Nguyễn Quốc Khải
Hoa-Thịnh-Đốn ,
21.10.2005
(Đặc biệt của Ngày Nay và
Vietnam Review)
LGT - Nhân dịp ngày giỗ lần thứ 29 của cố Luật sư Trần Văn Tuyên, từng
là phó
thủ tướng Việt Nam Cộng Hòa, trưởng khối dân biểu đối lập ở Hạ Viện
VHCH, một
nhà cách mạng, một lãnh tụ của Việt Nam Quốc Dân Đảng, một nhà văn, nhà
báo,
một nhà giáo, một huynh trưởng Hướng Đạo. LS Tuyên là một người bền bỉ
tranh
đấu cho tự do, dân chủ của đất nước và nhân quyền cho mọi người Việt
Nam. Nhà
báo Nguyễn Quốc Khải trong ban biên tập Ngày Nay và Vietnam Review hiện
cư ngụ
tại vùng Hoa Thịnh Đốn viết về cuộc đời của ông Tuyên trong bài dưới
đây.
- LS Trần Văn Tuyên: Người
Suốt Đời Tranh
Đấu
Cho Tự Do, Dân Chủ Việt-Nam.
- LS Trần Văn Tuyên, Một
Con Người Đa Dạng,
Nổi Tiếng Trong Nhiều Địa Hạt Từ
- Văn Nghệ, Giáo Dục, Thanh
Niên Sang Đến
Chính TrỊ
- Sự Liên Hệ Giữa Ông Tuyên
Và Tướng Võ
Nguyên Giáp Ra Sao?
- Giai Thoại Giữa Ông Tuyên
Và Các Bạn Cũ
Phía Bên Kia Ở Hội NghỊ Genève 1954
- Ông Tuyên Đã Chết Trong
Lao Tù Cộng Sản
Ra Sao?
Trước ngày 30-4-1975, LS Tuyên dù có nhiều phương tiện để xuất ngoại đã
chọn ở
lại và ông đã chết trong trại tù Hà Tây (Bắc Việt) hôm 26-10-1976. Luật
sư Trần
Văn Tuyên có 7 người con hiện tất cả đều ở hải ngoại. Người con trưởng
là LS
Trần Tử Huyền, cũng là nhà báo Linh Chi hiện ở vùng Bắc California.
Trưởng nữ
là bà Trần Đạm Phương, được biết nhiều trong các cuộc tranh đấu cho
nhân quyền
Việt Nam cũng như cho sự tự do của thân phụ lúc ông bị giam giữ tại
Việt Nam.
Ba người con trai cuối, các ông Trần Tử Thanh, Trần Vọng Quốc (trên
vùng Hoa
Thịnh Đốn) và Trần Tử Miễn (ở Pháp) đang theo hướng đi của thân phụ,
hoạt động
chính trị và tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Nhà báo
Trọng Kim,
chủ nhiệm, chủ bút Ngày Nay cũng là người trong gia đình LS Tuyên, từng
giúp
ông Tuyên trong việc liên lạc với báo chí ngoại quốc từ đầu thập niên
60 tới
lúc mất miền Nam.
 |
Trong quá trình
tranh đấu
của dân tộc Việt-Nam chống ngoại xâm, chống độc tài,
phong kiến và bất công trong thời kỳ cận đại, có một nhà cách mạng
trong hàng
ngũ quốc gia mà ít sách báo nói đến một cách đầy đủ đó là cố LS Trần
Văn Tuyên
mà cách đây hơn một phần tư thế kỷ đã vĩnh viễn ra đi. Nhân ngày giỗ
lần thứ 29
sắp tới, chúng ta nhắc lại thân thế và sự nghiệp của ông để tưởng nhớ
đến một
người đã một đời tranh đấu cho dân tộc trong một giai đoạn lịch sử đau
thương
đầy máu và nước mắt của đất nước mà các thế lực ngoại bang từ thực dân,
quân
phiệt, đến cộng sản quốc tế đã không ngừng xâu xé. Các cường quyền này
đã lợi
dụng sự dại dột, nông cạn và chia rẽ của chúng ta để giết hại chính
chúng ta,
cả ở hai miền Nam Bắc.
Hoạt Động Thanh
Niên và Văn Hóa
LS Trần-Văn-Tuyên sanh ngày 1.9.1913 tại Tuyên
Quang, tốt nghiệp trường
Bưởi
tại Hà-nội vào khoảng 1930. |
| DB Trần Văn
Tuyên (giữa) phát biểu trong một cuộc biểu tình trước
Quốc Hội VNCH. |
Ông là một
học sinh xuất sắc thi đậu hai
bằng trung
học và tú-tài cùng một năm. Trong thời gian học tại trường Bưởi, LS
Tuyên đã
đoạt giải nhất về cuộc thi hùng biện tiếng Pháp dành cho các học sinh
trên toàn
quốc. |
Lúc đầu LS Tuyên dự định học ngành Y-Khoa.
Sau đó vì ngành này
quá tốn
kém, ông chuyển qua học trường Đại-Học Luật Khoa tại Hà-Nội và tốt
nghiệp cử
nhân Luật vào năm 1943. LS Tuyên tham gia phong-trào Hướng Đạo (H.Đ.)
từ năm
1931. Ba năm sau ông thành lập thiếu đoàn Đại La tại Hà-Nội. Ông Bùi
Diễm, cựu
Đại Sứ của Việt-Nam Cộng Hòa (VNCH) tại Hoa-Kỳ, đã gia nhập đơn vị này.
LS
Tuyên và ô. Diễm từ đó đã trở thành đôi bạn tri kỷ. Cuộc đời của hai
người tiếp
tục gắn bó với nhau qua bao nhiêu biến-cố của đất nước trong năm thập
niên kế
tiếp. Vào năm 1945, LS Tuyên cùng với các ông Mai-Liệu, Phan Xuân
Thiện, BS
Nguyễn Tường Bách [1] thành lập Quốc-Gia Thanh-Niên Đoàn để chống lại
thực dân
Pháp và chủ nghĩa Cộng Sản. Ngoại trừ BS Nguyễn-Tường-Bách, những người
lãnh
đạo Quốc Gia Thanh Niên Đoàn đều là các cựu huynh trưởng H.Đ. Vào ngày
12.6.1945, LS Tuyên giữ chức giám-đốc trường Huấn-Luyện Đoàn Trưởng
Thanh-Niên
Xã-Hội Miền Bắc [2].
LS Trần-Văn-Tuyên là một trong những sáng lập viên của phong trào
truyền bá
quốc ngữ và Hội Bình Dân Giáo-Dục vào thập niên 30 để giảm thiểu nạn mù
chữ,
nâng cao trình độ văn hóa, ý thức dân chủ, hiểu biết về quyền công dân
của một
nước độc lập, chống lại một nền giáo dục nô lệ mà "chế độ thực dân muốn
giới hạn tối đa cho một vài thành phần ân sủng" [3]. LS Tuyên là
giáo-sư
dậy về Việt Văn, Pháp văn và toán tại trường trung học tư-thục Văn-Lang
và
Thăng-Long tại Hà-Nội cùng với một số đồng nghiệp như các ông
Võ-Nguyên-Giáp,
Hoàng-Minh-Giám, Phan-Anh, Phan-Mỹ và Đặng-Thai-Mai. LS Trần-Văn-Tuyên
mở văn
phòng luật sư tại Saigon cùng với hai đồng nghiệp Vũ-Văn-Huyền và
Nguyễn-Văn-Huệ
vào năm 1957. Ông là một trong những sáng lập viên vào năm 1958 của hội
Bách-Khoa Tự-Điển cùng với các ông Đào-Văn-Tập và Đào-Đăng-Vỹ. Nhóm này
được
mệnh danh là Nhóm Bách-Khoa Tự-Điển Nguyễn Du. Ngoài việc hành nghề
luật sư, LS
Tuyên còn giảng dậy tại các trường đại-học Đà-Lạt, Huế, Vạn-Hạnh,
Chiến-Tranh
Chính Trị và Cao Đẳng Quốc Phòng từ năm 1965 trở về sau.
