Nguyễn thái HọcSơ lược Lịch sử Việt - Nam Quốc Dân Đảng 

  BỐI CẢNH LỊCH SỬ

Vào thập niên 1920, thực dân Pháp ngày càng đè nặng ách thống trị tàn bạo lên đầu cổ người dân Việt Nam từ Bắc chí Nam. Chúng đàn áp dã man, bóc lột tận xương tủy. Nào sưu cao thuế nặng, nào bắt bớ giam cầm, tù đày, tra tấn, thủ tiêu những người yêu nước. Các phong trào nổi dậy chống Pháp trước đó bị đàn áp dữ dội. Phong trào Ðông Du của cụ Phan Bội Châu cũng bị dẹp tan. Khắp nơi đâu đâu cũng nghe tiếng oán hờn, nỗi uất hận cao ngút thấu trời xanh.
Trước cảnh cực kỳ đau thương đó của dân tộc, máu căm hờn sôi sục khắp nơi, thanh niên Việt Nam không thể tiếp tục cúi đầu chịu khuất phục đã cương quyết đứng lên chống lại bạo quyền. Nhà Cách Mạng Nguyễn Thái Học, một sinh viên trường Cao Ðẳng Thương Mại Hà Nội lúc ấy mới 24 tuổi, đã cùng các thanh niên Việt Nam yêu nước khác như Nhượng Tống, Phạm Tuấn Tài, Phạm Tuấn Lâm, Hồ Văn Mịch, Phó Ðức Chính, Nguyễn Ngọc Sơn, Lê Văn Phúc vân vân... bí mật thành lập một tổ chức đấu tranh cách mạng nhằm đánh đuổi thực dân giành độc lập và tự do cho dân tộc.

NAM ÐỒNG THƯ XÃ: HẠT NHÂN ÐẦU TIÊN

Nam Ðồng Thư Xã là hạt nhân phát sinh ra VNQDÐ. Cuối năm 1923, 3 thanh niên trí thức : Phạm Tuấn Lâm, Phạm Tuấn Tài và Hoàng Phạm Trân (tức Nhượng Tống) đứng ra thành lập Nam Ðồng Thư Xã ở số 6 đường 96 khu Nam Ðồng Hà Nội, chuyên trứ tác, dịch thuật và xuất bản các sách thuộc loại chính trị, cách mạng, ái quốc như: Cách Mạng Trung Hoa, Lịch Sử Tôn Dật Tiên, Cách Mạng Thế Giới, Chủ Nghĩa Tam Dân. Là loại sách phổ thông, giá bán rất rẻ nên đã gây được tiếng vang lớn, lôi cuốn rất nhiều thanh niên, sinh viên và trí thức nhất là giáo giới và Hạ Sĩ Quan trong Binh Ðoàn Thuộc Ðịa.

