Xuân Nhớ Cố Hương! 
- Phùng Ngọc Sa

Thân gửi đến quý vị cao niên
Mùa Xuân lại đến!

 Mới đó thấm thoát đã trên 30 năm mà tập thể người Việt tỵ nạn đã phải chịu cảnh nước mất nhà tan cùng kiếp sống lưu vong. Nhìn lại lớp tuổi hạc của chúng ta, trong đó một số không ít quý vị đã rời xa quê hương đất nước quá lâu; ngoài ra, khi tuổi đời mỗi ngày một chồng chất, thì nỗi buồn viễn xứ  ắt đã là tê tái còn nói chi đến cái hờn vong quốc, chắc hẵn nó vẫn bàng bạc đâu đó ở lớp người luống tuổi; đặc biệt là với những ai từng trải qua nhiều cuộc đấu tranh và chịu cam khổ sau chuổi ngày dài chiến đấu mà lòng vẫn còn mang nặng nhiều hoài bảo quê hương, với hoàn cảnh nầy thì tâm tư tình cảm của các vị đó ắt phải chịu nhiều điều bức xúc hơn.
     Trước những ưu tư mà tuổi già thường phải đối diện khi nghĩ về quá khứ, đặc biệt là  trong các dịp lễ Tết, thì chắc sẽ có lắm xót xa. Vì thế, nên dù cuộc sống ở đất tạm dung có được đầy đủ chăng nữa, các bậc cao niên ắt cũng không sao tránh khỏi những cái buồn man mát.
      Thử nhìn qua Lý Bạch, một danh sĩ đời Đường, một con người vốn ưa ngao du và thích phiêu lãng; thế mà xa nhà chưa bao lâu; từ Tràng An đến Lạc Dương đâu đã xa mấy, nhưng vào dịp Tết, phần vì nỗi buồn viễn xứ; lại gặp cảnh đêm đông cô tịch ở nơi đất khách quê người, thi nhân do vọng nhớ cố hương nên tức cảnh đã phóng bút. Xin tạm trích vài câu  thơ dưới đây để quý vị thông cảm được nỗi lòng của kẻ tha hương, được xem như là người đồng hội đồng thuyền với chúng ta. Lý Bạch viết:    . . . . . . . . .    

 
           Thùy gia ngọc địch áng phi thanh        
           Tán nhập xuân phong mạn Lạc thành        
           Thử dạ khúc trung văng chiết liễu   
           Hà nhân bất khả viễn cô sầu    

Xin tạm dịch:    
          Nhà ai tiếng sáo mơ màng
          Gió xuân man mát lan qua Lạc thành    
          Đêm đêm tiếng liễu than tình      
          Viễn khách sao khỏi trạnh lòng cố hương               

 
Không chỉ có Lý Bạch mới cảm được nỗi buồn ly hương, mà đối với bất cứ ai, khi năm hết Tết tới, vẫn còn lưu lạc đâu đó, nhất là chịu cảnh cô đơn trong đêm giao thừa, ắt là phải buồn da diết. Nỗi lòng này cũng được Đái Thúc Luân, một văn nhân thi bá thông cảm nên đã mô tả trong bài thơ:

   Trừ Dạ Túc Thạch Đầu Dịch
        Lữ quán thùy tương vấn       
        Hàn đăng độc khả thân    
        Nhất niên tương tận dạ  
        Vạn lý vị qui nhân
        Liêu lạc bi tiền sự        
        Chi li tiếu thử thân   
        Sầu nhan dữ suy mấn  
        Minh nhật hựu phùng xuân
           
  
  Cụ Trần Trọng Kim dịch:  

  
        Đêm Trừ Tịch Ngủ Ở Quán Thạch Đầu   
        Quê người quán khách ai đâu    
       Ngọn đền chiếc bóng cùng nhau ngắn dài     
        Một năm sắp hết đêm này       
        Người còn muôn dặm đeo đai chưa về
        Quạnh hiu buồn nổi trước kia   
       Vẫn vơ chuyện vặt cười khì tấm thân  
        Tóc râm với bộ mặt nhăn    
        Ngày mai ắt hẵn gặp xuân đó mà.
      

