Chủ thuyết Dân Tộc Sinh Tồn


 
  Ông Trương Tử Anh là người sáng lập và lãnh đạo Đại Việt Quốc Dân Đảng, đồng thời cũng là người khai sáng ra Chủ Thuyết Dân Tộc Sinh Tồn làm kim chỉ nam cho công cuộc tranh đấu.


CHƯƠNG HAI.  DÂN TỘC SINH TỒN  CHỦ NGHĨA QUỐC GIA KHOA HỌC.

Chủ nghĩa chính trị hợp lý phải nhắm phục vụ con người.

M
uốn vậy, cần phải hiểu rõ về con người, một conngười toàn diện.Nói một cách khái quát thì con người là một tổng thể thuần nhất gồm thể xác và tâm hồn kết hợp với nhau một cách chặt chẽ. Cơ thể con người là một tập hợp phức tạp của nhiều tế bào rất nhỏ yếu nhưng lại rất dẻo dai, bền bỉ, nhờ khả năng tự bồi bổ, tự biến cải để đối phó với tình thế. Tâm hồn con người được biểu lộ qua những hoạt động tâm lý của con người. Sự quan sát cho ta thấy con người có trí thông minh, có tình cảm, có năng kiếu tham mỹ và có đức tin.Vì người là một tổng thể thuần nhất nên giữa những hoạt động tâm lý và sinh lý của người có một tương quan chặt chẽ. Những sự thay đổi hoặc tăng trưởng cơ thể đưa đến sự thay đổi về nhận thức. Ngược lại, sự xúc động về tâm lý cũng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến trạng thái quan năng của cơ thể.

MỤC I -  NGUYÊN LÝ SINH TỒN

Trong sự hoạt động hàng ngày cũng như  trong sự ứng phó với ngoại giới, con người tùy thuộc một cách chặt chẽ vào những bản năng tức là những khuynh hướng tự nhiên thúc đẩy người hoạt động.

Ta có thể phân biệt bốn loại bản năng là :  Bản năng Vị KỷBản Năng Tình DụcBản Năng Xã HộiBản Năng Suy LuậnBản năng Vị Kỷ nhằm vào việc bảo vệ sự sống còn của cá nhân.

Bản năng Tình Dục hướng đến sự hiện diện, tồn tại liên tục của chủng loại.Bản năng Xã Hội tạo những điều kiện cần thiết cho sự hợp quần trong xã hội.Bản năng Suy Luận giúp con người khám phá những điều mới lạ để tổ chức đời sống ngày càng tốt đẹp hơn và tiến đến Chân, Thiện, Mỹ.Các bản năng vừa đề cập tới thật ra không hoàn toàn tách biệt nhau, mà tác động qua lại với nhau, lắm khi hòa hợp với nhau. Nhưng dầu trong trường hợp nào, chúng cũng đều hướng chung về một mục đích duy nhất là mưu sự sống còn cho con người, sống còn của cá nhân hay sống còn của đồng loại.
Nhu vậy, ta có thể xem tất cả các bản năng của con người là những hình thức khác nhau của một bản năng duy nhất : Bản Năng Sinh Tồn.

Bản năng Sinh Tồn có tính cách thiên bẩm, là một thành phần tự nhiên của con người : nó xuất hiện khi con người mới sinh ra và chỉ tiêu diệt khi con người chết. Trong thực tế, nó chi phối toàn bộ hoạt động và đời sống của con người, từ lúc người mới cất tiếng chào đời cho đến lúc xuôi tay nhắm mắt. Vì Bản Năng Sinh Tồn mà con người có một ý chí sinh tồn mạnh mẽ.

Ý chí sinh tồn phát hiện một cách rõ rệt trong tất cả mọi hoạt động của con người."... Một chủng tộc kể từ thời tiền sử cho đến nay, nào phá rừng xẻ núi, cày cấy chăn nuôi, nào hợp thành bộ lạc hay hợp nên quốc gia cũng quy vào một mục đích là : tranh đấu lấy sự sống còn chung cho họ và cho con cháu họ... Xem thế thì đủ biết vấn đề sinh tồn là trung tâm điểm cho vấn đề xã hội, chính trị, kinh tế và mọi cuộc biến cải trong lịch sử... " (Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn năm 1939).Nghiên cứu kỹ mọi hoạt động của loài người từ xưa đến nay, ta thấy rằng mục đích chính yếu cú con người là mưu sự Sống Còn cho mình.Về mặt vật chất, người hoạt động để nuôi thân, để giữ gìn tánh mạng, kéo dài và nâng cao sự sống của mình.Về mạt tinh thần, người muốn được tự do phát biểu tình cảm, tư tưởng, sở thích của mình, theo đuổi nguyện vọng và tổ chức đời sống riêng của mình theo sở thích.Hơn nữa, con người còn muốn sự sống và hoạt động của mình ảnh hưởng trực tiếp đến thân nhân của mình, đến môi trường sinh hoạt và đến đồng loại của mình nữa.Sau hết, con người cũng muốn rằng sau khi mình chết đi, một phần sự sống của mình còn lưu lại trần thế. Lòng ham muốn có một đứa con nối dõi tông đường, sự cố gắng để tạo một tác phẩm nghệ thuật, một công trình vĩ đại hay một sự nghiệp hiển hách, sự tha thiết muốn truyền bá tư tưởng của mình cho kẻ khác.... Bao nhiêu cái đó chứng tỏ rằng con người muốn bành trướng sự sống của mình.Duy trì sự sống còn của mình về hai mặt vật chấtc và tinh thần, trong hiện tại và tương lai, làm cho sự sống còn của mình dễ dàng sung sướng và bành trướng mãi ra, để có thể truyền sự sống quanh mình trong khi mình còn sống và sau khi đã chết là những sắc thái, những biểu hiện, những cốt tính cơ bản, tự nhiên của bản năng, của ý chí sinh tồn của con người.Nói tóm lại, Sinh Hoạt và Tồn Tại, Sống và Còn, đó là tất cả mục đích hoạt động của con người. Tất cả cuộc đời của người đều quây quần chung quanh hai chữ Sinh Tồn : sinh tồn về vật chất, sinh tồn về tinh thần, sinh tồn của cá nhân, sinh tồn  của chủng loại, sinh tồn trong hiện tại, vàsinh tồn mãi mãi trong tương lai. Sinh Tồn là một chân lý ngàn đời.