25-12-1927: NGÀY THÀNH LẬP VNQDÐ

Ngày 25-12-1927 là ngày trọng đại đối với lịch sử dân tộc cận đại : Ngày khai sinh Việt Nam Quốc Dân Ðảng, một lực lượng Cách Mạng Dân Tộc với hệ thống tổ chức chặt chẽ, dân chủ và khoa học đầu tiên tại Việt Nam. (Ðảng CSÐD chỉ được thành lập năm 1930).
Lúc ấy, VNQDÐ chủ trương một cuộc "cách mạng bạo lực để giành độc lập" và là cuộc "cách mạng dân tộc, dân chủ".
Ủy Ban Trù Bị Ðại Hội do sinh viên Nguyễn Thái Học làm Chủ Tịch gồm tiểu ban dự thảo chương trình và điều lệ do các thanh niên đều dưới 25 tuổi như Hoàng Văn Tùng, Nguyễn Ngọc Sơn (mới du học ở Pháp về) và nhà văn Nhượng Tống.
Hội trường là nhà của đảng viên Lê Thành Vỵ, làng Thể Giáo, ngoại thành Hà Nội, trên tường treo một biểu ngữ bề ngang 4 thước, dài 20 thước với bàn thờ Tổ Quốc rất trang nghiêm: "Nhiệt Liệt Chào Mừng Ðại Hội Ðại Biểu Lần Thứ I Và Ngày Thành Lập Ðảng 25 - 12 - 1927 ".
  • Nguyễn Thái Học được bầu làm Chủ Tịch Tổng Bộ.
  • Phó Chủ Tịch:Nguyễn Thế Nghiệp
  • Ủy Ban Tổ Chức: Phó Ðức Chính, Trưởng Ban.
  • Lê Văn Phúc, Phó Trưởng Ban.
  • Ủy Ban Tuyên Truyền: Nhượng Tống, Trưởng Ban.
  • Ủy Ban Ngoại Giao: Nguyễn Ngọc Sơn, Hồ Văn Mịch.
  • Ủy Ban Tài Chánh: Ðặng Ðình Ðiển, Trưởng Ban.
  • Ðoàn Mạnh Chế, Phó Trưởng Ban.
  • Ủy Ban Giám Sát: Nguyễn Hữu Ðạt, Trưởng Ban.
  • Hoàng Trác, Phó Trưởng Ban.
  • Ủy Ban Trinh Sát: Trương Dân Bảo, Phạm Tiềm.
  • Uy Ban Ám Sát : Hoàng Văn Tùng.
  • Ủy Ban Binh Vụ : (Khuyết. Ðại hội kỳ II do Trần Văn Môn, Ðội Tàu Bay phụ trách ).
Hơn 5 giờ sáng, 16 Ðồng Chí tuổi từ 60, 70 đến 20, 30, nghiêm trang tuyên thệ trước Bàn Thờ Tổ Quốc với lời tâm nguyện :
"Quyết tâm làm tròn sứ mệnh đã được trao phó, hăng say đưa sự nghiệp cách mạng đến thành công mỹ mãn. Tuyệt đối hy sinh tất cả cho nước và cho Ðảng. Nếu sai lời thề xin chịu tội tử hình".
Ðại Hội đã biểu quyết Nam Ðồng Thư Xã là ÐỆ NHẤT CHI BỘ, đó là chi bộ hạt nhân đầu tiên của VNQDÐ, nói lên tinh thần tập thể lãnh đạo Ðảng. Ô. Ðỗ Văn Sinh là Niên Trưởng Chi Bộ, thống thuộc Tổng Bộ.

CHỦ NGHĨA ÐẢNG

VNQDÐ theo con đường Dân Tộc Cách Mạng. Ðiều lệ của VNQDÐ lúc bấy giờ ghi rõ:

"Mục đích và tôn chỉ của Ðảng là làm một cuộc cách mạng quốc gia, dùng võ lực đánh đổ chế độ thực dân phong kiến, để lập nên một nước Việt Nam độc lập Cộng hòa. Ðồng thời giúp các dân tộc bị áp bức trong công cuộc tranh đấu giành độc lập của họ đặc biệt là các lân quốc Ai Lao, Cao Mên".

VNQDÐ dựa vào lý thuyết Tam Dân của nhà cách mạng Tôn Dật Tiên của Trung Hoa và sáng lập Trung Hoa Quốc Dân Ðảng. Tam Dân Chủ Nghĩa với 3 nguyên tắc làm cơ sở tư tưởng: -Dân Tộc Ðộc Lập - Dân Quyền Tự Do - Dân Sinh Hạnh Phúc.
Khẩu-hiệu của Ðảng là : Ðộc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc (*)
Như vậy, VNQDÐ đã được thành lập vào ngày 25-12-1927, trùng với ngày kỷ niệm của Thiên Chúa Giáng sinh lần thứ 1927.
NHỮNG HOẠT ÐỘNG CÁCH MẠNG CỦA VNQDÐ
Kể từ ngày thành lập, VNQDÐ đã không ngừng đấu tranh chống thực dân, chống dộc tài, chống CS với mục tiêu vì nền độc lập của Tổ Quốc, tự do và hạnh phúc của Dân tộc. Sau đây là sơ lược những hoạt động đó.

ÁM SÁT TÊN THỰC DÂN PHÁP BAZIN
Chiều 30 Tết năm Mậu Thìn (9 tháng 2 năm 1929), ba đảng viên VNQDÐ Nguyễn Văn Viên, Nguyễn Văn Lân và Nguyễn Ðức Lung ám sát trùm thực dân khét tiếng tên là bazin tại Chợ Hôm Hà Nội. Thực dân trả thù khốc liệt, đàn áp khắp nơi. Biến cố Bazin làm rúng động toàn cõi Ðông Dương và cả chính quốc Pháp.

