|
Ông
Trương Tử Anh là người sáng lập và lãnh đạo Đại Việt Quốc Dân
Đảng,
đồng thời cũng là người khai sáng ra Chủ Thuyết Dân Tộc Sinh Tồn làm
kim
chỉ nam cho công cuộc tranh đấu.
CHƯƠNG BA. VIỆC
TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ THEO QUAN NIỆM DÂN TỘC SINH TỒN
MỤC I - LƯỢC KHẢO VỀ
CÁC CHẾ ĐỘ ĐÃ LƯU HÀNH
Từ trước đến nay, các dân tộc trên thế giới đã theo nhiều chế độ khác
nhau. Những chế độ này có thể quy vào hai loại chính là Độc Tài và Tự Do
A- CÁC CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI.
Chế độ độc tài hay chuyên chế là chế độ trong đó
một người hay một số người nắm hết quyền lực trong tay và quyết định
hết mọi việc theo ý riêng mình.
Chế độ Độc Tài
gồm
có : Quả Đầu Chế, Quân Chủ Chuyên Chế và Độc Tài Đảng Trị.
Chế độ Quả Đầu hay Quý Tộc Phần Quyền là chế
độ trong đó mọi quyền hành nằm trong tay một số ít người đại diện cho
một số cự tộc trong nước. Trong tình trạng nguy ngập, những người này
có thể ủy quyền lại cho một người trong bọn để quyết định mọi việc.
Trong thời bình, mọi công việc triều chính được quyết định theo nguyên
tắc đa số. Chế độ này chỉ thông dụng vào thời cổ xa xưa, ngày nay không
còn nữa.
Chế độ Quân Chủ Chuyên
Chế là chế độ trong đó mọi quyền hành đều tập trung trong tay nhà vua.
Mọi pháp điển, luật lệ, mọi quyết định đều do nhà vua ban hành. Vua nắm
trọn quyền sanh sát thần dân. Chế độ này thông dụng nhất thời xưa.
Chế độ Độc Tài Đảng Trị là chế độ trong đó mọi quyề hành nằm trong tay
một đảng. Người lãnh tụ của đảng này chỉ huy mọi việc trong nước và ở
các cấp dưới, việc chính sự cũng nằm trong tay các đảng viên. Chính
sách chung do đảng vạch ra. Đảng độc quyền về tư tưởng, dân chúng bị
bắt buộc phải chấp nhận tư tưởng đó, không được tìm hiểu hoặc có tư
tưởng khác với tư tưởng của đảng cầm quyền. Chỉ có đảng của chính
quyền là được tự do hoạt động và được yểm trợ mọi mặt. Các chính đảng
khác nếu có cũng chỉ là những bù nhìn do chính quyền sắp đặt và điều
khiển. Đặc điểm của chế độ độc tài là nhà cầm quyền nhân danh quần
chúng mà cai trị quốc gia.Cán bộ của đảng được cho là những phần tử có
ý thức hơn hết trong dân chúng và nhà lãnh tụ của đảng cũng được cho là
người đại diện của dân chúng. Bởi đó, những hình thức tham gia chính sự
của người dân ở các nước dân chủ tự do như hội nghị, trưng cầu dân ý,
bầu cử v.v... tuy được duy trì nhưng đó cũng chỉ là những trò dàn cảnh,
ngụy tạo của đảng cầm quyền mà thôi.
B. CÁC CHẾ ĐỘ TỰ DO.
Chế độ tự do là chế độ trong đó quyền lãnh đạo đất nước nằm trong tay
những người đại diện được toàn dân bầu ra trong những cuộc bầu cử thật
sự tự do.
Ta có thể phân biệt ba loại chế độ tự do là Nghị Hội Chế, Đại Nghị Chế
và Tổng Thống Chế.
N ghị Hội Chế hay Quốc Hội Chế được áp dụng ở Thụy Sĩ. Theo chế
độ này, quyền hành tập trung tay Nghị Hội. Nghị Hội bầu Hội Đồng Liên
Bang (tức chính phủ), Tòa An Liên Bang, Chủ tịch Liên Bang (tức Quốc
Trưởng) và Tổng Tư Lệnh Quân Đội.Đặc điểm của chế độ này là Cơ quan Lập
Pháp nắm quyền tối cao, hai cơ quan Hành Pháp và Tư Pháp đều tùy thuộc
cơ quan Lập Pháp và không có quyền gì đối với cơ quan này. Khi bất đồng
ý kiến nhau, cơ quan Hành Pháp phải nhượng bộ cơ quan Lập Pháp.