A. NGUYÊN LÝ SINH TỒN VÀ NHỮNG NGUYÊN TẮC LÀM CĂN BẢN CHO NHỮNG  CHỦ NGHĨA ĐÃ LƯU HÀNH.

Ap dụng định luật sinh tồn để nhận định những chủ nghĩa khát, ta thấy răng :Nguyên tắc Tự Do, Bình Đẳng của thuyết Dân Chủ sở dĩ phát sinh được là vì vào thế kỷ 17 và 18, sự sinh tồn của dân chúng Âu Châu bị uy hiếp thái quá dưới một chế độ chuyên chế khắc nghiệt, vừa bó buộc, vừa bất công. Đứng lên đòi tự do và bình đẳng , dân chúng Âu Châu thực ra chỉ muốn được sinh tồn đầy đủ hơn trước.
Đối với những người Cộng sản, họ cho rằng giai cấp tranh đấu là động cơ và hình thái đấu tranh cơ bản thúc đẩy sự tiến triển lịch sử của loài người từ ngàn xưa đến nay. Thật ra, nguyên tắc giai cấp đấu tranh đã chỉ phát sinh trong một xã hội trong đó giai cấp lao động bị uy hiếp thái quá không thể sinh tồn được. Nó không có, và không thể xảy ra ở những xã hội được tổ chức điều hòa trong đó mọi người đều có điều kiện, cơ hội, mưu cầu đầy đủ sự sinh tồn của mình.
Giai cấp tranh đấu chỉ là một mặt, một khía cạnh của Sinh Tồn tranh đấu trong một giaia đoạn lịch sử của một xã hội nào đó. Thế thôi ! Giai cấp tranh đấu không giải thích được mọi cuộc tranh đấu giữa người và người, giữa sắc dân này với sắc dân khác, giữa dân tộc này với dân tộc khác.   "... Nguyên nhân xâu xa của giai cấp xung đột ở các nưóc kỹ nghệ phát triển cũng chỉ vì sinh hoạt xã hội không được điều hòa, sự sinh tồn của giai cấp dưới bị uy hiếp... " (Chủ Nghĩa DTST năm 1939).Thêm nữa giai cấp tranh đấu chỉ gây ra sự phá hoại, làm trở ngại cho sự tiến hóa, trong khi cuộc sinh tồn tranh đấu đã làm cho loài người tiến bộ không ngừng. Như  thế lấy giai cấp tranh đấu giải thích sự tiến triển lịch sử là một sự sai lầm. Sinh Tồn tranh đấu mới là căn bản hoạt động của loài người.

Những Chủ Nghĩa Phát Xít của Mussolini và Quốc Xã của Hitler đã phát sinh vì dân Ý và dân Đức sau khi trận Thế Chiến Thứ Nhất chấm dứt đã không có điều kiện thuận tiện tối thiểu để có thể sinh tồn, chứ không phải là hậu quả của giai cấp tranh đấu trong xã hội Ý và Đức lúc đó.Chủ Nghĩa Tam Dân của Tôn Văn ra đời để đối phó với tình thế đặc biệt trong nước, lúc đó các liệt cường uy hiếp nặng nề sự sinh tồn của dân tộc Trung Hoa. Trong các thuyết Dân Tộc và Dân Sinh, Tôn Văn lên tiếng cảnh giác nhiều lần nếu người Trung Hoa không sớm giác ngộ, không lo tranh đấu thì sẽ bị diệt vong.    Rõ ràng những nguyên tắc làm căn bản của những chủ nghĩa vừa kể,  đã được đưa ra nhằm giải quyết sự sinh tồn của dân chúng trong một nước nào đó ở vào môt thời kỳ nhất định nào đó. Nói một cách cụ thể hơn, các chủ nghĩa nêu trên chỉ có tính cách địa  phương và tạm thời, không vượt nổi không gian và thời gian.    Vì chỉ lo giải quyết những khó khăn nhất thời, những nguyên tắc này không bao quát được vấn đề chính yếu là vấn đề sinh tồn của cả một dân tộc, mà chỉ quanh quẩn ở các vấn đề phụ như tự do, bình đẳng, giai cấp đấu tranh v.v... do tình trạng xã hội phát sinh mỗi lúc.