TỔNG KHỞI NGHĨA YÊN BÁI 10-2-1930.
Ngày 10-2-1930, VNQDÐ tổ chức tổng khởi nghĩa, đồng loạt tấn công thực dân Pháp tại Yên Bái, Lâm Thao, Hưng Hóa, ném bom tại Hà Nội, ám sát lính Pháp trên Cầu Long Biên Hà Nội, đánh Ðáp Cầu, Phả Lại, tấn công đồn binh Pháp tại Kiến An, đánh Phụ Dực, Vĩnh Bảo, Thái Bình, xử tử tri huyện Vĩnh Bảo Hoàng Gia Mô là cháu tên đại Việt gian Hoàng Cao Khải.
13 NHÀ CÁCH MẠNG LÊN ÐOẠN ÐẦU ÐÀI: NGÀY 17-6-1930
Do thiếu phương tiện liên lạc và lực lượng cách mạng còn yếu so với quân đội của thực dân, Tổng Khởi Nghĩa thất bại. Ngày 20 tháng 2 năm 1930, Ðảng Trưởng Nguyễn Thái Học bị bắt tại làng Cổ Vịt. Ngày 17 tháng 6 năm 1930, Nguyễn Thái Học cùng 12 liệt sĩ lên đoạn đầu đài tại pháp trường Yên Bái. Nữ ÐC Nguyễn Thị Giang tuẫn tiết theo Ðảng Trưởng. Trên 30 đảng viên bị thực dân xử chém sau đó, hàng ngàn đảng viên khác bị tù khổ sai và lưu đầy biệt xứ...Mười ba liệt sĩ lên máy chém thực dân 5 giờ 35, sáng ngày 17 tháng 6 năm 1930 gồm có: Nguyễn Thái Học, Phó Ðức Chính, Bùi Tư Toàn, Bùi Văn Chuẩn, Nguyễn An, Hà Văn Lạo, Ðào Văn Nhít, Ngô Văn Du, Nguyễn Ðức Thịnh, Nguyễn Văn Tiềm, Ðỗ Văn Sứ, Bùi Văn Cửu và Nguyễn Như Liên. Các Liệt Sĩ trước khi máy chém rơi xuống đều hô to : "Việt Nam Vạn Tuế, Việt Nam Muôn Năm". Phó Ðức Chính còn đòi nằm ngửa để nhìn lưỡi máy chém rơi xuống đầu mình.
TIẾP NỐI TINH THẦN LIỆT SĨ YÊN BÁI.
Xử chém được 13 chiến sĩ cách-mạng tại Yên-Bái, thực dân Pháp tưởng đã đàn áp được sự đối kháng và tinh thần yêu nước của toàn dân ta. Nhưng trái lại, tiếp nối truyền thống hào hùng của anh hùng dân tộc và noi gương hy sinh dũng cảm của các tiền nhân trong đó có 13 vị Liệt Sĩ Yên Bái, toàn dân ta tiếp tục cuộc kháng chiến chống Pháp giành độc lập, chống độc tài, chống phong kiến và hiện nay, chống lại ách cai trị của tập đoàn cộng sản Việt Nam mà Hồ Chí Minh là một đảng viên của Quốc Tế Cộng Sản Ðệ Tam đã
 thành lập.

VNQDÐ HẢI NGOẠI BỘ.
Sau khi Tổng Khởi Nghĩa Yên Bái thất bại, Pháp gia tăng ruồng bắt các đảng viên VNQDÐ. Nhiều đảng viên thoát sang Trung Hoa thành lập Hải Ngoại Bộ năm 1929 để tiếp tục chống Pháp. Năm 1930, Hải Ngoại Bộ được tăng cường với nhiều đảng viên khác như Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ, Lý Xuân Lâm, Dương Tự Thanh, Nguyễn Hòa Hiệp... Hải Ngoại Bộ phát triển và hoạt động rất mạnh.