Tác phẩm văn chương đầu tay của LS Tuyên là cuốn tiểu thuyết "Hiu
Quạnh" xuất bản năm 1944. Sau đó là cuốn tiểu luận "Đế Quốc Đỏ"
(1957), tùy bút "Tỉnh Mộng" (1957), Hồi Ký Hội-Nghị Genève (1954,
1964), tiểu luận "Chánh Đảng" (1967), tập truyện ngắn "Người
Khách Lạ" (1968) [4]. Bản thảo "Khổng-Tử " dịch từ tiếng
Trung-Hoa bị chính quyền của Tổng Thống Ngô-Đình-Diệm tịch thâu vào năm
1960
rồi mất tích luôn. Ngoài ra LS Tuyên còn xuất bản hai cuốn sách
"Lịch-Sử
Việt-Nam" (1964) và "Cách-Mạng Đi Về Đâu" (1967) nhưng không
thấy ghi trong tạp khảo văn hóa "Việt-Nam Gấm Hoa" của ô.
Thái-Văn-Kiểm. Trong các năm 1967-1968, ông đã cho đăng trên nhật báo
Quyết-Tiến xuất bản tại Saigon nhiều bài nghiên-cứu về tình-hình
kinh-tế và
chính-trị của hai miền Bắc và Nam rút từ tập khảo-luận nhan đề
"Vận-Mệnh
Việt-Nam". Rất tiếc là trong số sách đã xuất bản, gia đình của LS Tuyên
chỉ tìm lại được cuốn "Hồi-Ký Hiệp-Định Genève 1954" và tập truyện
ngắn "Người Khách Lạ". Lối hành văn của LS Tuyên trong các truyện
ngắn này rất giản dị, nội dung mộc mạc, nhưng luôn luôn bao hàm một
triết lý về
lòng người và tình đời. Nếu tin rằng văn tức là người, thì khó mà hiểu
được rằng
qua bộ mặt nghiêm nghị của LS Tuyên, chúng ta có thể tìm thấy được hai
con
người vừa đơn giản vừa phức tạp. Đơn giản ở chỗ không đòi hỏi một đời
sống vật
chất xa hoa, nhưng quí trọng sự hồn-nhiên trong sáng, tôn thờ di sản
của tiền
nhân, thiết tha yêu quê hương dân tộc, phức tạp ở chỗ muốn có một cái
gì tuyệt
đối về tinh thần.
"Và
ngày ngày, mỗi buổi chiều, tôi tới vườn Diên Hồng ngồi đợi khách.
Nhưng Cách Mạng! Anh còn đây
hay đã đi đâu?".
Đây là hai câu cuối cùng của truyện ngắn
"Người Khách Lạ" [5], viết
xong vào ngày 30.10.1965, mở đầu cho tuyển tập mang cùng một nhan đề.
LS Tuyên
đi tìm một người khách lạ mang tên là Cách-Mạng vào giữa thập niên 60.
Người đó
chỉ thấy hiện lên trong giấc mơ, mà không đến với mình trong thực tại.
LS. Trần-Văn-Tuyên bắt đầu sự nghiệp bằng nghề ký giả. Cùng với ô.
Võ-Nguyên-Gíáp, LS Tuyên xuất bản tờ báo chui và in truyền đơn để chống
lại chế
độ thực dân. Bà vợ đầu tiên của ông là bà Trần Thị Phúc [6] giúp chồng
phát
hành tờ báo và đi giải truyền đơn trong thành phố Hà-Nội [7]. LS Tuyên
là người
chủ xướng tờ báo Sao Trắng của Việt-Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ) vào năm
1942. Sau
này ông còn là một ký giả cộng tác với nhiều tờ báo trong nước như
Thời-Luận,
Chính-Luận, Quyết-Tiến, Đại Dân-Tộc, Tin Sáng, v.v. trong khoảng
1958-1975 dưới
nhiều bút hiệu khác nhau: Chính Nghiã, XYZ, Trần Côn, v.v. Trong thập
niên 40,
LS Tuyên còn dùng bút hiệu Trần-Vĩnh-Phúc. Ngoài tiếng mẹ đẻ, ông còn
rất thông
thạo một số ngoại ngữ như tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Quảng-Đông và
tiếng Quan
Thoại. Ngoài các báo Việt ngữ, LS Tuyên còn viết bài cho một số báo
Pháp là Le
Monde, l'Express, France - Asie, v.v.
Hoạt Động Chính Trị
Ô. Thái Văn Kiểm trong cuốn Việt-Nam Gấm Hoa đã viết trong bài Tưởng
Niệm Liệt
Sĩ Trần-Văn-Tuyên như sau:
"LS
Trần-Văn-Tuyên đã hiên ngang đi vào lịch sử
bằng cửa lớn. Người đã nêu cao tinh thần bất khuất của Nguyễn-Thái-Học.
Người
đã viết lịch sử với máu đỏ lòng son". "Với kinh nghiệm bản thân, ông
thấu hiểu thế nào là nghèo khổ, đói khát, thế nào là bất công xã hội,
thế nào
là áp bức, ngục tù. Vì những lý do đó mà ông đã hy sinh cả cuộc đời để
tranh
đấu cho Tự-Do, Dân-Chủ, Công Bằng Xã-Hội và An Sinh cho dân tộc
Việt-Nam"
[8].
Giai Đoạn Chống Pháp
LS Tuyên bắt đầu sự nghiệp chính trị với sự gia nhập Việt-Nam Quốc Dân
Đảng
(Việt Quốc) vào năm 1929 lúc 16 tuổi, một năm trước khi xẩy ra vụ khởi
nghĩa
Yên-Bái. Ông tham gia cuộc tranh đấu dành độc lập cho đất nước cùng với
những
nhà cách mạng như Nguyễn-Hải-Thần, Nguyễn-Tường-Tam, bị mật vụ Pháp bắt
bỏ tù
vào năm 1943 vì tội phá rối trị an, hoạt động chính trị chống sự đô hộ
của
người Pháp. LS Tuyên tham chính lần đầu tiên với chức vụ Tri Huyện
Hải-Dương,
Bắc Việt vào năm 1944. Khi có vụ tổng khởi nghĩa vào năm 1945, chính
cán bộ
thuộc Việt-Nam Độc-Lập Đồng-Minh Hội (Việt-Minh) đã mật báo cho ông
biết trước
để thoát khỏi một vụ mưu sát do Việt-Minh chủ-trương vì dân chúng trong
huyện
Thanh-Miên, tỉnh Hải-Dương và những người cán-bộ này kính phục tài đức
của ông.