B. TÍNH CÁCH CỐT YẾU CỦA  SỰ SINH TỒN : TÍNH VỊ KỶ

 Con người có một ý chí sinh tồn rất mạnh. Tất cả mọi hoạt động của con người đều do bản năng sinh tồn chi phối và đều quy vào mục đích sinh tồn.Tuy nhiên, giá trị của mỗi người không phải đều bằng nhau. Trong mỗi người đều có cái thú tánh tàn bạo nằm kế bên cái thiên lương thuần hậu. Trong sự hoạt động sinh tồn, có người hoàn toàn nô lệ những thú tánh của mình, nhưng cũng có người chế ngự được chúng để phát triển thiên lương, hướng đến một đời sống cao thượng.Nhưng dầu nô lệ thị dục hay chế ngự được chúng, con người cũng bị chi phối bởi tính vị kỷ. Tính vị kỷ này có thể là ngu tối thiển cận, nhưng cũng có thể là sáng suốt khôn ngoan.".. Bên cạnh tinh thần vô tư đã nấp sẵn lòng vị kỷ và cùng nhau tồn tại mãi mãi. Cái kia lại là lý do tồn tại của cái nọ. Cho nên về phương diện tâm lý, thì bản năng sinh tồn và ý thức đồng loại sẵb có trong thâm tâm mọi người khi mới ra đời và vẫn nguyên vẹn như từ ngàn xưa. Hai cái ấy là nguyên nhân của sự yêu ghét không đều nhau. " (Chủ Nghĩa DTST - 1939)Danh từ vị kỷ thường được hiểu theo nghĩa hạn hẹp, hàm ý xấu, chỉ biết có mình, chỉ nghĩ đến những quyền lợi thấp hèn, riêng tư. Nhưng ở đây, ta nên hiểu vị kỷ theo nghĩa rộng là "có khuynh hướng dựa vào mình, lấy mình làm gốc trong mọi việc và quy mọi việc về mình"
Trong đời sống hàng ngày, con người bao giờ cũng nghĩ đến mình, cũng lo cho mình trước hết. Đó là điều tự nhiên. Nhưng ngoài những hành động của tính vị kỷ hẹp hòi hiện ra một cách rõ ràng, con người còn có những hành động cao thượng, vị tha. Đối với số người này, những hành động đặc biệt "cao thượng" không hàm chứa chút vị kỷ nào, nhưng nếu xét kỹ, thì đó cũng chỉ là tính vị kỷ hiểu theo nghĩa rộng, một sự vị kỷ sáng suốt và khôn ngoan.Tính vị kỷ thể hiện trong nhiều lãnh vực : Trong lãnh vực tư tưởng và nghệ thuật, con người chỉ khen những cái hợp với ý của mình và bài xích những cái gì mình không ưa thích. Trong lãnh vực tôn giáo cũng thế, người thờ cúng lễ bái là để cầu cho thần minh phù hộ chính mình hay không giết hại mình.Trong lãnh vực của cải vật chất, người luôn luôn muốn có của riêng, ưa thích những cái gì thuộc về mình. Đó là bản năng tư hữu của con người.Trong lãnh vực gia đình, cha mẹ thương yêu con không những vì con là một phần máu huyết của mình mà còn vì cha mẹ đã đổ nhiều công lao nuôi nấng con nên mới trìu mến con nhiều.Trong tình yêu nam nữ, trai gái yêu nhau hoặc vì hạp tính nhau, hoặc muốn nương tựa nhau suốt đời. Sự ghen tương của họ cũng là biểu hiện của tính vị kỷ. Vì khi yêu nhau, người ta muốn cho người yêu chỉ biết có mình, không được nghĩ đến một ai khác nữa.Trong những trường hợp xả thân vì đại nghĩa - hy sinh cho Tổ Quốc, hy sinh cho tôn giáo - cũng hàm chứa tính cách vị kỷ bên trong. Khi vì Tổ Quốc, vì tôn giáo mà xả thân, người đã quyết tâm bảo vệ sự sinh tồn của đất nước, của đức tin và muốn làm cho tên tuổi của mình tồn tại mãi mãi với sử sách. Xả thân để tranh đấu cho lẽ sống đó, họ cảm thấy sung sướng hơn là chấp nhận một cuộc sống tủi nhục của kiếp nô vong, đày đọa, không định hướng.Tóm lại, sự vị kỷ (hiểu theo nghĩa rộng) là kết quả tự nhiên của sự sinh tồn. Sự sinh tồn bắt buộc con người phải vị kỷ và dầu muốn dầu không, người cũng không sao thoát khỏi sự vị kỷ này. Nhưng sự vị kỷ có thể hẹp hòi hay rộng rãi, ngu độn hay sáng suốt, và giá trị đạo đức của mỗi người tùy ở chỗ người vị kỷ một cách rộng rãi hay hẹp hòi, sáng suốt hay ngu độn mà thôi.Như vậy, muốn cho người phục vụ quyền lợi chung, phương pháp hay nhất là làm cho họ thấy rằng quyền lợi riêng của họ nằm trong quyền lợi chung ấy.

