chấp nhận cho tôn giáo được tồn tại. Do đó, họ đã đưa ra mọi chủ
trương, chính sách nhằm tiêu diệt tôn giáo hoặc biến tôn giáo thành tay
sai của họ. Tại Liên Xô, từ khi Cộng Sản lên nắm chính quyền năm 1917
cho đến 1991 (khi chế độ Cộng Sản sụp đổ) cũng như tại các nước Cộng
Sản khác...đảng Cộng Sản ra sức ngăn cấm, đàn áp dã man các nhà lãnh
đạo hoặc tín đồ của các tôn giáo, tịch thu tài sản, nơi thờ tự, các cơ
sở văn hóa giáo dục, y tế xã hội như: nhà thờ, chùa chiền, thánh thất,
đền miếu, tu viện, trường học, bệnh viện, nhà nuôi trẻ mồ côi,v.v...Họ
cài cán bộ vào các tổ chức tôn giáo, mua chuộc và biến người của tôn
giáo thành tay sai (chúng ta thường gọi các thành phần nầy là giáo
gian, là quốc doanh...)Cộng Sản luôn gây khó khăn cho các tôn giáo
trong vấn đề điều hành các Giáo Hội.
-Tại Việt Nam hiện nay chỉ có tôn giáo là có thể quy tụ được quần
chúng, tạo được sức mạnh để đứng lên lật đổ chế độ Cộng Sản. Tại Việt
Nam, nếu không có sự hiện diện của các tôn giáo, vào nếu người dân
không còn niềm tin vào tôn giáo thì chủ nghĩa Cộng Sản đã hoàn toàn
thành công và nền văn hóa, đạo đức của tổ tiên chúng ta đã bị tiêu diệt
từ lâu rồi. Nếu các tôn giáo biết cảnh giác trước âm mưu chia rẽ của
Cộng Sản và biết đoàn kết lại với nhau thì có thể tạo được sức mạnh cứu
nước, cứu dân.
Quyền Tự Do
Chính Trị. Muốn có dân chủ thì phải có
sinh hoạt chính
trị dân chủ. Chính đảng đóng vai trò quan trọng trong sinh hoat chính
trị của một chế độ dân chủ. Không có đối lập thì khôgn có dân chủ. Do
đó, chính đảng đối lập phải được quyền tự do hoạt động hợp pháp. Đối
lập kiểm soát chính quyền một khi chính quyền sai lầm hoặc không thực
thi dân chủ cho người dân. Trong Quốc Hội phải có đại diện của phe đối
lập để có tiếng nói chỉ trích phê bình, kiểm soát Hành Pháp (Chính
Quyền) trong việc thi hành chính sách quốc gia.
Quyền Tự Do
Ngôn Luận là phương tiện để kiểm
soát chính quyền: sách vở, báo chí, các cơ quan truyền thông là phương
tiện phản ảnh dư luận quần chúng, nói lên những nguyện vọng của dân
cũng như những sai lầm của chính quyền. Do đó, quyền tự do sinh hoạt
chính trị phải đi đôi với quyền tự do ngôn luận.
Trong một chế độ dân chủ: Hành Pháp, Lập Pháp
và Tư Pháp là tam quyền phjân lập, hoàn toàn phân biệt và hoàn toàn độc
lập được dân bầu lên để đại diện cho quyền lãnh đạo tối cao của quốc
gia. Ngoài ba cơ quan nầy, không có một chính đảng nào giữ độc quyền
lãnh đạo đất nước.
Người công dân được Hiến Pháp và Luật Pháp bảo
vệ. Mục đích của Luật Pháp không phải để hành hạ, trừng trị, làm khó dễ
người dân, khiến cho mọi người cảm thấy quá khốn khổ khi phải sống dưới
chế độ hiện tại. Luật pháp phải được thực thi một cách công bằng, không
phân biệt người có địa vị trong chính quyền hay người công dân lương
thiện. Bất cứ ai vi phạm Pháp Luật, làm điều trái thì phải bị Luật Pháp
trừng trị. Đó là vì mục đích bảo vệ cho người công dân trong quốc gia,
trong cộng đồng xã hội.
Tại Việt Nam hiện nay, đảng Cộng Sản chủ
trương độc tài, không có chính đảng đối lập, là đi ngược lại với quyền
tự do chính trị, đi ngược lại với khát vọng tự do dân chủ của con người.