Đến năm 1946, LS Tuyên tham gia chính-phủ liên hiệp do ô. Hồ-Chí-Minh
làm Thủ
Tướng, với chức vụ Đổng Lý Văn Phòng Bộ Ngoại Giao do ô.
Nguyễn-Tường-Tam làm
Tổng-Trưởng. Một năm sau ông cùng với các lãnh tụ VNQDĐ khác như
Nguyễn-Tường
Tam, Nguyễn Hải-Thần, Vũ Hồng Khanh,v.v. trốn qua Trung-Hoa vì
Việt-Minh
chủ-trương liên kết với chính quyền thực dân Pháp để diệt trừ các phần
tử
quốc-gia. Ô. Jean Sainteny, Cao-Ủy Lâm-Thời của chính-quyền thực dân
Pháp thời
đó đã tiết lộ: "Hồ-Chí-Minh cần dựa vào sự giúp đỡ của nước Pháp một
cách
hiển nhiên để củng cố địa vị và diệt trừ các đảng đối lập" [9]. Sau khi
Việt-Minh rút ra khỏi Hà-Nội, LS Tuyên trở về Việt-Nam năm 1948, tiếp
tục tranh
đấu dành độc lập cho đất nước, tìm một giải pháp không cộng-sản cho một
quốc-gia Việt-Nam. Tiếp theo cuộc hội đàm giữa chính quyền thực dân
Pháp và vua
Bảo-Đại tại Vịnh Hạ Long vào ngày 6.12.1947, LS Tuyên và ô.
Lưu-Đức-Trung được
vua Bảo-Đại lúc đó đang lưu trú ở Hồng-Kông cử đi tiếp xúc với các nhân
sĩ
trong nước để thành lập một chính-phủ quốc-gia. LS Tuyên giữ chức vụ
Tổng-Trưởng Thông-Tin vào năm 1949 trong nội-các của Tướng
Nguyễn-Văn-Xuân, sau
đó tham gia vào nội các Trần-Văn-Hữu (1949-1951) với chức vụ Bộ Trưởng
Phủ
Thủ-Tướng. Khi tham gia hội-nghị Pau để thương lượng với chính quyền
Pháp trao
trả chủ quyền cho Việt-Nam, LS Tuyên đã quyết liệt phản đối sự vi phạm
trắng
trợn các thỏa ước Pháp đã ký kết. LS Tuyên đã thẳng thắn nói với Cao-Ủy
Pháp là
Tướng De Lattre de Tassigny rằng ông ta không có quyền can thiệp vào
nội bộ
Việt-Nam và yêu cầu ông này rời khỏi phòng họp nội-các của chính-phủ
Việt-Nam.
Tướng De Lattre de Tassigny tức giận ra lệnh trục xuất LS Tuyên ra khỏi
Việt-Nam. LS Tuyên đã tuyên bố:
"Không một người Pháp nào có quyền trục xuất một người Việt-Nam ra khỏi
nước Việt-Nam" [10].
Sau đó LS Tuyên rút ra khỏi nội các Trần-Văn-Hữu. Khi biết tin mật vụ
Pháp đang
đi lùng bắt để trục xuất ra khỏi nước và lưu đầy đi qua Mã đảo
(Madagascar),
ông trốn vào khu bưng biền Tây-Ninh, liên kết với các giáo phái Cao-Đài
và các
đảng phái quốc-gia như Đại-Việt, VNQDĐ, Việt-Nam Phục-Quốc Hội, Dân-Xã
Đảng và
một số các nhà trí-thức để lập một mặt trận liên kết chống lại cả Pháp
lẫn
Cộng-Sản. Mặt Trận Thống Nhất Quốc Gia ra đời vào năm 1953. Năm sau,
Mặt-Trận
Liên-Minh Tổ-Quốc, bao gồm cả hai lực lượng Hòa-Hảo và Bình-Xuyên, được
thành-lập.
Bên Lề Hội Nghị Geneva
Năm 1954, sau khi Pháp thua trận Điện-Biên-Phủ, LS Trần-Văn-Tuyên được
cử làm
Ủy Viên trong phái đoàn Quốc-Gia Việt-Nam (QGVN) tại hội Nghị Genève.
Lúc đầu
phái đoàn QGVN do Ngoại Trưởng Nguyễn-Quốc-Định cầm đầu, sau đó là BS
Trần-Văn-Đỗ. Trong phái đoàn QGVN có hai cựu huynh trưởng H.Đ. là
Trần-Văn-Tuyên và Cung-Giũ-Nguyên. Ở bên trong phòng họp phái đoàn QGVN
đã phản
đối việc chia đôi đất nước dù chỉ là tạm thời để chờ một cuộc tổng
tuyển cử ở
cả hai miền vào năm 1956. Ở bên ngoài, ô. Võ-Thành-Minh thổi sáo bên bờ
hồ
Leman kêu gọi chấm dứt chiến tranh trên lãnh thổ Việt-Nam [11]. Ô.
Võ-Thành-Minh đã một lần bị Việt-Minh bắt vì bị nghi là gián-điệp khi
ô.
Võ-Thành-Minh đi xe đạp từ bắc vào nam để kêu gọi hoà-bình. Nhờ sự can
thiệp
của hai bạn Hướng Đạo cũ là các ông Hoàng-Đạo-Thúy và Tạ-Quang-Bửu, ô.
Võ-Thành-Minh đã được thả ra. Chán Việt-Minh, ô. Võ-Thành-Minh vượt
tuyến qua
sống trong vùng quốc-gia. Năm 1949 thất vọng với phe quốc-gia, ô.
Võ-Thành-Minh
bỏ ra ngoại-quốc. Người ta được biết rằng các ông Tạ-Quang-Bửu,
Trần-Văn-Tuyên
và Võ-Thành-Minh đã từng sinh-hoạt trong cùng Tráng-Đoàn Lam-Sơn tại
Hà-Nội. Ô.
Võ-Thành-Minh tuyệt thực đòi hai phe Việt-Nam phải đến gặp mình để
hòa-giải. LS
Tuyên đã đến thăm ô. Võ-Thành-Minh bên hồ Leman, nhưng ô. Võ-Thành-Minh
từ chối
tiếp chuyện vì không có sự hiện diện của phái đoàn Dân-Chủ Cộng-Hòa
Việt-Nam
(DCCHVN). Khi được tin đất nước Việt-Nam sắp bị chia cắt, ô.
Võ-Thành-Minh vào
Trụ sở Vạn-Quốc định tự vẫn nhưng được cứu thoát. Sau đó ô.
Võ-Thành-Minh bị
trục xuất ra khỏi Thụy Sĩ [12].