MỤC II - ĐIỀU KIỆN CĂN BẢN CHO SỰ SINH TỒN

A- ĐỊNH LUẬT CẠNH TRANH SINH TỒN

Ta đã thấy rằng sự sinh tồn là động cơ duy nhất thúc đẩy con người hoạt động. Muốn sinh tồn, con người phải chống lại các mối nguy cơ có thể làm hại tính mạnh mình và tìm lương thực để được no đủ. Vậy, muốn sinh tồn, con người phải tranh đấu.Tranh đấu là điều kiện căn bản của sự sinh tồn. Sự tranh đấu này, ta nên hiểu theo nghĩa rộng : nó là sự cố gắng của một sinh vật để thắng một sinh vật khác, hoặc để làm một việc có ích lợi cho mình.Loài người từ xưa đến nay, luôn luôn phải tranh đấu với 3 trở lực chính là Thiên Nhiên, Cầm Thú và Đồng Loại. Cuộc tranh đấu với ba trở lực này song hành với nhau : người vừa phải cất nhà để tránh mưa nắng, vừa phải săn bắt thú vật để làm thực phẩm, vừa phải cạnh tranh với đồng loại.Không những tranh đấu với những trở lực bên ngoài , người còn tranh đấu với nội tâm để chế ngự những thị dục thấp hèn của mình. Cuộc tranh đấu với nội tâm mình đã được ghi lại trong kinh sách của các tôn giáo.Tóm lại, sống là phải tranh đấu. Sự tranh đấu sinh tồn là một định luật cốt yếu của đời sống con người. Nó là một hiện tượng phổ quát vượt không gian và thời gian. Nó là một cái chìa khóa giải thích tất cả các biến cố lịch sử, và cũng là điều kiện để tiến hóa.Cuộc tranh đấu có khi ôn hòa, có khi hung bạo. Nuôi thú vật làm gia súc, tranh đua nhau trong những cuộc trình diễn thể thao, cạnh tranh nhau trên mặt trận kinh tế hay bút chiến để bảo vệ tư tưởng của chính mình, đều là những hình thức tranh đấu ôn hòa. Ngược lại, những cuộc chiến tranh dân tộc, giải  phóng, tôn giáo... đều là những hình thức đấu tranh có đổ máu.
Luật Sức Mạnh
 Muốn nắm phần thắng lợi cho cuộc tranh đấu, người phải có sức mạnh vật chất và tinh thần. Trong lịch sử tranh đấu của loài người, sức mạnh bao giờ cũng là yếu tố chính mang lại sự thắng lợi, "mạnh được, yếu thua " đó là thực tế không ai phủ nhận được. Một quốc gia được tồn tại và duy trì được nền độc lập của mình là do sức mạnh chính trị, sức mạnh kinh tế và sức mạnh quân sự của quốc gia đó.Trên trường quốc tế, ảnh hưởng của một dân tộc đối với một dân tộc khác là do nơi tương quan lực lượng giữa các dân tộc ấy.
Luật Biến Cải 
Sức mạnh đã đóng vai tuồng quan trọng trong sự tranh đấu. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp sức mạnh không đủ để mang lại sự thắng lợi cho con người. Do đó, ngoài sức mạnh, con người còn cần một yếu tố khác nữa đó là xu hướng biến cải.Xu hướng biến cải là khả năng thích nghi theo hoàn cảnh, để ứng phó với những điều kiện bất thuận lợi, và dể tranh thắng trong mọi tình thế, dù đó là tình thế hoàn toàn bất lợi.Xu hướng biến cải là một hiện tượng tự nhiên, không phải chỉ có nơi con người và còn được ghi nhận ở những sinh vật hạ đẳng nữa. Ví dụ như loài sâu bọ biết đổi màu, biến hình dạng cho phù hợp với môi trường ẩn nấp... Rễ cây, thân cây hướng về phía có nước hoặc ánh sáng mặt trời.Nhờ có xu hướng biến cải, con người đã đạt thắng lợi trong sự tranh đấu với thiên nhiên vá cầm thú nên sinh tồn được cho đến ngày nay. Không những thắng lợi, con người còn tiến hóa nữa. Con người bây giờ tranh đấu với thiên nhiên và thú dữ dễ dàng hơn con người ngày xưa gấp bội, nhờ những dụng cụ tinh xảo mà con người đã tự chế tạo được cho mình.

Luật hợp quần và giáo dụcHợp Quần : sự tập hợp nhiều người lại với nhau gọi là sự hợp quần

Hợp Quần tạo ra sức mạnh. Kinh nghiệm cho ta thấy rằng một người đơn độc dầu có sức mạnh và có xu hướng biến cải cường kiện đến đâu cũng không thể đương đầu được với mọi cảnh ngộ. Bởi đó, con người phải hợp quần nhau lại để tranh đấu.Quan sát lịch sử nhân loại, ta thấy phạm vi hợp quần của con người càng ngày càng mở rộng : từ cá nhân đến gia đình, từ gia đình đến thị tộc, từ thị tộc đến bộ lạc, từ bộ lạc đến dân tộc.Nhưng phạm vi hợp quần càng rộng thì con người càng ít đồng nhất, tình cảm cùng sự liên lạc giữa cá nhân càng bớt mật thiết và sự tổ chức của con người càng bớt chặt chẽ. Khi sự hợp quần mở rộng đến một phạm vi nào đó thì con người bắt đầu lo cho sự sinh tồn riêng của mình nhiều hơn là lo cho sự sinh tồn chung. Mặt khác, ta thấy xuất hiện bên trong đoàn thể lớn những đoàn thể nhỏ quy tập những người có quyền lợi vật chất hay tinh thần giống nhau, như các đảng chính trị, các đoàn thể tôn giáo, các tổ chức nghiệp đoàn, văn đoàn, các hội ái hữu, tương tế v.v.....Sự hợp quần được thực hiện qua nhiều yếu tố :Trước hết, con người hợp quần theo huyết thống trong phạm vi gia đình.Kế đó, con người hơp quần theo tâm tính để kết bạn với nhau.Hợp quần theo tín ngưỡng để đứng chung trong một giáo hội.Hợp quần theo ngành nghề để tổ chức các nghiệp đoàn.Hợp quần theo tư tưởng để lập ra những chính đảng, những văn đoàn, trường phá v.v...