 Cùng hoàn cảnh và tâm sự với Đái Thúc Luân, danh sĩ Thôi Đồ trong bài

          Trừ Dạ Hữu Hoài:     
        Thiều đệ Tam Ba lộ   
        Ky nguy vạn lý thân
        Loạn sơn tàn tuyết dạ     
        Cô chúc dị hương nhân  
        Tiệm dữ cốt nhục viễn    
        Chuyển ư đồng bộc thân  
        Nả kham chính phiêu bạt 
        Minh nhựt tuế hoa tân. .


Cụ Trần Trọng Kim dịch:

       Sự Tưởng Nghĩ Tối Ngày Ba Mươi Tết
        Tam ba đường sá xa xôi (*)                          
        Thân ngoài muôn dặm mắc hoài nỗi lo   
        Suốt đêm tuyết xuống núi gò   
       Ngọn đèn hiu hắt thân co quê người   
       Lần lừa cốt nhục tạm nguôi
       Lại cùng tôi tớ bùi ngùi làm thân   
       Chịu đâu trôi giạt gian truân   
       Ngày mai năm mới thấy xuân đó mà

(*)    Tam Ba là đất ba lộ thuộc tỉnh Tứ Xuyên, chỗ tạm trú của tác giả đang lúc xa nhà.   
     Không chỉ có một mình nhà thơ Lý Bạch Tết buồn vì nhớù nhà, mà cả Đỗ Phủ, người bạn chí thân của họ Lý cũng đã làm thơ để nhớ Lý Bạch khi năm hết Tết tới mà chẵng thấy tăm dạng bạn hiền ở đâu. Trong bài Cuối Năm Nhớ Lý Bạch, Đỗ Phủ viết cụTrần Trọng Kim dịch:           
       
       Cuối năm gió lạnh nổi lên    
        Ý người quân tử nghĩ nên thế nào   
        Bao giờ hồng nhạn bay vào    
        Nước thu cuồn cuộn đầy vào hồ sông
       Văn chương ghét mệnh đạt thông
        Quỉ ma yêu quái chỉ mong trêu người
        Nên cùng kẻ khác trao lời    
        Gieo thơ sông Mịch , tặng ai một bài (*)    

     (*) Câu nầy nhắc đến Khuất Nguyên ngày xưa, ngồi bên bờ sông Mịch làm thơ. 
     Nếu đã nói đến Lý Bạch, nhắc qua Đỗ Phủ, ắt không thể quên Bạch Cư Dị. Vậy xin ghi lại bài Mùa Xuân Trên Hồ tại Hàng Châu được cụ Trần Trọng Kim dịch như sau:  

        Trên hồ xuân đẹp như tranh
        Bốn bề núi bọc một vành nước gương
        Rặng thông trên núi mờ sương
        Mặt trăng đáy nước trông dường hạt châu   
        Lúa non đệm nước phơi màu
        Thắm tươi giải lụa những tàu bồ xanh
        Hàng Châu chưa bỏ đi đành
        Nửa vì còn vướng mối tình nơi đây.

      Với quý vị lớn tuổi ưa thích thơ văn, đặc biệt là thơ cổ, ắt không thể nào quên được thơ Đường mà người viết đã trích một vài đoạn ghi trên để diễn tả nỗi buồn xa xứ khi năm hết Tết đến. Thơ Đường sở dĩ nổi tiếng, vì đời Đường theo lịch sử, chính là thời cực thịnh nhất trong thơ Trung Hoa. Nói đến thơ Đường ắt quý cụ đã phải nghĩ ngay đến Đỗ Phủ, Lý Bạch. Và, khi nhắc đến nhà thơ họ Lý, các cụ liền ngữi thoang thoáng đâu đó mùi rượu, chưa đọc mà đã muốn say.
      Người đời thường hay trách cứ kẻ say rượu :  tại sao cứ say sưa tối ngày  - Nhưng đối với Lý Bạch, không phải say sưa tối ngày, mà say sưa tới chết. Say đến độ, thấy bóng trăng dưới nước mà tưởng tới Hằng Nga, bèn nhảy xuống ôm bóng trăng mà chết.  
     Sở dĩ thi nhân tối ngày chỉ có say với sỉn vì trước mắt, Lý Bạch cũng như Tản Đà, tác giả các bài thơ  Giấc Mộng Lớn - Giấc Mộng Con  , một nhà thơ tiên phong trong văn chương thuộc trường phái lãng mạn của nước ta, thì cả hai đều cảm thấy đời chỉ là một giấc chiêm bao, có đáng được gì đâu mà phải bon chen, tranh giành tiền bạc chức tước, vì thế
   