Luật pháp của Cộng Sản VN được viết ra với mục
đích lừa dối, thực tế không được thi hành. Việc áp dụng Luật Pháp tại
Việt Nam hiện nay, trên thực tế chỉ là Luật Rừng không có trong Hiến
Pháp hay Luật Pháp. Vì luật pháp bất công nên người dân không tôn
trọng. Do đó, dù Luật Pháp có chặt chẽ, có khắt khe mấy đi nữa vẫn
không áp dụng được. Trong một xã hội, người dân biết tôn trọng luật
pháp, được Hiến Pháp và Luật Pháp bảo vệ, thì xã hội được ổn định và
người dân được hưởng các quyền tự do dân chủ.
(5)- Đặt vấn đề «Trả
lại tên Sài Gòn» trong lúc nầy có ý nghĩa gì ?
-Đảng Cộng Sản Việt Nam do Hồ Chí Minh đẻ ra.
-Toàn bộ đảng viên Cộng Sản Việt Nam đều gọi Hồ Chí Minh bằng Bác và
xem cái tên Hồ Chí Minh còn lớn hơn đảng Cộng Sản Việt Nam. Có người
nói: Đảng Cộng Sản Việt Nam đã từng đổi tên là Đảng Lao Động Việt Nam
vì thế có thể xóa bỏ tên Đảng Cộng Sản Việt Nam, nhưng không thể xóa bỏ
tên Hồ Chí Minh được!
-Nếu chúng ta đòi xóa bỏ tên Thành phố Hồ Chí Minh mà Cộng Sản Việt Nam
không chịu thì phải làm sao?
-Câu trả lời: Năm 1991, Cộng Sản Liên Xô bị sụp đổ thì Thành phố mang
tên Lénine cũng không còn (Léningrad đã bị xóa tên để trả lại tên
cũ là Thành phố Petersbourg). Như vậy, khi nào chế độ Cộng Sản Việt Nam
bị sụp đổ thì tên Thành phố Hồ Chí Minh cũng đương nhiên không còn.
-Vậy khi nào Cộng Sản Việt Nam sụp đổ? (Có hai trường hợp: a/-Khi người
Cộng Sản ý thức được phải tự mình thay đổi, từ bỏ chủ nghĩa Cộng Sản
độc tài và thành tâm thực thi các quyền tự do dân chủ cho dân. b/-Toàn
dân đứng lên cùng tranh đấu lật đổ chế độ Cộng Sản Việt Nam).
-Muốn tranh đấu thì phải có sức mạnh. Muốn có sức mạnh thì phải đoàn
kết với nhau. Yếu tố làm cho mọi người đoàn kết, chịu ngồi lại với nhau
là phải thương yêu nhau, giữ chữ Tín, chân thành hợp tác, không nghi
ngờ nhau. Chúng ta có muốn làm điều đó hay không? -Chúng ta hãy tự vấn
lương tâm của mình!
-Nhưng thật sự Sài Gòn có bị mất tên hay không? (Chị Nhã Ca nói «Sài
Gòn không mất tên». Tôi cũng nói «Sài Gòn không mất tên». Sài Gòn vẫn
còn mãi trong sử sách và trong lòng mọi người: ở trong nước, ở hải
ngoại.
Hiện nay chủ nghĩa Cộng Sản không còn là một
lý tưởng cho tuổi trẻ nữa. Nó cũng không còn là lý tưởng đối với người
Cộng Sản nữa! Tại sao? -Vì người Cộng Sản đã đánh mất lý tưởng của họ
từ lâu rồi! Hiện nay họ tranh đấu chỉ vì quyền lợi, vì tài sản mà họ vơ
vét được, ăn cướp được của dân. Họ tranh đấu để bảo vệ địa vị và
những độc quyền mà họ đang có trong tay...Từ trên xuống dưới bao
che nhau, tham nhũng, bóc lột, ăn cắp, ăn cướp...Có phương tiện trong
tay, họ tha hồ hưởng thụ, sống tôn sùng vật chất, không còn luân lý đạo
đức...Chưa bao giờ dân tộc Việt Nam chúng ta sống trong nỗi đau khổ và
nhục nhã như bây giờ!