Những hình thức hợp quần kể ra rất nhiều, nhưng tựu trung con người hợp quần theo
 Ý THỨC ĐỒNG LOẠI, nghĩa là hợp quần khi thấy rằng giữa họ có một số điểm hay một điều nào đó tương đồng với nhau.Sự tương đồng càng lớn thì sự hợp quần càng chặt chẽ. Bởi đó, muốn duy trì sự hợp quần, con người phải cố tăng cường yếu tố tương đồng.
Những loại tương đồng quan trọng là : Tương Đồng Chủng Loại.Tương Đồng Tâm Tánh.Tương Đồng Tư Tưởng.Tương Đồng Hoàn Cảnh.Giáo Dục :
Giáo dục nhằm nâng cao trình độ hiểu biết, rèn luyện thể xác, nâng cao phẩm chất đạo đức, phát triển ý thức kết hợp, cải tiến kỹ thuật làm việc... cho mọi người và mỗi người trong cộng đồng dân tộc để có thêm điều kiện thuận lợi dành lấy sự toàn thắng trong công cuộc đấu tranh để sinh tồn.Trong cuộc sống hòa hợp trên cơ sở dân tộc, con người truyền đạt, hướng dẫn cho nhau những kinh nghiệm đấu tranh đã thu thập được qua thời gian nhằm mục đích cải tiến cuộc sống, mưu cầu và đảm bảo sự sinh tồn cho được sung mãn. Từ đó, quá trình lịch sử và văn hóa được hình thành.


B. ĐỊNH LUẬT HỖ TƯƠNG SINH TỒN

T
rong nỗ lực tìm kiếm hạnh phúc, mưu cầu sự sống còn, con người phải trải qua nhiều trở lực lớn lao. Muốn vượt qua những trở lực ấy, con người khi thì dùng sức mạnh để sát phạt, lúc lại hòa đồng, hợp tác để tồn tại và tiến hóa.
Luật Hòa Đồng
Tính hòa đồng đã có sẵn từ bản thể của vạn vật. Nhờ tính này, vạn vật đã tiếp cận nhau, thu hút nhau, hòa đồng với nhau để lập thế quân bình mà tồn tại.Vạn vật tồn tại được là do sự hòa đồng chứ tuyệt nhiên không do bởi bản chất mâu thuẫn, hủy diệt. Trong mỗi vật thể cá biệt đã có sẵn tính hòa đồng, và vì vậy vật thể được tồn tại, sinh sản và tăng trưởng.Chính tính hòa đồng của con người đã thúc đẩy con người chấp nhận nhau, chịu đựng nhau và kết hợp nhau thành những tập thể, những cộng đồng, những dân tộc để cùng sống, cùng tồn tại và cùng tiến hóa.
Luật Hợp Thể
Vạn vật tồn tại và vận chuyển trong thế quân bình tương đối do sự thu hút lẫn nhau ; sự thu hút tạo dựng thế tương quan và ảnh hưởng lẫn nhau. Chính sự tương quan và ảnh hưởng lẫn nhau tích lũy và đẩy mạnh sự hình thành hợp thể. Tổng hợp của hợp thể này tạo thành sự hiện hữu của vạn vật.Nơi con người thì tính kết hợp là nguyên tố cơ bản dẫn dắt tới sự liên kết, sự đoàn kết trên bình diện quốc gia để tạo dựng sức mạnh mưu cầu sự tồn tại và thăng hoa chung trong cuộc sống.


MỤC III - NỀN TẢNG KẾT HỢP

A. THẾ GIỚI ĐẠI ĐỒNG :
. MỘT CĂN BẢN KHÔNG TƯỞNG

Trong hơn bảy thập niên vừa qua, kể từ ngày cộng sản thành công trong việc chiếm đoạt quyền lực tại Nga thì quan niệm về một thế giới đại đồng được Cộng Sản quốc tế cổ võ hơn bao giờ hết, đặc biệt tại các quốc gia chậm tiến nghèo đói. Thực ra, tư tưởng thế giới đại đồng đã có từ lâu. Có lẽ nó đã xuất hiện từ lúc con người thành lập được những xã hội rộng rãi và ổn định.Trước Karl Marx, đã có biết bao nhiêu người chủ trương nhân loại cần phải hợp nhất  lại để sống hòa bình với nhau. Trong số những người này, chúng ta phải kể trước hết những giáo tổ các tôn giáo lớn. Kế đó là những nhà đại hiền triết được nhân loại tôn sùng như : Khổng Tử, Mạnh Tử, Platon, Aristote v.v... Sau cùng, lại còn những nhà chính trị không tưởng như : Saint Simon, Owen, Fourier, Proudhon ... và có cả những văn gia, học giả giàu lòng nhân đạo, mong muốn thấy nhân loại thương yêu giúp đỡ lẫn nhau.Những người này được nhân loại mến phục, tôn sùng. Anh hưởng của họ lan rộng đến năm châu và tồn tại đã nhiều thế kỷ. Nhưng rốt cuộc, thế giới đại đồng đã không thực hiện được, vì quan niệm của họ dựa trên một căn bản không tưởng.Sở dĩ có sự kiện đólà vì có những nguyên nhân sâu xa chia rẽ loài người khiến họ không bao giờ hợp nhất được trên bình diện quốc tế. Những nguyên nhân chia rẽ này gồm có : sự cung cầu chênh lệch, ý thức đồng loại, bản năng sinh tồn, tính thích vinh quang, tư tưởng bất đồng và thất tình.