     Lý Bạch viết:


 

      Xuân Nhật Túy Khởi Ngôn Chí:   
     Xử thế nhược đại mộng 
     Hồ vi lao kỳ sinh   
     Sở dĩ chung nhật túy  
     Đồi nhiên ngọa tiền doanh
 

Cụ Trần Trọng Kim dịch:  

     Ở đời tựa giấc chiêm bao      
     Làm chi mà phải lao đao nhọc mình  
     Suốt ngày mượn chén khuây tình   
     Say rồi nghiêng ngữa bên mành hàng ba. . .  
  
 Với cái nhân sinh quan về cuộc sống,  Đời  , đối với cả Lý Bạch cũng như Tản Đà đem so với Ôn Như Hầu thì còn thua một bậc. Vì theo nhà thơ họ Ôn, đời không những là giấc chiêm bao, mà chỉ là những sự lừa lọc, dối trá, vì thế ông viết: 

     Mồi phú quý nhữ làng xa mã
     Bã vinh quang lừa gã công khanh.         

Theo quan niệm nói trên, và với những ai nặng phần bi quan yếm thế, thì đời chẵng có giá trị gì cả, chỉ là một giấc mộng, và toàn là những sự lừa dối. Do đó trong dịp Xuân, để tránh đi những bức xúc với dĩ vảng, người đời thường tạm nhờ thần lưu linh giúp để lướt qua khỏi kiếp phù du. Tốt thì rượu ngon phải có bạn hiền. Nhưng chẵng may, không kiếm được tri âm ắt đành phải độc ẩm. Lý Bạch viết trong:

  
    Xuân Nhật Độc Chước:   
     Xuân phong phiến thục khí      
     Thủy mộc vinh xuân huy   
     Bạch nhật chiếu lục thảo   
     Lạc hoa tán thả phi
     Cô vân hoàn không sơn    
     Chứng điểu các dĩ quy   
     Bỉ vật giai hữu thác  
     Ngô sinh độc vô y   
     Đối thử thạch thượng nguyệt  
     Trường ca túy phương phi.




Cụ Trần Trọng Kim dịch:     

     Ngày Xuân Uống Rượu Một Mình

      Gió đông thổi khí huyên hòa (*)
      Gốc cây nước chảy ởm ờ nắng xuân  
      Màu dương sắc cỏ đượm thuần
      Hoa tàn cánh rữa rụng dần bay tung   
      Đám mây về núi thung dung  
      Chim bay về tổ đều cùng thảnh thơi   
      Vật kia y thác có nơi   
      Thân ta riêng chịu cái đời lẻ loi   
      Ngắm trăng trên đá bồi hồi   
    
 Uống rồi say tít, hát bài phong phi.
(*) Xuân phong, là gió xuân, cụ Trần Trọng Kim dịch là gió đông, vì mùa xuân theo kinh dịch thuộc phương đông, nên gọi là gió đông) .   
     Tết nói đến chuyện rượu, ắt không thể nào quên nhắc đến những câu đối, đặc biệt là câu đối về rượu, người viết cũng xin gom góp lại để độc giả thấy cái hay và tinh túy của người xưa.

      Tào Thuyết Cần, đời Thanh tác giả quyển Hồng Lâu Mộng có câu:       

 
   Cao sơn lưu thủy thị thiên trực
    Minh nguyệt thanh phong tửu nhất thuyền 

Có người dịch:     

        Non cao nước chảy thơ ngàn khúc 
        Gió mát trăng thanh rượu một thuyền
        Gió mát đối với Non cao thật quá tuyệt.