Hội Nghị Genève cũng là nơi chứng kiến một cuộc hội ngộ của hai cựu
huynh
trưởng H.Đ. Việt-Nam một lần cuối cùng trong đời là LS Trần-Văn-Tuyên
và KS
Tạ-Quang-Bửu. Thông thường, nhân-viên của hai phái đoàn Việt-Nam không
muốn
nhìn mặt nhau. Tuy nhiên trong các phiên họp thâu hẹp của các Ủy-Ban
Quân-Sự,
các đại biểu QGVN và DCCHVN đã lịch sự chào nhau. Riêng các ông Tuyên,
Bửu và
Hoàng-Nguyên" [13]. có lẽ vì tình anh em Hướng Đạo cũ đã dám bắt tay
nhau
và chào hỏi nhau dù rằng chỉ nói có một hai lời " [14]. Ngồi đối diện
nhau
trong bàn hội nghị vì chính-kiến khác biệt, tuy nhiên trong những phút
riêng tư
họ vẫn trao đổi một vài câu chuyện với nhau. Ô. Bửu lúc đó là Thứ
Trưởng Quốc-
Phòng của Chính-Phủ Cộng-Sản nói với LS Tuyên rằng "Anh Giáp (Tướng Võ
Nguyên Giáp) thường tâm sự với tôi là đời anh có một hối hận rất lớn đó
là đã
để cho anh Tuyên vào Nam..." [15]. KS Bửu [16] lớn hơn LS Tuyên có ba
tuổi. Một người sinh ở Nghệ An. Người kia sinh ở Tuyên-Quang. Cả hai
đều xuất
thân từ hai hai gia đình nho-giáo. Cả hai đều là học sinh xuất sắc,
thông minh
vượt bực. Cả hai là huynh trưởng H.Đ. tham gia vào việc khai sinh và
phát triển
phong-trào giáo dục thanh thiếu niên này từ thời kỳ phôi thai. Cả hai
đã trở
thành các vị đại trí thức thời đó, thành thạo nhiều ngoại ngữ. Cả hai
cùng có
một đời sống thanh bạch dù cả hai dư phương tiện để sống xa hoa. Về
phương diện
nghề nghiệp, ô. Bửu là một kỹ-sư điện, Ô. Tuyên trở thành luật-sư. Cả
hai cùng
giữ những chức vụ quan-trọng trong guồng máy chính-quyền [17]. Cả hai
cùng liêm
chính và cương trực, cùng yêu nước thương nòi, cùng làm cách mạng,
nhưng mỗi
người làm cách mạng một cách khác nhau. Một người chọn con đường
cách-mạng
vô-sản chuyên-chính. Người kia chọn con đuờng cách-mạng tư-sản với chủ
trương
"Dân-Tộc Độc-Lập, Dân-Quyền Tự Do, Dân-Sinh Hạnh-Phúc". Cả hai cùng
tin rằng con đường của mình đi sẽ mang lại cho đất nước một nền
độc-lập,
dân-chủ, tự-do và no ấm.
Hơn 20 năm sau Hội-Nghị Genève, LS Trần-Văn-Tuyên chết đột ngột vào
ngày
26.10.1976 trong khi bị giam cầm bởi những người làm cách-mạng vô-sản.
Một thập
niên về sau, KS Tạ-Quang-Bửu mất ngày 21.8.1986 trong hoàn cảnh nghèo
khổ và
bạc đãi của chế độ vô-sản [18]. Chỉ bốn tháng sau đó, vào cuối năm
1986, ô.
Nguyễn-Văn-Linh Tổng-Bí-Thư của Đảng Cộng-Sản Việt-Nam (CSVN) phát động
chương-trình cải tổ kinh-tế "Đổi Mới", mặc nhiên chấm dứt cuộc
Cách-Mạng Vô-Sản, nhằm ngăn chặn nạn đói đang làn tràn tại Việt-Nam và
trở
thành trầm-trọng vào năm 1985, do sự thất bại của chính sách
Nông-Trường
Tập-Thể. Đất nước độc-lập, Nam Bắc thống-nhất, nhưng đa số người dân
Việt-Nam
còn thiếu tự-do và hạnh-phúc.
Thời Đệ Nhất Cộng-Hòa
Hội nghị Genève chấm dứt. Trở về nước LS Tuyên thành lập Mặt Trận
Quốc-Gia
Liên-Hiệp vào năm 1955 để vận động xây dựng một chế độ dân chủ thực sự
cho miền
Nam. Ông là người đầu tiên vào năm 1958 kêu gọi Tổng-Thống
Ngô-Đình-Diệm dân
chủ hóa chính quyền, chống bất công xã-hội, thiết lập các quyền tự do
căn bản
(ngôn luận, báo chí, lập hội,...). Trong những năm đầu sau khi về nước
chấp
chánh, ô. Ngô-Đình-Diệm đã được lòng dân vì những tiến bộ đạt được
trong các
lãnh vực kinh tế và xã hội. Trong những năm kế tiếp, chính sách thiếu
sáng suốt
của ông, sản phẩm của một chế độ độc-tài và phong-kiến, đã đưa miền Nam
Việt-Nam dần dần đến chỗ suy sụp về mặt xã-hội, kinh-tế và xáo trộn về
chính-trị. Được Tổng-Thống Diệm mời vào làm Bộ Ngoại Giao sau khi BS
Trần-Văn-Đỗ từ chức, nhưng LS Tuyên đã khước từ vì quan niệm rằng mình
không
thể hợp tác với một quan lại của triều-đình Huế mà lại truất phế vua.
Ô. Diệm
đã một lần được Vua Bảo-Đại định mời lập chính-phủ vào thời 1945. Sau
khi lực
lượng viễn chinh Nhật vào ngày 9.3.1945 đảo chính Pháp, tấn công vào
các nơi
trú quân của Pháp, bắt nhốt các binh-lính và các viên chức Pháp, Nhật
buộc vua
Bảo-Đại ly-khai chế-độ bảo-hộ của Pháp và tuyên bố nước Việt-Nam
độc-lập trong
Khối Đại-Đông Á của Nhật. Ô. Ngô-Đình- Diệm, một người thân Nhật, được
chọn làm
Thủ-Tướng. Nhưng vào phút chót, Nhật đổi ý và chỉ định
ô.Trần-Trọng-Kim, một sử
gia, không biết về chính trị, ra lập nội-các vì ô. Trần-Trọng-Kim
ôn-hòa và dễ
bảo hơn ô. Diệm [19]. Vào năm 1954, được sự ủng-hộ của Hoa-Kỳ, ô. Diệm
đã được
Vua Bảo-Đại mời về nước chấp chánh. Ngày 23.10.1955, qua một cuộc trưng
cầu dân
ý, ô. Diệm truất-phế vua Bảo-Đại và lên làm Tổng-Thống.
Trong những năm 1955-58, tình trạng tài chánh của gia-đình rất eo hẹp,
LS Tuyên
phải đi dậy học ở một số trường tư ở Saigon để mưu sinh như trường
Hoàng-Việt,
Thăng-Long và Phước Truyền. Cũng trong khoảng thời gian đó, ông bị
công-an bắt
cóc đôi ba lần ngay ngoài đường phố. Có lần xe hơi của ông do tài xế
lái, đang
trên đường đi đến trường học của các con, thì bị hai xe khác đi kèm ép
sát hai
bên để bắt ngưng lại. Ông chỉ kịp nhắn lại với các con vài lời trước
khi bị lôi
đi. Trong giữa thập niên 50 cho đến cuối năm 1963 tại "miền Nam
Tự-Do" đã xẩy ra những cảnh bắt cóc người giữa thanh thiên bạch nhật
như
vậy. Ô. Nguyễn-Hữu-Chung, cựu Dân-Biểu trong khối Đối-Lập châm biếm :
"Thời ô. Diệm, ô. Nhu, con thằn lằn ban đêm không dám tắc lưỡi" [20].