Đại Nghị Chế hay Nghị Viện Chế hoặc Nội Các Chế là chế độ chính trị mà
một quyền lực nằm trong tay Nghị Hội do dân bầu ra.
Nghị Hội nắm hết quyền lập pháp. Quyền hành pháp thuộc về một chính phủ
do Thủ Tướng cầm đầu, mà Thủ Tướng do Nghị Hội bầu ra và có thể bị Nghị
Hội lật đổ, nhưng bù lại, Thủ Tướng cũng có quyền giải tán Nghị Hội để
tổ chức cuộc bầu cử lập ra Nghị Hội mới.Đặc điểm của Đại Nghị Chế là
Quốc Trưởng ( Vua hay Tổng Thống) chỉ có tính cách tượng trưng nên vô
quyền. Vì Nghị Hội có thể lật đổ chính phủ, ngược lại chính phủ cũng có
thể giải tán Nghị Hội, nên các quốc gia theo thể chế này thường có
khủng hoảng chính trị.Nếu trong nước chỉ có hai chính đảng lớn, thì
trong Nghị Hội lúc nào cũng có một chính đảng nắm được đa số tuyệt đối.
Lãnh tụ của đảng này tất nhiên được bầu làm Thủ Tướng. Ông ta vừa là
lãnh tụ đảng đa số ở Nghị Hội, vừa là Thủ Tướng chính phủ, nên được
trọn quyền hành động trong suốt nhiệm kỳ Nghị Hội, không sợ bị lật đổ.
Do đó, chính phủ rất vững chắc và hoạt động đắc lực. Đó là trường hợp
Anh Quốc.Nếu trong nước có nhiều chính đảng cùng lực lượng tương đương,
không đảng nào nắm được đa số tuyệt đối ghế trong Nghị Hội thì tình thế
khác hẳn.
Muốn được bầu làm Thủ Tướng, một chính khách phải dựa vào một liên minh
nhiều chính đảng. Nếu những chính đảng này này xung đột với nhau thì
thế liên minh phải tan rã. Khi liên minh tan rã thì dĩ nhiên chính phủ
phải đổ. Vì thế, tại các nước có nhiều chính đảng, chính phủ thường bấp
bênh. Đó là trường hợp nước Pháp thời Đệ Tam và Đệ Tứ Cộng Hòa.
Tổng Thống Chế là chế độ được thi hành tại Hoa Kỳ. Theo chế độ này, ba
cơ quan Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp thực sự ngang nhau và độc lập
với nhau.
Quyền Lập pháp thuộc về Quốc Hội, quyền Hành pháp thuộc về Tổng
Thống do dân chúng bầu ra, quyền Tư pháp thuộc về Tối Cao Pháp Viện gồm
9 Thẩm Phán do Tổng Thống chỉ định, nhưng phải được Thượng Viện chấp
thuận, và người nào được chấp thuận vào thì giữ chức vụ mãn đời.Ba cơ
quan Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp có liên lạc với nhau, nhưng không
tuỳ thuộc nhau - Quốc Hội không có quyền lật đổ Tổng Thống mà Tổng
Thống không có quyền giải tán Quốc Hội.Khi có sự xung đột quyền hạn
giữa hai bên thì đưa ra cơ quan Tư Pháp phân xử. Cơ quan này giữ luôn
nhiệm vụ bảo vệ Hiến Pháp.
MỤC II - ƯU VÀ NHƯỢC
ĐIỂM CỦA CÁC CHẾ ĐỘ ĐÃ LƯU HÀNH
Mỗi chế độ đều có ưu và nhược điểm, vì không có chế độ nào hoàn hảo.
Ưu và nhược điểm của các chế độ độc tài
Các chế độ độc tài có ưu điểm là làm cho tổ chức
dân tộc thống nhất và chặt chẽ, huy động tài nguyên dễ dàng và nhanh
chóng. Quyền quyết định chỉ thuộc về một người hay vài người nên cơ
quan chỉ huy dễ giữ kín được các chủ trương chính sách.
Tuy nhiên chế độ độc tài có nhiều nguy hại. Vì chế độ quá gắt gao,
người dưới rất sợ người trên nên không dám nói hết sự thật. Nhà độc tài
thường hay chủ quan và mù quáng nên có rất nhiều quyết định sai
lầm đưa đến những tai họa tầy trời cho dân tộc. Thêm nữa, chế độ độc
tài rất dễ làm cho con người ta hủ hóa, thường trở thành xấu sau khi
nắm được chính quyền ít lâu. Ngoài ra chế độ độc tài còn sợ thuộc cấp
có uy tín rồi âm mưu lật đổ mình nên phải sát hại họ trước. Những cuộc
thanh trừng đẫm máu trong các chế độ Quốc Xã và Cộng Sản đã chứng tỏ rõ
ràng điều này. Sau cùng chế độ độc tài còn có cái hại rất lớn là làm
khổ dân. Người cầm quyền dầu ở cấp bậc nào cũng có một uy quyền rất lớn
với dân chúng. Vì quá sợ cấp trên lại hay bắt nạt cấp dưới, cán bộ
thường có hành động "đội trên đạp dưới", nên dân chúng bị bóc lột, bị
hiếp đáp cùng cực.