Trong cuộc đấu tranh để xóa bỏ chế độ Cộng Sản
thì cuộc đấu tranh cho Tự Do Tôn Giáo là quan trọng nhất, mạnh mẽ nhất,
bền bỉ nhất. Hàng trăm năm trước, dân tộc Việt Nam đã đấu tranh giành
độc lập, chống bất công, đòi tự do tôn giáo cho mình rồi. Đặc biệt dưới
chế độ Cộng Sản từ 1975 đến nay, cuộc chiến đấu cho tự do tôn giáo, dân
chủ và nhân quyền vẫn còn tiếp tục từ thế hệ này qua thế hệ khác, ở
trong nước, ở hải ngoại...Không nơi nào mà không có ngọn lửa đấu tranh,
không thời điểm nào mà không có những người yêu nước, yêu tự do, đứng
lên đấu tranh chống lại chế độ Cộng SảnViệt Nam. Không kể già trẻ, nam
giới hay phụ nữ, người thành thị hay người thôn quê, kể cả người dân
tộc thiểu số...đều đã dấn thân vào cuộc tranh đấu nầy. Có biết bao
người yêu nước, biết bao nhà lãnh đạo các tôn giáo, tu sĩ và tin đồ bị
bắt, bị giam cầm. Nhiều người bị đem ra xử tử hay bị chết vì đau ốm, vì
bị đày đọa trong các trại tù...Phong trào tranh đấu cho tự do tôn giáo,
dân chủ và nhân quyền là của tất cả mọi người chúng ta, của dân tộc
Việt Nam chúng ta. Phong trào đó không bao giờ chết!
Hình thể nước ta giống con rồng, đầu ở Miền
Bắc, đuôi ở Miền Nam. Miền Bắc thuộc thủy, Miền Nam thuộc hỏa. Thủy và
Hỏa luôn xung khắc. Các triều đại Lý, Trần, Lê...đặt thủ đô tại Thăng
Long (Hà Nội) thì trtên bán đảo hình chữ «S» nầy lúc đó có tất cả ba
quốc gia với ba ông vua khác nhau: Miền Bắc của người Việt Nam, Miền
Trung là nước Chiêm Thành và Miền Nam là nước Chân Lạp.
Khi nhà Lý nhà Trần bắt đầu cuộc Nam tiến, đến
nhà Lê thì người Việt chiếm được Miền Trung cho đến Phú Yên. Nhưng trên
thực tế thì Miền Trung vẫn chưa được bình định một cách trọn vẹn. Sau
đó xảy ra biến cố nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, ông Nguyễn Hoàng Dụ đem
quân Thanh Hóa chống nhà Mạc, rồi Nguyễn Kim (con của Nguyễn Hoằng Dụ)
lập Lê Trang Tông, con cháu nhà Lê lên làm vua ở Thanh Hóa để chống nhà
Mạc. Như vậy là trên dải đất hình chữ «S» nầy vẫn có ba ông vua: Nhà
Mạc ở Miền Bắc, nhà Lê ở Miền Trung và Chân lạp ở Miền Nam.
Năm 1592, Trịnh Tùng chiếm được Thăng Long,
dứt được nhà Mạc thì sau đó, Nguyễn Hoàng độc lập ở Miền Trung và chúa
Nguyễn Phúc Nguyên (con của Nguyễn Hoàng) công khai chống lại vua Lê,
chúa Trịnh, tự mình tổ chức triều đình, có quân đội, có lãnh thổ, có
dân riêng. Thực tế giang sơn của chúa Nguyễn là một quốc gia độc lập.
Như vậy trên mảnh đất hình chữ «S» nầy vẫn có ba quốc gia với ba
ông vua khác nhau: vua Lê chúa Trịnh, chúa Nguyễn và vua Chân Lạp
(Miên).
Khi Tây Sơn khởi nghĩa, diệt được họ Nguyễn,
rồi kéo quân ra Bắc diệt họ Trịnh (vua Lê) thì nước Việt Nam vẫn có ba
ông vua: vua Quang Trung (Nguyễn Huệ) với lãnh thổ từ đèo Hải Vân ra
Bắc. Vua Thái Đức (Nguyễn Nhạc) với lãnh thổ từ Quảng Nam đến Bình
Thuận (Phan Thiết) và Đông Định Vương (Nguyễn Lữ) ở Gia Định. Nhưng
chính trong thời gian Quang Trung xưng đế hiệu, kéo quân ra diệt quân
xâm lăng nhà Thanh ở đất bắc (1789) thì Nguyễn Phúc Ánh đã chiếm lại
toàn bộ đất Gia Định (Miền Nam), đuổi Nguyễn Lữ chạy về Quy Nhơn và từ
đó, Nguyễn Phúc Ánh có lãnh thổ, có dân, có quân đội và triều đình
riêng tại Gia Định cho đến ngày chiếm lại Phú Xuân (1801) và thống nhất
đất nước (1802). Nhiều người lầm tưởng anh em Tây Sơn đã thống nhất đất
nước. Điều đó hoàn toàn sai.