Mặc dầu vậy, tháng 4.1959, LS Tuyên cùng với 17 nhà chính trị độc-lập
nổi tiếng
của miền Nam như các ông Lê-Ngọc-Chân, Trần-Văn-Đỗ, Trần Văn Hương,
Phan Huy
Quát, Phan Khắc-Sửu, Nguyễn-Bảo-Toàn, Trần-Văn-Văn, Nguyễn Lưu Viên họp
tại khách
sạn Caravelle, Saigon thành lập nhóm Tự-Do Tiến-Bộ [21] và thảo ra một
văn thư
gửi cho Tổng-Thống Ngô-Đình-Diệm để kêu gọi ông dân-chủ hóa guồng máy
chính-trị
của miền Nam, thừa nhận đối lập, tôn-trọng dân quyền. Văn thư phản đối
chính-sách độc-tài đàn áp các đảng phái quốc gia đối lập của chính-phủ
đương
thời [22]. Vì lý do đó, sau vụ đảo chánh hụt của Đại-Tá Nhẩy Dù
Nguyễn-Chánh-Thi vào ngày 11.11.1960, LS Trần-Văn-Tuyên và nhóm Tự-Do
Tiến-Bộ
bị nghi ngờ dính líu vào vụ đảo chánh và bị bắt giam. Một số bị đưa ra
Côn Đảo,
trong đó có cụ Phan-Khắc-Sửu, một số bị giam tại Trại Võ-Tánh của
Tổng-Nha
Cảnh-Sát Quốc-Gia, trong đó có LS Tuyên [23].
Thời Đệ Nhị Cộng-Hòa
Sau cuộc đảo chánh 1.11.1963, chính phủ của Tổng-Thống Ngô-Đình-Diệm bị
lật đổ,
Chế-độ Đệ Nhất Cộng-Hòa chấm dứt. LS Tuyên được thả về. Trong những năm
đầu của
nền Đệ Nhị Cộng-Hòa, với chức vụ Tổng-Thư-Ký, LS Tuyên tổ chức lại xứ
bộ VNQDĐ
Miền Nam. Cùng trong năm đó LS Tuyên được bầu làm Chủ-Tịch Hội-Đồng
Dân-Chính
(1963) và là một đại biểu trong Hội-Đồng Soạn Thảo Hiến-Pháp (1964). LS
Tuyên
tham gia vào chính phủ dân sự cuối cùng của Miền Nam (1965) với chức vụ
Phó Thủ
Tướng Đặc Trách về Kế Hoạch trong nội các của BS Phan-Huy-Quát với
Tướng
Nguyễn-Văn-Thiệu làm Tổng Trưởng Quốc Phòng. Đây là chính-phủ dân-sự
duy nhất
của miền Nam sau khi Tổng-Thống Diệm bị lật đổ. Chính-phủ của BS Quát
được
thành lập trùng hợp với việc các toán quân Mỹ đầu tiên đổ bộ vào bờ
biển Đa
-Nẵng vào ngày 8.3.1965 mà không có sự thỏa thuận trước của chính-phủ
Quát. LS
Tuyên và Thủ-Tướng Phan Huy Quát chủ trương chống lại việc mang quân Mỹ
vào
Việt-Nam nên chỉ sau 4 tháng cầm quyền, nội các Phan-Huy-Quát bị phe
quân nhân
của Tướng Nguyễn-Văn-Thiệu, với hậu thuẫn của Hoa-Kỳ, lật đổ vào tháng
6.1965
[24].
Trong thời gian ngắn ngủi làm Phó Thủ Tướng trong nội các Phan Huy
Quát, LS
Tuyên đã công du qua 10 nước Phi Châu và Toà Thánh La-Mã. Phái đoàn
Việt-Nam do
LS Tuyên lãnh đạo đã được đón tiếp trọng thể ở mọi nơi. Đức Giáo Hoàng
Joan
Paul VI đã không hạn chế giờ giấc để tiếp chuyện riêng với LS Tuyên.
Tổng Thống
Houary Boumedienne của Algeria đã tuyên bố: "Tôi đang tiếp một chiến sĩ
cách mạng cùng chí hướng chống thực dân Pháp với tôi trước đây chứ
không phải
tiếp một Phó Thủ-Tướng của một nước. Do đó sẽ không có vấn đề giới hạn
giờ giấc
và nghi lễ." Quốc Vương Haile Selassie của Ethiopia đã tiếp kiến LS
Tuyên
ba giờ liền thay vì chỉ có 30 phút như đã dự tính trước. Sau chuyến
công du trở
về, Phái đoàn Việt-Nam đã hoàn trả lại cho công quỹ gần 50 ngàn đô la
[25].
Trong 11 năm cuối cùng của cuộc đời, LS Tuyên tiếp tục tranh đấu cho
nhân quyền
và dân quyền. Ông sáng lập và làm chủ-tịch Hội Quốc-Tế Bảo Vệ Nhân
Quyền, chi
Nhánh Việt-Nam (1967). Cùng năm đó LS Tuyên tham gia vào Hội Luật-Gia
Quốc-Tế
có trụ sở tại Genève. Ông còn làm Luật Sư Cố Vấn cho Tổng-Liên Đoàn
Lao-Công
Việt-Nam. Năm 1971, LS Tuyên ra tranh cử chức Dân-Biểu quận 3, Saigon.
Cuộc
tranh cử vào Hạ-Viện của ông trong thời Đệ-Nhị Cộng-Hòa cũng có nhiều
điều đáng
nhớ. Dấu hiệu tranh cử của LS Tuyên là cây thông, một biểu tượng cho
tính cương
trực và lòng yêu chuộng tự do. Bích-chương và truyền đơn tranh cử của
LS Tuyên
chỉ vọn vẹn có dăm ba chữ. Ông tuyệt đối không chấp thuận bất cứ hình
thức mua
phiếu nào. Việc vận động tranh cử cũng được hạn chế thí dụ như không
được phép
phát truyền đơn lẻ tẻ từng nhà. Tuy nhiên LS Tuyên đã được sự đắc cử và
giữ
chức Dân Biểu Quận Ba từ năm 1971 cho đến 30.4.1975 và được bầu làm
trưởng khối
Dân-Tộc Xã-Hội trong Hạ-Viện, đối lập với các chính phủ quân-sự. Các
Tướng
Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn-Văn-Thiệu đã từng mời LS Tuyên giữ chức Đại-Sứ
tại Anh
quốc, nhưng vì tình hình quốc nội thời đó sôi bỏng ông quyết định ở lại
trong
nước dù đã được chính-phủ Anh chấp thuận. Vào ngày 26.4.1975, trong khi
lưỡng
viện quốc-hội còn đang bỏ phiếu trao quyền hành-pháp cho Tướng
Dương-Văn-Minh
để thành lập chính-phủ lâm-thời thì LS Tuyên đã được Tướng Minh mời giữ
chức vụ
Đại-Diện Việt-Nam tại Liên-Hiệp-Quốc, nhưng trong hoàn cảnh dầu sâu lửa
bỏng
trong nước, ông cũng đã khước từ lời mời đó.
