|
|
Ông
Trương Tử Anh là người sáng lập và lãnh đạo Đại Việt Quốc Dân
Đảng,
đồng thời cũng là người khai sáng ra Chủ Thuyết Dân Tộc Sinh Tồn làm
kim
chỉ nam cho công cuộc tranh đấu.
Ông tên thật là Trương Tử Anh, tên lúc sơ sinh là Trương
Khán, bí danh là Phương, thường được gọi là Anh Cả Phương.Ông
sinh năm 1914 (Giáp Dần), là con đầu trong một gia đình có mười người
con.
Thân phụ là cụ Trương Bội Hoàng; thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Miêng.
Chánh
quán ở thôn Mỹ Thạnh (Trung), xã Hòa Phong, quận Tuy Hòa (Hiếu Xương),
tỉnh
Phú Yên.Chịu ảnh hưởng của truyền thống gia đình, Ông tham gia hoạt
động
cách mạng từ lúc còn niên thiếu ở quê nhà. Năm 1934, Ông ra Hà Nội tiếp
tục
việc học và cũng để nghiên cứu thêm về các triết thuyết, vác chủ nghĩa
chính
tri.. Trong các tiểu luận viết từ năm 1935, Ông khẳng định: "Những
triết
thuyết, những chủ nghĩa chính trị đương thời đều không thích hợp với
dân
tộc Việt Nam và đều có sai lầm".
Ngày 10 tháng 12 năm 1938, Ông công bố một hệ thống tư
tưởng về triết
học và chính trị, đó là Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn.Năm 1939, Ông tuyên
bố
bản Tuyên Ngôn thành lập Đại Việt Quốc Dân Đảng, và được toàn thể các
sáng
lập viên suy cử làm Đảng Trưởng. Đại Việt Quốc Dân Đảng, chọn Chủ Nghĩa
Dân
Tộc Sinh Tồn làm nền tảng lý thuyết cho công cuộc đấu tranh cách mạng.Dưới
sự lãnh đạo của nhà cách mạng trẻ tuổi Trương Tử Anh, trong thời gian
ngắn,
Đại Việt Quốc Dân Đảng đã xây dựng các cơ sở Đảng ở khắp ba kỳ (Bắc,
Trung,
Nam) và cả Ai Lao, Cao Miên.Trong thời gian này, Ông bị nhà cầm quyền
của
thực dân Pháp bắt giữ hai lần, và lần giam thứ hai đã được lực lượng
chìm
của Đảng giải thoát.
Năm 1944, Ông phái hai Đảng viên cao cấp phối hợp cùng các lãnh tụ Đại
Việt
Quốc Xã Nguyễn Xuân Tiếu, Đại Việt Duy Dân Lý Đông A và Đại Việt Dân
Chính
Nguyễn Tường Tam thành lập một mặt trận duy nhất là Đại Việt Quóc Gia
Liên
Minh.Tháng 10 năm 1944, Ông củng cố chiến khu Kép (Bắc Giang), thành
lập
thêm chiến khu và trường Võ Bị Lạc Triệu, nằm giữa hai tỉnh Bắc Ninh và
Hải
Dương.
Tháng 4 năm 1945, Ông chính thức gởi một phái đoàn ngoại giao sang
Trung
Hoa Dân Quốc, gồm có Nguyễn Tiến Hỷ, Đặng Vũ Trứ, Phạm Khải Hoàn. Phái
đoàn
nầy còn có nhiệm vụ lo việc hợp nhất giữa các đoàn thể cách mạng Việt
Nam
lưu vong tại Trung Quốc với Đại Việt Quốc Dân Đảng đang hoạt động trong
quốc
nội. Cũng trong thời gian nầy, Ông cử nhiều cán bộ vào miền Nam phối
hợp
với xứ bộ miền Nam thành lập chiến khu và bộ đội An Điền.
Tháng 9 năm 1945, Ông đưa ra kế hoạch bốn điểm nhằm chống lại sự gian
trá
của Việt Minh Cộng Sản trong việc bầu cử Quốc Hội và thành lập Chính
Phủ
Liên Hiệp :1. Phát động phong trào toàn dân bất hợp tác với Việt Minh
Cộng
Sản.2. Tách rời Bảo Đại ra khỏi Việt Minh Cộng Sản và vô hiệu hóa Quốc
Hội
bù nhìn của chúng.3. Thành lập một Trung Tâm Chính Trị Hải Ngoại để yểm
trợ
cho cuộc chiến đấu chống Thực Dân và Cộng Sản ở quốc nội.4. Củng cố các
chiến
khu, tăng cường khối Quốc Dân Quân, mở rộng địa bàn hoạt động.Tháng 10
năm
1945, Ông kết hợp các đoàn thể cách mạng Quốc Gia thành lập Mặt Trận
Quốc
Dân Đảng. Ông được bầu giữ chức Chủ vụ Tịch, lãnh tụ Vũ Hồng Khanh giữ
chức
vụ Tổng Thơ Ký, lãnh tụ Nguyễn Tường Tam giữ chức vụ Bí Thư Trưởng.
Cùng
thời gian này, Ông biệt phái Đồng chí Nguyễn Tôn Hoàn trở về Nam với
nhiệm
vụ tách rời các lực lượng cách mạng Quốc Gia ra khỏi Mặt Trận Việt
Minh,
đồng thời cử Tướng Phạm Cao Hùng tăng cường cho Quân Ủy Miền Nam.
Tháng 12 năm 1945, Ông thành lập trường Lục Quân Yên Bái
(Chapa- Yên Bái), chiến khu Di Linh ở Thanh Hóa và
quy tụ các lực lượng quân sự của các đảng phái Quốc Gia chống Cộng
thành
lập quân đội của Mặt Trận Quốc Dân Đảng, tức là Quốc Dân Quân.Sau khi
gởi
phái đoàn ra hải ngoại (hạ bán niên năm 1946) để thành lập Trung Tâm
Chính
Trị Hải Ngoại, Ông vẫn bí mật hoạt động tại Hà Nội, điều khiển các cơ
sở
Đảng chiến đấu chống Cộng Sản và Thực Dân, cho đến khi quân đội Pháp
tấn công Hà Nội (ngày 19 tháng 12 năm 1946) thì ông bị mất tích.
|
|