Sau khi Gia Long lên ngôi vẫn để cho Việt Nam
có ba chế độ riêng biệt: Nguyễn Văn Thành toàn quyền ở Miền Bắc, Lê Văn
Duyệt toàn quyền ở Miền Nam. Gia Long đóng đô ở Huế, vua ngồi ở giữa
theo dõi công việc của hai vị Tổng trấn... chính là tránh sự xung khắc
giữa Bắc với Nam, giữa Thủy với Hỏa. Khi Gia Long mất (1819), Minh Mạng
kế vị, bãi bỏ chức Tổng trấn Bắc Thành và Gia Định Thành, đặt các tỉnh
trực thuộc trung ương, từ đó loạn lạc nổi lên khắp nơi: con cháu nhà Lê
ở ngoài Bắc, Lê Văn Khôi ở trong Nam...Đến đời Thiệu Trị, Tự Đức, người
Pháp xâm lăng nước ta, phủ Toàn Quyền đặt tại Hà Nội. Đó là cơ quan
Trung ương lãnh đạo toàn cõi Đông Dương. Việt Nam vẫn bị chia làm ba:
Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ...mỗi xứ có chế độ riêng. Bắc với Nam vẫn khác
nhau.
Năm 1945, Việt Minh cướp chính quyền, đặt Thủ
đô tại Hà Nội, chỉ 21 ngày sau thì Sài Gòn bị quân Anh chiếm đóng, rồi
Pháp trở lại Đông Dương...
Năm 1949, Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam,
vua Bảo Đại về nước, chính quyền quốc gia của Quốc Trưởng Bảo đại tuyên
bố chọn Sài Gòn làm Thủ đô...Chỉ mấy năm sau, nước Việt Nam chia hai:
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do Hồ Chí Minh lãnh đạo, đặt Thủ đô tại Hà
Nội; Miền Nam Việt Nam do Bảo Đại (ủy quyền cho Thủ Tướng Ngô Đình
Diệm), thủ đô tại Sài Gòn. Năm 1955, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố
thành lập nước Việt Nam Cộng Hòa. Hà Nội với Sài Gòn, Bắc với Nam vẫn
là Thủy với Hỏa, đối nghịch nhau! Cũng trong thời gian nầy, Cộng Sản
Miền Bắc lập ra Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam để chống nhau với Tổng
Thống Ngô Đình Diệm...Như vậy, trên dải đất hình chữ «S» nầy vẫn có ba
chính quyền, ba chính phủ, ba quốc gia...
Sau ngày
30-04-1975 , mặc dù quân Cộng
Sản Miền Bắc đã thắng và chiếm đóng Sài Gòn của Miền Nam (Việt Nam Cộng
Hòa) và trên thực tế nước Việt Nam đã được thống nhất. Nhưng vấn đề Bắc
nam vẫn còn tranh chấp, vẫn còn phân biệt. Ngay sau khi kéo cờ đỏ sao
vàng vào Sài Gòn, Cộng Sản Việt Nam vẫn cho ra đời một chính phủ thứ
hai mệnh danh là «Cộng Hòa Lâm Thời Miền Nam Việt Nam» do Mặt Trận Giải
Phóng Miền Nam lãnh đạo, Thủ đô là Sài Gòn. Qua năm 1976, Cộng Sản Việt
Nam tuyên bố giải tán Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Cộng Hòa Lâm Thời
Miền Nam Việt Nam để thống nhất đất nước với danh xưng «Cộng Hòa Xã Hội
Chủ Nghĩa Việt Nam» và đặt Thủ đô tại Hà Nội thì một Cộng Đồng Người
Việt Tỵ Nạn với lá cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa (Miền Nam
trước 1975) lại lớn mạnh tại hải ngoại để chống lại chế độ Cộng Sản
Việt Nam với hy vọng có một ngày trở lại quê hương. Mặc dù không có
lãnh thổ, không có biên giới quốc gia nhưng Cộng Đồng Người Việt có
quốc ca, quốc kỳ riêng...thì nó vẫn là hình ảnh của một quốc gia.