Từ Hiệp Định Paris 1972/1973
Tới Chiến Dịch Hồ Chí Minh 1975
LS Trần-Văn-Tuyên đã từng giữ nhiều chức vụ trong các tổ-chức hành-pháp
quan
trọng hơn chức-cụ dân-biểu. Khi được hỏi, LS Tuyên giải thích rằng
quyết định
tranh cử vào quốc-hội nhằm mục đích để tạo một cái thế đối-lập hợp-hiến
hợp-pháp với chính-phủ quân-nhân và để chuẩn bị cho một cuộc đấu tranh
chính-trị công khai với Mặt-Trận Giải-Phóng Miền-Nam (MTGPMN) mà ông
tiên đoán
rằng dù muốn hay không tình hình đất nước đòi hỏi một giải pháp chính
trị mà
phe quốc-gia bị áp lực phải công nhận vai trò của MTGPMN trong chính
trường của
miền Nam. Nhận định rằng chính sách của các chính-phủ quân-nhân trong
thời-gian
1965-1975 đưa đất nước đến chỗ bất ổn và tình trạng này của Miền-Nam
trong năm
năm cuối càng trở nên trầm-trọng hơn. Trong khi đó tại Hoa-Kỳ,
phong-trào
phản-chiến càng ngày càng lan rộng với con số thương vong của binh-sĩ
Mỹ càng
ngày càng cao. Bốn năm sau khi thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ vào bờ biển
Đà-Nẵng, chính sách của Hoa-Kỳ đã hoàn toàn thay đổi với quyết định rút
quân ra
khỏi Việt-Nam bằng mọi giá. Vào năm 1969, lần đầu tiên số binh sĩ
Hoa-Kỳ không
tăng lên mà còn giảm đi 60,000 người, xuống còn còn 480,000 người [26].
Sau đó
việc giảm quân số tiếp tục. LS Tuyên tin-tưởng rằng giải pháp trung lập
hóa miền
Nam là một giải-pháp thực tiễn, khôn ngoan và khả thi ở thời điểm đó để
cứu vớt
tình thế, mở đường cho quân Mỹ rút khỏi miền Nam, tránh sự tàn phá thêm
của
chiến tranh, tái lập hòa-bình cho Việt-Nam.
Ngày 28.1.1973 Hiệp-Định Paris được ký-kết đòi hỏi thành lập tại miền
Nam
Việt-Nam một chính phủ liên-hiệp gồm ba thành phần: chính-phủ VNCH,
chính phủ
Cách-Mạng Lâm Thời của Mặt Trận GPMN và lực lượng thứ ba [27]. Hai năm
sau
(1975) giải pháp trung-lập của Pháp mang ra thử nhưng đã quá trễ. Ngày
28.4.1975, sau khi đi dự lễ nhậm chức Tổng-Thống của Tướng
Dương-Văn-Minh tại
Dinh Độc-Lập trở về với tư cách Trưởng Khối Đối Lập của Hạ Viện, LS
Tuyên đã
nói với một người đồng chí của mình như sau: "Lá bài trung-lập của
Trần-Văn-Hữu không thành, Pháp đã thất bại. Con cờ Dương-Văn-Minh chỉ
là ngày
giờ! Chuyện lỡ rồi, bàn cờ đã bị xóa. Chúng ta đã thua trận! Chúng ta
là nạn
nhân của các siêu cường vì chúng ta ngu dại! Thật đáng tiếc" [28]. Đây không phải là lần đầu tiên LS
Tuyên chứng
tỏ sự hiểu biết về chính trị và thời cuộc. Vào năm 1970, Tướng
Nguyễn-Cao-Kỳ
ngỏ ý muốn được giới thiệu ra tranh cử chức tổng-thống, LS Tuyên đã
tuyên bố:
"Đây là một trò chơi dân chủ. Mỹ sẽ đưa Nguyễn-Văn-Thiệu lên làm
tổng-thống" [29].
Trong mùa xuân 1972, ba sư-đoàn CSBV đã thử lửa trong cuộc tấn công vào
Kontum
từ tháng 4.1972 đến tháng 7.1972 [30] cùng một lượt với cuộc tấn công
đại quy
mô vào Quảng-Trị và An-Lộc với tổng-cộng thêm chín sư-đoàn ở hai mặt
trận này,
một cuộc trắc nghiệm đầu tiên về kế-hoạch Việt-Nam hóa chiến-tranh,
trong khi
cuộc hoà-đàm ở Paris đang tiếp diễn [31]. Năm 1974, nhắc lại chiến-lược
của
Tướng Võ-Nguyên-Giáp là ưu-tiên dành quyền kiểm-soát Cao-Nguyên, LS
Tuyên
báo-động các giới chức quân-sự là Cộng-Sản Bắc-Việt (CSBV) có thể sẽ
đánh
Ban-Mê-Thuột. Quả thật, trận chiến then chốt này thực tế xẩy ra vào
4.3.1975 –
3.4.1975 trong chiến dịch Tây-Nguyên [32] mở đầu cho sự suy sụp toàn bộ
của
miền Nam Việt-Nam vào ngày 30.4.1975. Vào những năm 1952-1954, LS Tuyên
đã làm
cố vấn về cả hai phương diện chính-trị và quân-sự cho Đức Hộ-Pháp
Phạm-Công-Tắc
và tướng Trình Minh Thế với chức Đại Tá Quân Hàm. LS Tuyên được cử vào
trong
Ủy-Ban Quân-Sự của phái-đoàn QGVN tại Hội-Nghị Genève 1954 cũng vì sự
hiểu biết
quân-sự của mình. Cuốn sách "Hồi-Ký Hội-Nghị Genève 1954" của LS Tuyên
đã trình bầy rất đầy đủ về thế trận, vị trí đóng quân và tiến quân của
các phe
liên hệ.
Tình Bạn Với Tướng Võ Nguyên
Giáp
Ô. Võ Nguyên Giáp, xấp xỉ tuổi của LS Tuyên, sinh vào năm 1912 tại làng
An Xã,
tỉnh Quảng-Bình, một vùng nghèo nhất nước dưới thời Pháp đô-hộ. Ô. Giáp
bắt đầu
học tại trường Quốc-Học Huế vào năm 1924, cùng trường với các ông
Hồ-Chí-Minh
và Ngô-Đình-Diệm. Sau khi đậu tú-tài ở Huế, ô. Giáp ra Hà-Nội, học một
năm tại
trường Trung-Học Albert Sarraut, rồi sau đó theo học trường Đại-Học
Luật Khoa
Hà-Nội và tốt nghiệp cử nhân vào năm 1937. Sau đó Tướng Giáp tiếp tục
học thêm
một năm cao-học [33]. Trong khoảng đầu thập niên 40, ô. Võ-Nguyên-Giáp
và người
bạn đồng nghiệp Trần-Văn-Tuyên cùng dậy học tại trường Tư-Thục
Thăng-Long. Ô.
Giáp chuyên dậy về sử-ký và địa-dư, nhưng lại ham mê đọc sách về
quân-sự. Hai
người rất thân nhau vì cùng theo học ngành luật khoa, cùng lý-tưởng
chống
thực-dân Pháp. Gia-đình của hai người cũng rất thân nhau, nhưng ô. Giáp
không
bao giờ mê hoặc được LS Tuyên về chủ-thuyết vô-sản của Karl Marx. Có
một lần ô.