1. Sự Cung Cầu chênh lệch

 
Cho đến ngày nay, số lương thực được sản xuất trên mặt đất vẫn còn chưa đủ cung ứng cho nhu cầu của loài người ngày một gia tăng. Sự thiếu thốn chưa giải quyết được, do đó sự tranh giành để sống của loài người vẫn còn tiếp tục và trở nên gay gắt."... Xét về phương diện thực tế ta thấy số nhân khẩu trên thế giới càng ngày càng tăng mà mặt địa cầu không rộng thêm ra tấc nào cả. Các nguyên liệu không tăng, các tài chế biến của khoa học chỉ có giới hạn mà lòng nhân dục thì không bờ bến. Nhân loại sẽ đi đến bước đường cùng, khó lòng tránh khỏi sự xô xát lẫn nhau... " (Chủ Nghĩa DTST - năm 1939)Chính sự cung cầu chênh lệch đó đã làm cho loài người đấu tranh với nhau không ngừng, do vậy ước vọng thế giới đại đồng đã không thể thực hiện được trong thực tế.

2. Ý thức Đồng Loại

Ý thức đồng loại là một bản năng khiến cho một số sinh vật biết một sinh vật khác cùng loại với mình, vì thế con gà luôn luôn đi với đàn gà, không bao giờ lẫn lộn với đàn vịt. Ý thức đồng loại làm cho con người có xu hướng tự nhiên thấy gần gũi và dễ cảm thông với những người mà họ thấy giống mình hơn là những kẻ mà họ cho là xa lạ, khác họ."... Bản năng sinh tồn và ý thức đồng loại sẵn có trong thâm tâm mỗi người khi mới ra đời và vẫn nguyên vẹn từ ngàn xưa. Hai cái ấy là nguyên nhân chính yếu của sự yêu ghét không đồng đều nhau. Người ta bao giờ cũng có khuynh hướng tự nhiên là yêu quí và tôn trọng hơn những cái gì mà mình có cảm tưởng là chính của mình hay gần mình hơn. Sự chênh lệch ngay từ ở nơi nguyên thủy ấy chính là cái cớ phát sinh ra bao nhiêu sự chia rẽ trong xã hội loài người. Vì yêu ghét không đồng đều nhau nên mới xảy ra sự phân biệt bà con, bạn bè thành người thân kẻ sơ. Do đó, lan rộng mãi thành tinh thần bè phái, tinh thần xứ sở, tinh thần chủng tộc, tư tưởng quốc gia. Hai cái bản năng trên là bất diệt..."(Chủ Nghĩa DTST - năm 1939)Ý thức đồng loại là một bản năng chia rẽ loài người hết sức sâu đậm, vì đó, từ xưa nhiều người đã cố gắng làm cho nó dịu bớt lại. Thần thoại "Trăm Con Cùng Một Mẹ " của người Việt Nam cũng như truyện cổ tích của người Nhật cho rằng họ cùng là con cháu của Thái Dương Thần Nữ  được lưu truyền trong quảng đại quần chúng nhằm cổ võ và phát triển lòng thương yêu giữa những người cùng sinh sống trên một lãnh thổ quốc gia hầu giảm thiểu sự xâu xé lẫn nhau.3. Bản năng Sinh TồnBản năng Sinh Tồn là một khả năng vốn có do bẩm sinh khiến cho một sinh vật tự nhiên có ý muốn duy trì sự sống của mình.Bản năng sinh tồn dẫn tới sự vị kỷ. Nhưng người vẫn có thể hy sinh để cho những kẻ thân yêu của mình được sống. Như thế người đã vượt qua sự vị kỷ để thể hiện lòng vị tha trong thực tế.Người chủ trương thế giới đại đồng bảo rằng nên hủy bỏ lòng vị kỷ đi, chỉ duy trì và phát triển lòng vị yha mà thôi. Nhưng , như ta đã biết, trong ý hướng vị tha, vẫn hàm chứa lòng vị kỷ.Từ vị kỷ, óc tư hữu của con người được nảy sinh và tồn tại như một bản năng không thể xóa bỏ được. Do đó, nó là một trở lực cho việc tập trung của cải để làm của chung trong chế độ Cộng Sản.

Tính thích vinh quang.

Tính thích vinh quang là bản năng của mọi sinh vật. Nó là nguồn gốc của sự phân biệt ngôi thứ. Trong loài thú, sự phân biệt này diễn ra một cách rõ rệt. Một đàn chim bay, một bầy thú đi tìm mồi, bao giờ cũng có một con vượt trội lên trở thành con đầu đàn.Đối với loài người, sự tranh chấp để giành ngôi thứ lại càng mãnh liệt hơn nữa. Câu : "Thà làm người lớn nhất trong làng còn hơn làm người thứ nhì tại thành La Mã " của César, cũng như câu "Thà làm đầu gà hơn làm đuôi trâu " của người Việt Nam đủ tóm tắt tính thích vinh quang của loài người.
    "... Gia dĩ tư tưởng người ta bất đồng vì mọi người nghĩ ra một cách, lại thêm lòng vị kỷ, tính thích vinh quang và tham quyền chính. Những cái này đã gây ra bao trận lưu huyết và chia rẽ những người cùng huyết thống theo một chủ nghĩa, thờ một tôn giáo ra làm nhiều phái chống nhau... " (Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn - năm 1939 )Chính vì để thỏa mãn tính thích vinh quang này, con người đã tranh nhau ác liệt, trong việc giành giật quyền lực, không ai chịu nhường nhịn ai. Lịch sử loài người đầy rẫy những ví dụ để chứng minh điều đó. Vì thế, chủ trương thế giới đại đồng không thể nào thực hiện được.