Theo truyền thống lịch
sử nước ta, những cuộc
tranh đấu chống ngoại xâm, giành độc lập, thống nhất đất nước thường là
«khởi binh từ phương Nam, đánh đuổi quân xâm lăng phương Bắc»:
Từ Hai
Bà Trưng (năm 42 thế kỷ thứ I) đánh quân xâm lăng nhà Hậu Hán; Ngô
Quyền (thế kỷ thứ 10) đánh quân xâm lăng nhà Nam Hán; Đinh Bộ Lĩnh (thế
kỷ thứ 10) đánh quân xâm lăng nhà Lương; Lê Hoàn tức Lê Đại Hành (thế
kỷ thứ 10) đánh quân xâm lăng nhà Tống; nhà Lý với danh tướng Lý Thường
Kiệt (thế kỷ 11), «phá Tống bình Chiêm»; nhà Trần với danh tướng Trần
Hưng Đạo (thế kỷ 13), đánh quân xâm lăng nhà Nguyên (Mông Cổ); Lê Lợi
(thế kỷ thứ 15), đánh quân xâm lăng nhà Minh; Nguyễn Huệ (Kỷ Dậu 1789)
đánh quân xâm lăng nhà Thanh và Gia Long, cũng khởi binh từ phương Nam,
tiến ra Bắc, giải quyết tranh chấp nội bộ, diệt Tây Sơn, thống nhất đất
nước (1802)...Chỉ có biến cố 30-04-1975 là đi ngược chiều lịch sử: từ
Bắc tiến vào Nam.
Trước năm
1975, ở Miền Nam có nghe câu nói
«Sài Gòn mất, Gia Định còn!» người ta không hiểu câu đó có ý nghĩa gì.
Năm 1976, Sài Gòn bị mất tên, người ta mới hiểu rằng từ khi chưa
có đảng Cộng Sản ra đời thì cũng đã có lời sấm «Sài Gòn mất tên» rồi.
Những tư tưởng chúng tôi trình bày trên đây dựa theo thuyêùt «địa lý
lịch sử» và «ngũ hành xung khắc» của Kinh Dịch trong Triết học Đông
Phương. Chúng tôi tin rằng đất nước chúng ta sẽ có nhiều biến chuyển và
những năm gần đây chúng ta thấy có nhiều hiện tượng lạ lùng xảy ra như
báo trước những biến cố sắp xẩy đến cho dân tộc chúng ta. Vào hậu bán
thế kỷ 19, người Pháp đến xâm lăng nước ta, chiếm ba tỉnh Miền Đông
(hòa ước 1862) rồi đến ba tỉnh Miền Tây (hòa ước 1868), các phong trào
chống Pháp thất bại, những người yêu nước phải thay tên đổi họ, chạy
vào vùng Thất Sơn trốn tránh, nuôi chí phục thù...Từ đó xuất hiện nhiều
«ông đạo» đi khắp nơi chữa bệnh cho đồng bào, kêu gọi mọi người sống
đạo đức, yêu thương đùm bọc lấy nhau. Người ta nói đến một «ông đạo»
danh tiếng thời xưa là Đức Thầy Tây An với Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Rồi sau
đó, trong thế kỷ 20 lại xuất hiện các tôn giáo mới như Cao Đài, Hòa
Hảo...cùng nhau đi cổ động lòng yêu nước, đoàn kết toàn dân...mục đích
là để bảo vệ nền đạo đức luân lý của dân tộc Việt Nam chúng ta trước
nạn sóng vô thần Cộng Sản đang ập đến. Việc làm của người xưa thật ý
nghĩa! Cho đến bây giờ, người dân Việt Nam vẫn còn niềm tin nơi hồn
thiêng sông núi, nơi anh linh các vị tiên liệt anh hùng dân tộc. Miền
Nam chính là nơi tụ khí linh thiêng của đất nước. Chúng tôi tin rằng từ
nơi đó, người dân sẽ đứng lên làm lịch sử để đòi lại tên Sài Gòn, đòi
lại giang sơn của tổ tiên chúng ta đã dày công gầy dựng.
GS Nguyễn Lý Tưởng
|
|