Bùi-Diễm đưa cho LS Tuyên coi cuốn sách Tư-Bản Luận do ô. Giáp cho
mượn, LS
Tuyên có nói với ô. Bùi Diễm: "Khó nghe lắm đấy. Chú đọc thì cứ đọc.
Cần
gì thì anh giảng cho chú nghe" [34]. Trong lần cuối cùng gập gỡ nhau
nhân
hội-nghị sơ bộ với Pháp khai mạc vào ngày 19.4.1946 tại trường Yersin,
Đà-Lạt
để chuẩn bị cho hội nghị Fontainebleau, Tướng Giáp thuộc phái đoàn
Việt-Nam
Dân-Chủ Cộng-Hòa (Việt-Minh) còn kêu gọi LS Tuyên trở về hợp-tác với ô.
Hồ-Chí-Minh. Sau khi bị từ khước Tướng Giáp còn nói với LS Tuyên một
câu bằng
Pháp ngữ nguyên văn như sau : "Alors, tu restes toujours mon ami ".
(Dù sao anh cũng sẽ mãi mãi là bạn của tôi). LS Tuyên và Tướng Giáp vẫn
kính
mến nhau mặc dù hai người ở hai chiến tuyến khác nhau. LS Tuyên đã nhắc
lại
kỷ-niệm đó với một ký giả của tờ báo the Korea Herald trong một cuộc
phỏng vấn
vào tháng 9.1972 [35].
LS Tuyên hi-vọng một ngày nào đó sẽ được tiếp Tướng Giáp tại căn
biệt-thự trắng
thuê tại 198 đường Hồng-Thập-Tự, trước vườn hoa Tao-Đàn, Saigon. Ước
mong đó
không bao-giờ thành. Tướng Giáp không bao giờ bước chân tới căn nhà
trắng của
LS Tuyên. Nhưng ông đã nhờ người tới địa chỉ đó để liên-lạc với LS
Tuyên. Trong
những năm 1954-1956, sau khi Việt-Nam bị chia cắt ra làm hai miền,
Tướng Giáp
vẫn liên-lạc với LS Tuyên qua một vài sĩ-quan trong Ủy-Hội Quốc-Tế
Kiểm-Soát
Đình-Chiến. Có lần LS Tuyên nhận được cành đào của Tướng Giáp gửi từ
Hà-Nội vào
tặng gia-đình ông nhân một dịp tết. Sau khi Miền Nam thất thủ, Tướng
Giáp cử
một sĩ-quan cao cấp vào Saigon đưa thư đề nghị LS Tuyên viết thư cho Bộ
Chính-Trị tại Hà-Nội để khỏi đi học tập cải tạo. LS Tuyên đã cám ơn
Tướng Giáp
nhưng không chấp thuận đề nghị của ông. Ít lâu sau, theo lệnh của nhà
nước LS
Tuyên đi trình diện để học tập cải tạo và không bao giờ trở lại căn nhà
198
đường Hồng-Thập-Tự nữa.
Sinh ở Đây Thì Chết Cũng ở Đây
Vào năm chót của nền Đệ-Nhị Cộng-Hòa, LS Tuyên được bầu làm Thủ-Lãnh
Luật-Sư
Đoàn của Tòa Thượng-Thẩm Saigon (1975). Trong những giờ phút cuối cùng
các luật
sư đến xin giấy giới thiệu để di tản ra ngoại quốc, LS Tuyên sẵn sàng
ký cho
họ, nhưng cũng nói với các đồng nghiệp là mình quyết định ở lại. Bà
Trần-Đạm-Phương theo chồng sống tại Mỹ đã được ít lâu, vào ngày
29.4.1975 điện
thoại về để thuyết phục cha dời Viêt-Nam. LS Tuyên đã trả lời: "Thà
chết
vì bàn tay của kẻ thù còn hơn sống yên thân trong sự khinh thường của
đồng bào,
của bạn bè, của đồng chí và đồng minh". Khi ô. Bùi Ngọc Lâm, một đồng
chí,
cùng hai người con trai của LS Tuyên là Trần Tử Thanh và Trần-Vọng Quốc
đến
trao công điện của bộ Ngoại Giao Hoa-Kỳ xác nhận đã dành đủ chỗ cho cả
gia-đình
di tản, LS Tuyên đã khẳng định rằng mình "...không phải là người đi làm
bồi cho Mỹ. Sinh ở đây thì chết cũng ở đây..." Tuy nhiên LS Tuyên cho
phép
các con được tự do quyết định theo ý muốn của mỗi người.
Ngày17.6.1975, nhà cầm quyền Hà-Nội đã bắt LS Tuyên vào "trại
cải-tạo" tại Long-Thành. Khi bị bắt buộc viết bản tự kiểm thảo, LS
Tuyên
vỏn vẹn chỉ viết có mấy hàng chữ dưới đây:
"Tôi không
có tội gì với tổ quốc và đồng bào của tôi cả. Nếu có tội thì đó
chỉ là tội chống cộng sản, chống thực dân, chống độc tài và bất công"
Khi những hàng chữ này lọt ra ngoài lãnh thổ VN và xuất hiện trên các
báo chí
ngoại quốc, Ký giả Theodore Jacqueney trên trang nhất của tờ báo New York Times
ra ngày 17.9.1976 đã gọi LS Tuyên là "Solzhenitsyn của Quần Đảo Ngục Tù
Việt Nam" (Solzhenitsyn of Vietnam's Gulag Archipelago). Đến
ngày
5.10.1975, nhà cầm quyền Hà-Nội đã đưa LS Tuyên về một trại giam ở Thủ
Đức. Đến
tháng 4.1976 LS Tuyên được di chuyển bằng máy bay ra miền bắc và bị
giam trong
trại Hà Tây sau này đổi tên là Hà Sơn Bình. LS Tuyên chết đột ngột
trong trại
giam này vào ngày 26.10.1976. Khi qua Pháp vào tháng 6.1977 để xin viện
trợ,
Thủ Tướng Phạm-Văn-Đồng tuyên bố là ô. Trần-Văn-Tuyên vẫn sống và khoẻ
mạnh vì
sợ công luận thế giới. Năm 1977, Hội Ân Xá Quốc Tế tuyên xưng LS Tuyên
là một
tù nhân lương tâm. Đến ngày 19.5.1978, tòa Đại Sứ Hà-Nội tại Hòa-Lan
chính thức
trả lời các tổ chức nhân quyền quốc tế là ô. Trần-Văn-Tuyên đã chết vì
băng
huyết ở trong não bộ. Trong số những người chứng kiến và đã mô tả cái
chết đột
ngột của LS Tuyên đã di tản khỏi Việt-Nam và đã sống ở hải ngoại là các
ông
Phan Vỹ, Thái-Văn-Kiểm [36], BS Trần Vỹ [37] và BS Nguyễn-Văn-Ái [38].