VNQDÐ THỐNG NHẤT.
Văn hào Nhất Linh (tức nhà văn Nguyễn Trường Tam), lãnh tụ Ðảng Ðại Việt Dân Chính trốn thoát cuộc truy lùng của thực dân năm 1942, qua Tàu gặp các ÐC trong VNQDÐ Hải Ngoại Bộ, giải tán Ðại Việt Dân Chính để sát nhập vào VNQDÐ. Sau đó Ðại Việt Quốc Dân Ðảng do bác sĩ Nguyễn Tiến Hỷ đại diện, cũng quyết định giải thể sát nhập cùng hai đảng trên để thành lập Quốc Dân Ðảng Việt Nam, cùng một Ðảng kỳ Sao Trắng, và một Ðảng ca (bài Việt Nam Minh Châu Trời Ðông).
Ba đảng hợp nhất, VNQDÐ trở thành chính đảng mạnh nhất. Thành phần lãnh đạo VNQDÐ trong giai đoạn 1945-1946 như sau:
- Tối Cao Bí Mật Chỉ Huy Bộ tức Bộ Chính Trị: Trương Tử Anh, Nguyễn Tiến Hỷ, Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ, Nguyễn Tường Tam.
- Lãnh Ðạo Ðảng: Chủ Tịch Trương Tử Anh, Bí Thư Trưởng tức Tổng Bí Thư Bộ Chính Trị Vũ Hồng Khanh, Tổng Thư Ký Uỷ Ban Thường Vụ Trung Ương Ðảng Nguyễn Tường Tam.
Cơ quan ngôn luận của Ðảng là nhật báo VIỆT NAM và tuần báo CH´NH NGH¹A. Văn hào Khái Hưng trách nhiệm tổng chủ biên, với ban biên tập gồm nhà văn Phan Khôi (chủ tịch danh dự tỉnh đảng bộ Quảng Nam), Tchya tức Ðái Ðức Tuấn (chủ nhiệm tỉnh đảng bộ Thanh Hóa), Trần Tiêu, Ðỗ Tốn, và một số đảng viên khác. Ðảng cũng thành lập trường quân chính tại Yên Bái mang tên trường Lục Quân Trần Quốc Tuấn Yên Bái.

CHIẾN KHU VÀ CÁC LỰC LƯỢNG VÕ TRANG VNQDÐ:

1945-1946.
Tại miền Bắc và Trung Việt, VNQDÐ thành lập các chiến khu:
- Ðệ Nhất Chiến Khu gồm các tỉnh Hải Dương, Kiến An, Hải Phòng, Quảng Yên, Hòn Gai và Móng Cáy.
 
- Ðệ Nhị Chiến Khu gồm các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, và bộ Tư Lệnh tại Ðáp Cầu.
- Ðệ Tam Chiến Khu là địa bàn chủ lực của VNQDÐ, bao gồm một vùng rộng lớn từ Trung du đến Thượng du Bắc Việt và chia thành nhiều chiến khu quan trọng: chiến khu Hà Giang, Vĩnh Yên, Yên Bái, Phú Thọ, Việt Trì, Lào Cai. Tại mỗi chiến khu, Quốc Dân Quân được tổ chức thành đội ngũ rất chặt chẽ, lên tới cấp sư đoàn vào năm 46. Quốc Dân Quân thời đó cũng kiểm soát các tỉnh dọc biên giới như Cao Bằng, Lạng Sơn, Lai Châu, Móng Cáy, với sự hậu thuẫn của các sắc dân thiểu số địa phương như Nùng, Tầy, Thái,...
- Ðệ Tứ Chiến Khu gồm các tỉnh Hưng Yên và Thái Bình.
- Ðệ Ngũ Chiến Khu gồm các tỉnh Hà Nam, Nam Ðịnh và Ninh Bình. Chiến Khu này, trong đó có Phân Khu Phát Diệm thuộc Giáo Khu Phát Diệm dưới sự lãnh đạo của ÐC Bạch Vân, phụ tá bởi ÐC Phạm Quốc Trỵ, cầm cự chống CS đến cuối năm 1949.
- Ðệ Lục Chiến Khu gồm tỉnh Thanh Hóa.
- Ðệ Thất Chiến Khu gồm các tỉnh miền Trung: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Ðà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, Phú Yên, Khánh Hòa, Phan Rang, và Bình Thuận. Các cơ sở Thừa Thiên (bộ tư lệnh chiến khu), Quảng Nam và Quảng Ngãi là 3 trung tâm chiến đấu bền bỉ và đẫm máu nhất, có hàng ngàn đảng viên đã hy sinh.
- Trong Nam, Nguyễn Hòa Hiệp thành lập Ðệ Tam Sư Ðoàn, qui tụ VNQDÐ và một số đảng chống cộng khác như Việt Nam Quốc Gia Ðảng, Huỳnh Long Ðảng, Việt Nam A¨i Quốc Ðoàn, và một nhóm Phật giáo. Nguyễn Hòa Hiệp, cựu sĩ quan cấp tướng của quân đội Trung Hoa Dân Quốc, giữ chức Sư Ðoàn Trưởng, mở các mặt trận chống Pháp tại miền Ðông cho đến Tây Ninh và Gia Ðịnh. Ðệ Tam Sư Ðoàn sau này bị Cộng Sản Việt Minh (Trần Văn Giàu) phản bội báo cho Pháp dội bom tàn sát.
Thời gian này cũng là thời gian gay go nhất của VNQDÐ vì bị kẹp giữa hai gọng kìm cộng sản Việt Minh và thực dân Pháp, đang cấu kết với nhau để tiêu diệt các lực lượng quốc gia.

CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP QUỐC CỘNG 1946.
Hồ Chí Minh chủ tâm lừa gạt những người quốc gia, nhất là đảng viên VNQDÐ, bằng những giọt "nước mắt cá sấu". Y lại qủy quyệt mượn chiêu bài Tam Dân Chủ Ngĩa của VNQDÐ để che dấu bộ mặt CS quốc tế, họ Hồ cũng lấy khẩu hiệu "Ðộc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc" của VNQDÐ để phỉnh gạt đồng bào và đồng minh, nhất là Trung Hoa Quốc Dân Ðảng. Vì lòng yêu nước và vì sự đại đoàn kết dân tộc, VNQDÐ tham gia chính phủ liên hiệp của Hồ Chí Minh, giữ bộ ngoại giao do nhà văn Nguyễn Tường Tam và bộ kinh tế do ông Chu Bá Phượng đảm trách.

ÐẤU TRANH ÐẪM MÁU QUỐC CỘNG.
Sau Khi biết rõ bộ mặt thực của CS, VNQDÐ rút khỏi chính phủ liên hiệp. Tháng 7/1946, với sự tiếp tay ngấm ngầm của Pháp bằng viện trợ khí giới, CS Việt Minh mở các trận tấn công vào cơ sở VNQDÐ và các tỉnh miền Trung và Thượng Du nằm trong tay VNQDÐ, đặc biệt là các tỉnh Kiến An, Hải Phòng, Móng Cáy. Cuộc đấu tranh Quốc-Cộng đẫm máu và vô cùng khốc liệt diễn ra khắp nơi. Ðích thân Võ Nguyên Giáp chỉ huy công an và bộ đội CS tấn công tòa soạn báo Việt Nam ngày 13/7/46. Ngày 20/10/46, CS Việt Minh quyết dứt điểm báo Việt Nam: công an và bộ đội tấn công ồ ạt tòa soạn tại số 80 đường Quan Thánh, Hà Nội. Nhà văn Khái Hưng, và Phan Khôi cùng anh em rút lên lầu chống cự rất quyết liệt, nhưng cũng không cầm cự lâu được. Khái Hưng bị bắt rồi thủ tiêu tại bến đò Cựa Gà, sông Ninh Cơ, tỉnh Nam Ðịnh, bằng cách bỏ vào rọ, buộc đá cho dìm suống sông. Cụ Phan Khôi cũng bị bắt, may nhờ có thân nhân theo Việt Minh (con là Phan Thao và em chú bác là Phan Bôi) bảo lãnh nên chỉ bị giam một thời gian. Năm 1956-57 tại miền Bắc, Cụ Phan Khôi là một trong những nhà văn chủ xướng phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, với câu chuyện Ông Bình Vôi.
Từ đó cho tới Hiệp Ðịnh Geneve, và ngay cả sau nữa, CS tiếp tục truy lùng VNQDÐ với chỉ thị "gặp là giết, không cần xét xử" chỉ vì hai chữ VQ (Việt Quốc).

GIAI ÐOẠN PHÂN HÓA: 1949-1963.