Ưu và nhược điểm của các chế độ tự do
Các chế độ tự do cũng có những ưu, khuyết điểm
trái hẳn với các chế độ độc tài. Trong các chế độ tự do, người dân được
hưởng mọi quyền tự do căn bản của một công dân : nhà cầm quyền
không dám làm việc phi pháp, quyền lợi vật chất và tinh thần của người
dân được bảo vệ đàng hoàng và sự bất công, nếu có, cũng có thể sửa chữa
dễ dàng. Những quyết định liên quan đến quyền lợi chung được đem ra
thảo luận rộng rãi trước Quốc Hội, trước dư luận. Nhờ đó, mạng sống của
người dân không tùy thuộc vào ý riêng của một vài người.Tuy nhiên, các
chế độ tự do cũng có những tai hại. Trước hết là nạn đảng tranh. Trong
chế độ tự do, ai cũng có quyền hoạt động chính trị. Những người có
quyền lợi khác nhau thường lập nhiều đảng phái cạnh tranh nhau. Nếu
trong nước có nhiều đảng phái, chính phủ rất khó vững chắc nên thường
thay đổi mãi. Ngoài ra, sự làm việc rất chậm chạp và thiếu kín đáo. Vì
thế, trong cuộc chiến tranh cân não giữa hai khối Tự Do và Cộng Sản
trước đây, khối Tự Do thường ở vào thế bị động.
MỤC III - CÁC CHẾ ĐỘ
CHÍNH TRỊ THEO CHỦ TRƯƠNG DÂN TỘC SINH TỒN
T heo quan điểm Dân Tộc Sinh Tồn : Chế độ độc tài uy hiếp
cá nhân thái quá khiến cá nhân không phát triển được hết năng lực của
mình. Thêm nữa, những sự bất công do chế độ gây ra làm cho dân chúng
phẩn uất, và quốc gia khó tránh được nội loạn. Sau hết, những sự thanh
trừng đẫm máu mà nhà độc tài nào cũng thi hành để giữ vững ngôi vị cũng
hết sức có hại cho đất nước.
Chế độ tự do tuy bảo vệ được sự tự do và quyền lợi cá nhân, nhưng nếu
không tổ chức chính quyền chu đáo, luật lệ nghiêm minh, nó thường đưa
đến chỗ phóng túng và vô kỷ luật, khó bảo vệ các bí mật quốc phòng nên
đất nước dễ bị rối loạn, dân tộc suy yếu. Một khi quyền lợi dân tộc đã
bị mất thì quyền lợi cá nhân cũng khó bảo toàn được.So sánh hai chế độ
nói trên, ta có thể nhận thấy rằng, chế độ độc tài thuộc bất cứ hình
thức nào cũng làm khổ cho cá nhân. Trong khi một chế độ tự do hoàn hảo
có thể làm cho cá nhân lẫn dân tộc đều Sinh Tồn được. Ngoài ra, trong
bản chất, chế độ tự do dễ sửa chữa hơn chế độ độc tài. Muốn thay đổi
chế độ độc tài, phải có những cuộc tranh đấu đẫm máu, trong khi ta có
thể cải cách chế độ tự do một cách ôn hòa.Như vậy, chúng ta theo chế độ
Tự Do. Nhưng phải làm sao cho chế độ này không đưa đến những sự rối
loạn làm suy yếu quốc gia. Vấn đề này thật sự tùy thuộc vào số chính
đảng hoạt động trong nước. Nếu trong nước chỉ có hai chính đảng lớn,
thì chế độ tự do sẽ được vững chắc và đạt được nhiều kết quả tốt. Vậy
trong các chế độ Tự Do, ta nên theo chế độ nào để đạt mục đích trên
đây ?