Tư tưởng bất đồng

C
on người vốn khôn ngoan nên đứng trước bất luận tình thế nào cũng đều nghĩ ra được phương cách đối phó. Đó là xu hướng biến cải của con người, mà người nào cũng cho xu hướng biến cải của mình là hay nhất, thích hợp nhất. Do đó sinh ra sự xung đột nhau vì ý kiến bất đồng.Giữa những người khác giống nòi, khác tập quán hay tín ngưỡng, sự bất đồng tư tưởng là lẽ dĩ nhiên, và ngay giữa những người cùng giống nòi, cùng tập quán hay tín ngưỡng cũng có sự bất đồng về tư tưởng nữa.Phật Giáo chia thành hai phái Tiểu Thừa và Đại Thừa mà trong mỗi phái lại chia ra thành nhiều tông khác nhau.Thiên Chúa Giáo thì chia thành Công Giáo và nhiều chi phái Tin Lành, đó là chưa kể đến những nhánh khác như phái Chính Thống  ở Nga, phái Hợp Nhất ở Hy Lạp.Về phía những nhà triết học, thì đồ đệ của Hégel đã chia thành hai phe Tả và Hữu, những môn đồ của Marx cũng phân làm các phe Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ, Tito, Mao Trạch Đông v.v... xung dột nhau mãnh liệt.Sự bất đồng tư tưởng đã đưa con người đến nhiều cuộc tranh chấp đẫm máu. Những cuộc chiến tranh giữa các tôn giáo hoặc trong một tôn giáo, những sự thanh toán quyết liệt giữa các phe phái chính trị đã cho thấy rằng sự bất đồng tư tưởng là một trở ngại lớn lao cho sự thực hiện thế giới đại đồng.Thất tìnhThất tình gồm có Hỉ (mừng), Nộ (giận), Ai (thương), Ố (ghét), Ai (buồn), Lạc (vui), Dục (muốn). Nó cũng là nguyên nhân làm cho loài người chia rẽ. Sự buồn vui thương ghét tự nhiên biểu lộ, mà mỗi người lại biểu lộ tình cảm mình một cách khác nhaư. Cùng đứng trước một việc mà kẻ thì vui, người buồn, kẻ thương, người ghét nên từ trước đến giờ, loài người chưa bao giờ sống hoà hảo với nhau thật sự.

B. DÂN TỘC: MỘT CĂN BẢN HỢP QUẦN RỘNG RÃI NHẤT MÀ LOÀI NGƯỜI  ĐÃ THỰC HIỆN ĐƯỢC

Ta đã thấy rằng, muốn sinh tồn, người phải hợp quần nhau lại. Nhưng vì nhiều nguyên nhân chia rẽ, loài người không thể hợp quần trên bình diện thế giới để thực hiện sự sinh tồn chung cho nhân loại được. Mặt khác, ta cũng biết rằng hợp quần trong một phạm vi quá nhỏ hẹp như gia đình, thị tộc hay bộ lạc, người không đủ sức đối phó với mọi trở lực để mưu cầu sự sinh tồn sung mãn cho bản thân, cho gia đình, cho giòng họ, cho chủng tộc mình được. Tình trạng các bộ lạc da đỏ ở Mỹ Châu cũng như một số đông bộ lạc ở Phi Châu đã chứng minh cho ta rõ điều này.
 Vậy, con người chỉ còn một cách là hợp quần trong phạm vi dân tộc để mưu sự sinh tồn chung, trong đó có sự sinh tồn riêng cho bản thân.Người trong một dân tộc có sự tương đồng với nhau về nguồn gốc nhân chủng, văn hóa, phong tục, tập quán, ngôn ngữ... nên sự kết hợp này có thể thành tựu và vững chắc được. Ngoài ra còn một yếu tố tinh thần là ý chí lập quốc, quá trình tranh đấu chung để cùng tồn tại và phát triển đã làm cho sự đoàn kết giữa mọi người trong dân tộc càng thêm bền chặt hơn, sâu sắc hơn.Vì đó, sự hợp quần trên nền tảng dân tộc là sự hợp quần bền vững nhất. Sự hợp quần trong phạm vi dân tộc có thể giải quyết được các nguyên nhân chia rẽ loài người.Lịch sử đã chứng tỏ rằng : Dân tộc Việt Nam có một tinh thần dân tộc rất đặc biệt và cường kiện. Nhờ tinh thần này mà dân tộc ta đã giữ yên được bờ cõi, đánh bại được ngoại xâm."... Nếu dân tộc ta mất thì đã mât ngay hồi bấy giờ, vì là thời kỳ phôi thai, người còn ít, quốc gia chưa thành, văn tự chưa có... Thế mà,diệt vong đã không, đồng hóa cũng không. Chẳng những xây nổi nền tự chủ mà lại còn giữ được các tính đặc biệt của nòi giống... " (Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn - năm 1939 )Tình thần dân tộc mạnh mẽ ấy bắt nguồn từ một tinh thần chủng tộc mà đã có sẵn trong từng người dân Việt."... Chỉ vì dân ta có tinh thần chủng tộc rất cương kiện ngay từ thời thái cổ... " (Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn - năm 1939 ).Từ căn nguyên là tinh thần chủng tộc sẵn có rễ sâu cội chắc ở trong thâm tâm mọi người, tinh thần đó phát triển thành tinh thần dân tộc, tinh thần quốc gia."... Cái tinh thần ấy cứ ngày một phấn khởi thêm lên và lan rộng ra thành tinh thần quốc gia. Đến nhà Lý và nhà Trần lại ra công đào tạo cho tinh thần quốc gia của dân tộc ta cực kỳ mạnh mẽ, có cái sức kết chặt dân ta thành một khối... " (Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn - năm 1939 ).Tinh thần quốc gia là nền tảng sự hưng suy của dân tộc ta."... Khi nào tinh thần quốc gia yếu thì nước suy, khi nào tinh thần ấy mạnh thì nước ta thịnh... " (Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn - năm 1939 ).Chính tinh thần quốc gia mới tạo ra được những sự oanh liệt xả thân, thúc đẩy người dân hy sinh cho đại nghĩa."... Có tinh thần quốc gia mới cảm thấy người ta sinh ra ở đời phải mang một nghĩa vụ rất lớn lao đối với đất nước, đối với người chết trước, với kẻ sinh sau. Do đó phát xuất ra những gương hy sinh cho Tổ Quốc vô cùng mãnh liệt... " (Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn - năm 1939 ).Trong phạm vi dân tộc, người ta có thể dễ dàng xóa bỏ các mối dị đồng để đoàn kết nhau lại và sẵn sàng chấp nhận hy sinh cho tổ quốc. Hơn nữa, quyền lợi vật chất và tinh thần của dân tộc thường phù hợp với sự sinh tồn của cá nhân và sự đoàn kết dân tộc có khả năng bảo vệ hữu hiệu nhất cho sự sinh tồn cá nhân. Do vậy, mọi người đều nhìn nhận dân tộc là đoàn thể hợp quần có lợi nhất cho người. Trong thâm tâm mỗi người, bất kỳ ở hoàn cảnh nào, khuynh hướng nào cũng đều mang sẵn một niềm tự hào về dân tộc mình. Người ta thường dễ dàng xúc động khi nghĩ đến dân tộc. Ý niệm dân tộc ăn sâu vào đầu óc mọi người, tồn tại khắp mọi nơi kể cả trong lãnh vực tôn giáo và người theo chủ trương quốc tế.