Do âm mưu chia rẽ và tiêu diệt của Việt Minh, kể từ năm 1947, sự thống nhất giữa VNQDÐ và Ðại Việt QDÐ lại bị tan vỡ. Chủ Tịch Ðảng Trương Tử Anh bị bắt cóc và thủ tiêu cuối năm 1946. Các đảng viên Ðại Việt trở lại hoạt động dưới danh nghĩa Ðại Việt. VNQDÐ cũng mất đi nhiều lãnh tụ lỗi lạc như Nhượng Tống bị CS ám sát năm 1949, Hoàng Ðạo qua đời tại Hoa Lục.
Cũng từ năm 49, Ðảng phân hóa thành 2 khuynh hướng: khuynh hướng ủng hộ giải pháp Bảo Ðại, hợp tác với Pháp chống CS, đáng kể là các GS Nghiêm Xuân Thiện (tổng trấn BV 1949), BS Trần Trung Dung (bộ trưởng Quốc Phòng Ðệ I Cộng Hòa, Nghị Sĩ Ðệ II Cộng Hòa), Cụ Vũ Hồng Khanh, Cụ Ngô Thúc Ðịnh, BS Trần Văn Tuyên. Còn lại đại đa số chống Bảo Ðại vì quyết giữ lập trường chống Pháp, đáng kể là các Cụ Xuân Tùng, Hoàng Văn Ðào (tác giả quyển sử Việt Nam Quốc Dân Ðảng), Nguyễn Văn Chấn, Lê Ngọc Chấn (bộ trưởng Quốc Phòng Ðệ I Cộng Hòa).

GIAI ÐOẠN TÁI PHÁT TRIỂN: 1963-1975.

Sau đảo chánh 1963, Ðảng bắt đầu phục hồi mạnh mẽ và phát triển mau lẹ, đặc biệt là tại các tỉnh miền trung Thừa Thiên, Quảng Nam và Quảng Ngãi. VNQDÐ cũng phát triển mạnh trên Cao Nguyên tại Banmêthuột, Ðà Lạt, và trong vùng Biên Hào, Xuân Lộc, Vũng Tàu.
Tuy nhiên do ảnh hưởng của hoàn cảnh khó khăn trước thời 1963, Ðảng vẫn còn bị phân hóa chia ra thành các hệ phái. Có 3 hệ phái chính là HP Vũ Hồng Khanh, HP Nguyễn Tường Tam, HP Nguyễn Hòa Hiệp, và một số các nhóm biệt lập hoạt động lẻ tẻ.
Sau 1954, ở miền Nam, Ðảng bị chính quyền đàn áp, bắt giam nhiều lãnh tụ, khiến cho sức mạnh của Ðảng bị hao mòn và Ðảng phải phân tán bảo toàn lực lượng, nên chia thành nhiều hệ phái như hệ phái Vũ Hồng Khanh, Kỳ Bộ Miền Trung,
Ở miền Bắc, đảng CS đã tìm kiếm và tiêu diệt những cơ sở và đảng viên VNQDÐ. Tuy nhiên, nhiều đảng viên vẫn bảo toàn được bí mật, chờ cơ hội phục hồi.

GIAI ÐOẠN: 1963-1975.

Sau đảo chánh 1963, Ðảng bắt đầu phục hồi mạnh mẽ và phát triển mau lẹ, đặc biệt là tại các tỉnh miền trung Thừa Thiên, Quảng Nam và Quảng Ngãi. VNQDÐ cũng phát triển mạnh trên Cao Nguyên tại Banmêthuột, Ðà Lạt, và trong vùng Biên Hoà, Xuân Lộc, Vũng Tàu. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của thời kỳ 46-63, Ðảng chia ra thành các hệ phái. Có 3 hệ phái chính là HP Vũ Hồng Khanh, HP Nguyễn Tường Tam, HP Nguyễn Hòa Hiệp, và một số các nhóm biệt lập hoạt động lẻ tẻ.

GIAI ÐOẠN SAU NĂM 1975
Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đánh dấu một giai đoạn cực kỳ đau thương của dân tộc. Cùng chung hệ lụy của đất nước Việt Nam, VNQDÐ phải phân tán mỏng rút vào bí mật để bảo toàn lực lượng, một số đảng viên bị bắt đi cải tạo, nhưng dù trong tù vẫn giữ được khí tiết của người đảng viên của một đảng cách mạng. Một số khác đã di tản ra hải ngoại, sau một thời gian ngắn đã tìm mọi cách để bắt liên lạc tái hoạt động.

THỜI KỲ QUẬT KHỞI
1980-1994: Kể từ 1980 trở đi, các đảng viên từ trong nước vượt biển ra hợp lực các đảng viên ở hải ngoại và các đảng viên mới gia nhập ở nước ngoài (đa số là thành phần trẻ) đã tổ chức lại đảng ở hải ngoại và đã có mặt ở khắp nơi, góp phần với đồng bào hải ngoại trong công cuộc đấu tranh chống bạo quyền trong nước, gặt hái được nhiều thành công. Ðã có nhiều cuộc gặp gỡ thảo luận nhằm thống nhất các lực lượng VNQDÐ tại hải ngoại.