Chế Độ Nghị Hội của Thụy Sĩ là trường hợp đặc biệt, ta không thể theo
được, vì ngoài Thụy Sĩ ra, tất cả các nước đã áp dụng chế độ này đều
thất bại hoàn toàn. Vậy ta chỉ còn chọn giữa hai chế độ Đại Nghị và
Tổng Thống.Trường hợp nước Anh theo chế độ Đại Nghị mà chỉ có hai đảng
lớn là một trường hợp hãn hữu. Nước ta đã có sẵn nhiều đoàn thể chính
trị và tôn giáo, mỗi đoàn thể có thế lực ở một vùng. Nếu theo chế độ
Đại Nghị này, nhất định chúng ta sẽ không thoát khỏi tình trạng đa
đảng. Điều này làm cho chính phủ suy yếu, giống như nước Pháp thời Đệ
Tam và Đệ Tứ Cộng Hòa.
Nếu với tình trạng đa đảng ở Việt Nam, chế độ thích hợp nhất là chế độ
Tổng Thống. Chế độ này giúp ta có một chính phủ ổn định, đồng thời có
một Quốc Hội kiểm soát việc làm của chính phủ, và một Tối Cao Pháp Viện
bảo vệ Hiến Pháp.Trước năm 1975, Việt Nam Cộng Hòa đã có một Hiến Pháp
thiết lập chế độ Tổng Thống biến hình, với một Tổng Thống cầm quyền
Hành Pháp, kèm theo một Thủ Tướng do Tổng Thống bổ nhiệm, nhưng chịu sự
kiểm soát chặt chẽ của Quốc HộiChế độ này còn một số khuyết
điểm :Nhiệm kỳ của các vị Thẩm Phán trong Tối Cao Pháp Viện tương
đối ngắn, mà đa số các vị Thẩm Phán này lại do Quốc Hội bầu ra nên cơ
quan Tư Pháp có thể bị chính trị hóa ít nhiều, vì các Thẩm Phán có thể
bị sự chi phối của các lãnh tụ cầm đầu các chính đảng quan trọng trong
Quốc Hội. Thêm nữa, việc toàn thể Thẩm Phán trong Tối Cao Pháp Viện có
cùng một nhiệm kỳ được thay thế một lượt khi nhiệm kỳ chấm dứt sẽ làm
cho các chính đảng nắm được đa số trong Quốc Hội có thể thao túng cơ
quan Tư Pháp một cách dễ dàng.Ngoài ra, Giám Sát Viện cũng gồm ba thành
phần giám sát do ba cơ quan Hành Pháp, Lập Pháp và Tư Pháp chỉ định.
Việc chỉ định này cũng như việc thay thế toàn thể Giám Sát Viện một
lượt làm cho chính đảng nắm được đa số tuyệt đối trong Quốc Hội cũng
thao túng dễ dàng như trường hợp họ thao túng Tối Cao Pháp Viện vậy.
Do đó, chế độ Đệ Nhị Cộng Hòa Việt Nam còn chứa đựng một số khuyết điểm
về nguyên tắc. Sự vận dụng của chế độ trong những năm trước 1975 đã cho
chúng ta thấy những họa hại trên đây.Trong quá trình tiến hóa để sinh
tồn, sự hợp quần của con người đã tiến đến và thực hiện được trong phạm
vi Dân Tộc.Chỉ có phạm vi Dân Tộc mới có đầy đủ yếu tố cho một sự hợp
quần vững chắc mà tổ chức đời sống xã hội đã đưa con người tiến đến và
đạt được hạnh phúc. Vậy nên trong cuộc tranh đấu mưu cầu sự sinh tồn và
sung mãn cho con người, chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn chủ trương lấy Dân
Tộc làm đơn vị kết hợp căn bản.
Chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn nhận thấy sự khác biệt tự nhiên giữa các cá
nhân không thể nào san bằng được nên không nuôi ảo tưởng xây dựng một
thế giới đại đồng như các triết gia không tưởng.Chủ nghĩa Dân Tộc Sinh
Tồn không hẹp hòi, thiển cận như các học phái đã từng chủ trương thuyết
vị chủng.Chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn cũng không nhân danh quyền lợi tối
thượng của quốc gia dân tộc để áp chế mọi cá nhân trong cộng đồng dân
tộc.
Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn là một chủ nghĩa quốc gia dựa vào những căn
bản thực tế và khoa học, chủ trương : Đảm bảo và dung hòa sự sinh
tồn cá nhân và sinh tồn dân tộc.Bảo vệ quyền lợi quốc gia mình và dung
hòa quyền lợi của quốc gia mình với các quốc gia khác.Tích cực đóng góp
vào việc tạo dựng sự hài hòa giữa các dân tộc.Cổ võ sự hợp tác quốc tế,
mưu cầu sự thịnh vượng và hòa bình chung cho loài
người.
|
|