Kết-Luận
LS Trần-Văn-Tuyên đã dành cả cuộc đời của mình để tranh-đấu cho nền
độc-lập của
đất nước và quyền tự do và hạnh-phúc của dân-tộc. Một cuộc tranh-đấu
bền bỉ,
mãnh-liệt, nhưng lại ôn hòa dựa trên căn bản dân quyền và nhân quyền,
lấy ngòi
bút, tiếng nói, diễn đàn quốc-hội và luật-pháp làm công cụ để
đấu-tranh. Chỉ
tiếc rằng khi chết đi, ước mộng của ông chưa thành. Sự ra đi của LS
Tuyên là
một mất mát to lớn cho tổ quốc Việt-Nam. Ông đã để lại trong lòng mọi
người, cả
bạn lẫn thù, một niềm tôn-kính sâu sa. Ông đã đi vào lòng đất mẹ do sự
chọn lựa
của chính mình, đã đi theo Nguyễn-Thái-Học và để lại tấm gương oai hùng
muôn
đời cho các thế-hệ mai sau. Tác giả xin mượn lời nhắn-nhủ của chính LS
Trần
Văn-Tuyên viết trong Hồi-Ký Hội-Nghị Genève 1954 để kết thúc bài
tiểu-sử này:
"Nhắc lại quãng lịch-sử quá khứ ... tôi mong các bạn nhớ bài học
lịch-sử
để hiểu sự việc ngày nay và chuẩn bị công-việc ngày mai, để sẵn sàng
ứng phó
với những biến cố lịch-sử ".
Chú thích:
[1] Nguyễn Tường
Bách là em của nhà văn Nguyễn Tường Tam, bút hiệu là Nhất Linh
trong nhóm Tự-Lực Văn-Đoàn.
[2] Chính-Đạo Vũ Ngự Chiêu, "Việt Nam Niên-Biểu 1939-1975", Văn-Hóa,
1996. Cũng theo tài liệu này, vua Bảo Đại vào ngày 15.6.1945 xuống dụ
thành lập
Hội-Đồng Thanh-Niên, chỉ định ô. Hoàng-Đạo-Thúy làm chủ-Tịch, ô.
Trần-Duy-Hưng
và ô. Tạ-Quang-Bửu làm Phó Chủ-Tịch.
[3] Nguyễn-Ngọc-Bích, "Trần-Văn-Tuyên và Lý Tưởng Nhân Quyền ở
Việt-Nam", diễn văn đọc trong buổi lễ tưởng niệm 20 năm cố LS Tuyên tại
George Mason University, Law School, Virginia, 1996.
[4] Hương-Giang Thái-Văn-Kiểm, "Việt-Nam Gấm Hoa", Làng Văn, Canada,
1997.
[5] Trần-Văn-Tuyên, "Người Khách La", Sáng Tạo, Saigon, 1968.
[6] Bà Trần-Thị-Phúc mất năm 1959 tại Saigon. Bà Phạm-Thị-Côn là người
vợ thứ
hai của LS Tuyên.
[7] Paul Hendrickson, "The Living and the Dead - Robert McNamara and
Five
Lives of a Lost War", Alfred A. Knopf Publisher, New York, 1996.
[8] Viện Vận-Động Dân-Chủ Cho Việt-Nam, "Tiểu-Sử Trần-Văn-Tuyên",
Washington D.C., Mùa Đông 1988.
[9] Jean Sainteny, "Histoire d'une Paix Manquée",
Amiot-Dumont, Paris 1954 (t. 171).
[10] Theodore Jacqueney,
"They Are Us, Were We Vietnamese", WorldView April 1977.
[11] Ô. Võ-Thành-Minh bị mất tích trong biến cố Tết Mậu Thân, 1968 tại
miền
Trung.
[12] Trần-Văn-Tuyên, "Hồi Ký Hội-Nghị Genève 1954", Nhà Xuất Bản Chim
Đàn, Saigon, 1954.
[13] Ô. Hoàng-Nguyên làm thông-dịch-viên cho phái-đoàn Dân-Chủ Cộng-Hòa
Việt-Nam.
[14] Xin xem xuất xứ ở chú-thích 10.
[15] Bùi-Ngọc-Lâm, Bút Ký "30 Năm Với Lãnh-Tụ Cách-Mạng
Trần-Văn-Tuyên",
Đặc San Vận-Động Dân Chủ Cho Việt-Nam, Washington, D.C., 1988.
[16] Tôn Thất Thiện, "Anh Tạ Quang Bửu ", Bạch Mã, Cypress -
California, 1996.
[17] Ô. Ta Quang Bửu (1910-1986) từng giữ chức vụ Thiếu tướng Quân đäi
Nhân
Dân, Thứ trưởng Quốc Phòng và Bộ-Trưởng Bộ Đại-Học.
[18] Thành Tín Bùi Tín, "Hoa Xuyên Tuyết", Nhà Xuất Bản Nhân Quyền,
Saigon Press, Irvine, California 1991.
[19] Stanley Karnow, "Vietnam : A History" , Penguin Books, New York
1997.
[20] Nguyễn-Hữu-Chung, "Nhớ Anh Trần-Văn-Tuyên", Báo Tiếng-Chuông,
Montreal, Canada 5.1997.
[21] Báo chí gọi là nhóm Caravelle.
[22] Ô. Bùi-Diễm có mặt trong buổi họp ở khách-sạn Caravelle, tham dự
vào việc
soạn thảo nhưng không ký vào lá-thư gửi Tổng-Thống Ngô-Đình-Diệm.
[23] Trái với một số tài liệu đã viết sai rằng LS Tuyên bị đầy ra
Côn-Đảo.
[24] Bui Diem with David
Chanoff, "In the Jaw of History", Houghton Mifflin Company, Boston
1987.
[25] Xin xem xuất xứ liệt kê ở chú-thích số 15.
[26] Xin xem xuất xứ ở chú thích 19.
[27] Tiziano Terzani, "Giai-Phong - The Fall and Liberation of
Saigon", St. Martin's Press, New York 1976.
[28] Xin xem xuất xứ liệt kê ở chú-thích số 15.
[29] Trích trong diễn-văn của ô. Tạ-Quang-Trung đọc trong buổi lễ tưởng
niệm 20
năm cố LS Tuyên Tuyên được tổ chức tại George Mason University Law
School,
Virginia, 1996.
[30] Lý-Tòng-Bá, "Hồi-Ký 25 Năm Khói Lửa, của Một Tướng Cầm Quân Tại
Mặt
Trận", 1996.
[31] Xin xem xuất xứ ở chú thích 24.
[32] Văn-Tiến-Dũng, "Our Great Spring Victory - An Account of the
Liberation of South Vietnam", Monthly Review Press, New York 1977.
[33] Vo-Nguyen-Giap, "The Military Art of People War, Selected Writings
of
General Vo-Nguyen-Giap", edited by Russell Stetler, Monthly Review
Press,
New York 1970.
[34] Trích trong diễn văn của ô.Bùi-Diễm đọc trong buổi lễ tưởng niệm
20 năm cố
LS Tuyên được tổ chức tại George Mason University, Law School,
Virginia, 1996.
[35] Korea Herald, September 27, 1972.
[36] Xin coi chú-thích số 9.
[37] P.V. Tran, "Prisonner Politique Au
Viet-Nam,1975-1979" ,
Editions L'Harmattan, Paris, 1990.
[38] Văn-Uyên (Nguyễn-Văn-Ái), "Luật Sư Trần-Văn-Tuyên - Tấm Gương Bất
Khuất", trong Thư Mục Y Giới.
|