THỐNG NHẤT CÁC HỆ PHÁI: 1994
Trước đây do hoàn cảnh của đất nước, VNQDÐ đã phải chia thành nhiều hệ phái, Không phát huy được sức mạnh. Nhiều nỗ lực thống nhất được xúc tiến, các đảng viên từ trong nước mới ra hợp lực cùng các đảng viên ở hải ngoại đã tổ chức thành công đại hội thống nhất VNQDÐ vào ngày 25 tháng 11 năm 1994, xoá bỏ mọi hệ phái, thống nhất tổ chức và hành động để hợp lực cùng toàn dân trong và ngoài nước chống lại độc tài cộng sản, quyết mang dân chủ, tự do, và no ấm cho tổ quốc và dân tộc Việt Nam như cương lĩnh của đảng kể từ lúc mới thành lập năm 1927.
Do những khó khăn của thời cuộc, việc kết hợp toàn diện VNQDÐ tại hải ngoại còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại, nhưng tất cả đều cùng một lòng tìm mọi phương thức để kết hợp các cơ sở của VNQDÐ hiện đang hoạt động khắp nơi trên thế giới, để tạo thành sức mạnh hợp lực cùng các lực lượng quốc dân, quyết tâm tranh đấu cho một nước Việt Nam Ðộc Lập, Tự Do thật sự, xây dựng một đất nước phú cường, toàn dân sống trong ấm no hạnh phúc.

  KẾT LUẬN
Ðược thành lập vào khoảng đầu thế kỷ thứ 20 trong hoàn cảnh đất nước bị đặt dưới ách cai trị của thực dân Pháp, Việt Nam Quốc Dân Ðảng đã sản xuất bao nhiêu anh hùng liệt sĩ xả thân vì đất nước.13 Liệt Sĩ lên đoạn đầu đài tại Yên Bái ngày 17/6/1930 và hàng ngàn vạn đảng viên bị xử tử, hoặc bị tù đầy, biệt xứ. Tiếp nối tinh thần Cách Mạng Yên Bái, noi gương hy sinh của các Liệt Sĩ đã hy sinh cho Tổ Quốc, Việt Nam Quốc Dân Ðảng vẫn cùng toàn dân đấu tranh không ngừng nghỉ, khi thì đẫm máu quyết liệt, khi thì đau thương thê thảm, hàng hàng lớp lớp vẫn đứng lên, người này ngã gục, kẻ khác đứng dậy, hàng ngàn hàng vạn đồng bào và chiến sĩ đã bị thù trong giặc ngoài cầm tù, tàn sát, nhưng không lúc nào ngưng chiến đấu, trong hơn nửa thế kỷ vẫn quyết chiến với kẻ thù, từng giờ từng phút quyết dành lấy những gì quí nhất của con người: đó là ÐỘC LẬP và TỰ DO.
Ðến nay sang đầu thế kỷ thứ 21, trong lúc các nước trên thế giới đang được hưởng tự do dân chủ, thanh bình hạnh phúc, thì 80 triệu người dân Việt Nam vẫn còn ngụp lặn trong một chế độ độc tài chuyên chế mất tự do, nhân quyền bị chà đạp, người dân không được tự do lựa chọn vận mệnh của mình, của đất nước mình. Toàn thể đất nước vẫn được đặt dưới ách cai trị của đảng CSVN luôn luôn trung thành với chủ nghĩa Mác Lênin lỗi thời mà toàn thế giới đã loại bỏ trên thập niên qua.
Trước hoàn cảnh này, nhiệm vụ của toàn dân nói chung, và của Việt Nam Quốc Dân Ðảng nói riêng là phải tiếp tục cuộc đấu tranh nhằm kiến tạo một nước Việt Nam Ðộc Lập Tự Do thật sự và để xây dựng một nước Việt Nam phú cường, nhân dân được sống trong hạnh phúc.
(Ngày 25 tháng 5 năm 2002)

* Bấm vào đây để nghe Bản nhạc  : Cờ  Sao Trắng - Lê Ninh -

Trở về