MỤC IV - NHỮNG CHỦ TRƯƠNG CĂN BẢN CỦA CHỦ NGHĨA  DÂN TỘC SINH TỒN

Chúng ta thấy rằng mục đích tối yếu của mọi người ở tất cả mọi thời đại là Sinh Tồn. Người hoạt động chỉ cốt để sinh tồn, để tiến hóa và mưu tìm hạnh phúc sung mãn.Nếu đứng riêng một mình, người không đủ sức, nên phải hợp quần nhau lại. Sự hợp quần trong phạm vi dân tộc là sự hợp quần lớn nhất mà loài người có thể thực hiện được. Nếu dân tộc không được tổ chức đàng hoàng thì sự sinh tồn cá nhân sẽ bị uy hiếp, và dĩ nhiên sự sinh tồn của dân tộc cũng bị đe dọa luôn. Bởi đó, muốn duy trì sự sinh tồn của dân tộc, ta phải tổ chức như thế nào cho mọi người và mỗi người đều được sinh tồn đầy đủ và đều có thể phát triển được năng lực sinh tồn của mình.Tạo dựng mọi điều kiện thuận lợi cho tất cả mọi người trong dân tộc kết hợp chặt chẽ với nhauđể tranh đấu cho sự sinh tồn chung, tổ chức quốc gia theo thể chế  tự do, dân chủ để cho mọi người được hưởng đồng đều những kết quả của sự tranh đấu chung, làm cho mọi người thấy rằng tranh đấu cho sự sinh tồn của dân tộc là bảo đảm vững chắc nhất cho sinh tồn của cá nhân mình, đó là hướng đi cơ bản của Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn.

Để thực hiện mục đích này, Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn chủ trương

A. Thực hiện Đại Đoàn Kết Quốc Gia

Mọi hình thức chia rẽ trên căn bản địa phương, sắc dân, nam nữ, giai cấp, đảng phái, tôn giáo đều bị nghiêm khắc kết án và bài trừ triệt để.Quốc gia phải hướng dẫn cá nhân không để họ cấu xé nhau vì quyền lợi riêng. Mọi người phải nhận hiểu được rằng sự sinh tồn cá nhân phải đi đôi với sự sinh tồn dân tộc, không được cản trở hay phương hại đến sự sinh tồn dân tộc. Có được như vậy mới tạo được sự đoàn kết chặt chẽ giữa mọi người trong dân tộc.

B. Bảo đảm sự sinh tồn cho mọi người trong dân tộc
Chúng ta biết người chỉ khép mình trong dân tộc và thật tâm phụng sự dân tộc khi biết rằng dân tộc bảo đảm cho mình được sinh tồn sung mãn. Vì đó, quốc gia phải được tổ chức trên căn bản công bằng, hợp lý để sự bóc lột giữa người và người không còn nữa và để mọi người đều được sinh tồn đầy đủ.

C. Củng cố và tăng cường sức mạnh dân tộcDĩ nhiên sự đoàn kết nhất trí của toàn dân là yếu tố then chốt tạo dựng sức mạnh của dân tộc.
Sức mạnh tinh thần đó, sức mạnh chính trị đó phải được yểm trợ, hậu thuẫn bằng sức mạnh quân sự, sức mạnh kinh tế của toàn khối dân tộc nữa. Những sức mạnh này chỉ có thể có được khi năng lực, trình độ của người dân được nâng cao.Sự nâng cao trình độ này cải thiện sự sinh tồn cá nhân, đồng thời nó cũng rất cần thiết cho sự sinh tồn chung. Tăng cường sức mạnh dân tộc là tạo điều kiện cho dân tộc được tồn tại và phát triển.

Tiếp theo chương Ba