Trong bài Tống Nguyên Nhị Sứ An Tây, dịch là tiễn ông Nguyên Nhị Sứ đi làm Sứ An Tây ở thơ Đường có câu: Khuyến quân cách tận nhất bôi tửu. Người ta lại trích một câu từ bài Tương Tiến Tửu của Lý Bạch ghép thành câu đối:

 
    Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu
    Dử nhi đồng tiêu vạn cổ sầu (Lý Bạch)   

Hai câu trên tuy khác tác giả, nhưng khi đem ghép lại, nó đã trở thành một câu đối tuyệt hảo - Có nghĩa: Khuyên bạn hãy cùng uống cạn thêm chén nữa. Cùng nhau chúng ta quên đi mồi sầu vạn cổ.
Một câu đối khác mà người xưa trước khi họp bạn, nâng ly thường nói:   

 
   Tửu khách, tửu lầu, đồng túy tửu  / đối lại
    Thi nhân, thi xã, hảo ngâm thi   

Được dịch:   

         Khách rượu, ngồi quán rượu, cùng say
         Nhà thơ, làng thơ, đúng chỗ ngồi để ngâm thơ.

 
Một vài chủ quán cũng muốn dùng câu đối để tự quảng cáo việc buôn bán của mình tỉ như: 


   Lưu Linh tá vấn: thùy gia hảo
   Lý Bạch hoàn ngôn: thủ xứ hương      

Dịch:
                 Lưu Linh ướm hỏi:Có nhà nào tốt như đây không?
                 Lý Bạch đáp: Chính nơi đây là chốn thơm (nhất)

 
Bên Tàu dân gian thường thờ thần Thiết Hán và thần Kim Cương trước các đền miếu. Và khi đã áp dụng nghệ thuật quảng cáo, thì bất cứ ai đều phải làm sao thuyết phục cho được người khác tin, do đó phải vận dụng hết mọi thứ, kể cả thần thánh miễn là được việc và có kết quả tốt, vì thế mới có câu đối:   

       
Thiết Hán tam bôi cước nhuyễn
 Kim Cương nhất chung dao đầu     


Ý muốn quảng cáo rượu ngon của họ đến độ mà:   

         Thần Thiết Hán dù người sắt, uống ba chén, chân bước (đi) cũng nhũn ra.                 
         Thần Kim Cương, chỉ một chung, đầu cũng phải lắc lư. 

Người viết tự nghĩ:  mẹ kiếp   rượu ngon đến độ đó thì uống xong chết ngay cũng sướng.
Quảng cáo trên đã át liệt, thế mà chưa bằng:   

  
  Khai đàm (bình rượu) thập lý hương vô giá 
  Túy mại tam bôi mộng diệc hương



Nghĩa: Mở bình rượu, mùi thơm bay (tới) mười dặm
         Mua say ba chén, nằm mộng cũng vẫn con hương.
 
   Trên đây người viết xin góp nhặt vài bài thơ, câu đối, mục đích là cùng quý vị gợi lại cảnh Tết tại quê nhà, chứ  không phải làm đại diện để quảng cáo cho hãng rượu. Bia rượu đối với người lớn tuổi rất nguy hiểm - Mượn rượu để giải sầu chăng? Nguy hiểm lắm, vì Vũ Hoàng Chương trong thơ Say đã than:  
       
Em ơi! Hãy uống,
Uống cho đất trời nghiêng ngữa
Mà trước mắt thành sầu không sụp đổ  
Uống cho đất đất trời nghiêng ngửa cố nhân ơi!

 Trước khi khi chấm dứt, người viết xin kính chúc quý vị một năm mới An Khang - Thắng Lợi - Mong quý vị sống khỏe, sáng suốt, nên dùng thời giờ cuối đời để truyền thụ cho lớp trẻ cái hay, những kinh nghiệm đã qua; cho dù đó là thất bại chăng nữa, thì cũng nên thật tình mở đường cho họ thấy để tránh cạm bẩy. Ước mong thay.

Phùng Ngọc Sa