Lịch sử đảng Tân Đại Việt


Tân Đại Việt là một chánh đảng được thành lập để tranh đấu cho nền độc lập và sự tự do của dân tộc Việt Nam.


I. Tân Đại Việt phát xuất từ Đại Việt Quốc Dân Đảng một chánh đảng cách mạng thành lập cuối năm 1938 để giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của Pháp.

 Người sáng lập ra đảng nầy là anh Trương Kháng, bí danh là Phương và thường được gọi là anh Cả hay anh Cả Phương, nhưng được biết nhiều nhứt dưới tên là Trương Tử Anh. Anh là người tỉnh Phú Yên, thuộc một gia đình có truyền thống ái quốc. Tiền nhơn anh đã lãnh đạo cuộc tranh đấu Cần Vương ở địa phương chống lại người Pháp lúc họ đến chinh phục Việt Nam. Sau đó trong gia đình anh có nhiều người tham gia các tổ chức cách mạng chống lại thực dân Pháp. Khi thành lập ĐVQDĐ, anh Trương Tử Anh là một sinh viên trường Đại Học Luật Khoa Hà Nội. Những người đầu tiên hợp tác với anh để lập ĐVQDĐ một số là sinh viên Đại Học Hà Nội, một số là người đã hoạt động trong các chánh đảng khác, nhứt là trong Việt Nam Quốc Dân Đảng.

II. Đặc điểm của Đại Việt Quốc Dân Đảng lúc mới thành lập.

    a). Chọn quốc hiệu là Đại Việt.

    Thập niên 30 có phong trào nghiên cứu Việt sử, mạnh nhứt là ở Bắc Việt. Với sự nghiên cứu này, người Việt được biết rõ hơn lịch sử oai hùng và tinh thần quật cường của dân tộc mình. Một sự kiện được phổ biến rộng rãi là đời Lý, Trần và Hậu Lê, các nhà vua Việt có hai tôn hiệu: An Nam Quốc Vương và Đại Việt Hoàng Đế. Tôn hiệu trước chỉ dùng để liên lạc với Trung Quốc, tôn hiệu sau thì được dùng trong nước và trong sự liên lạc với các láng giềng ngoài Trung Quốc. Điều này cho thấy rằng các vua Việt thời trước chỉ chịu thần phục vua Trung Quốc cho nước Việt được Trung Quốc để yên, chớ không thật sự chấp nhận tùy thuộc Trung Quốc. Mặt khác, khi các nhà vua Việt Nam dùng tôn hiệu Đại Việt Hoàng Đế, nước Việt đã được độc lập và hùng cường. Năm 1407, khi thua nhà Minh và bị mất nước, nhà vua họ Hồ đã xưng tôn hiệu là Đại Ngu Hoàng Đế, và thế kỷ thứ 19, khi người Pháp chinh phục nước ta, các vua nhà Nguyễn đã xưng tôn hiệu là Đại Nam Hoàng Đế. Riêng quốc hiệu Việt Nam là kết quả sự tương nhượng giữa vua Gia Khánh nhà Thanh và vua Gia Long nhà Nguyễn. Năm 1802, khi gởi phái bộ sang Trung Quốc để xin cầu phong, vua Gia Long lấy cớ rằng ông ta làm chúa đất An Nam (Bắc Việt và Bắc Trung Việt) và Việt Thường (tên cũ của Nam Trung Việt) để xin vua nhà Thanh phong cho mình là Nam Việt Quốc Vương. Nhưng trước đây đã có một nước mang tên Nam Việt do Triệu Đà thành lập mà nước này, ngoài miền Bắc Trung Việt và Bắc Việt, lại còn bao gồm đất các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và một phần Quí Châu. Vua nhà Thanh e sợ vua Gia Long có ý muốn đòi lại các tỉnh trên đây của Trung Quốc. Do đó, ông không chấp nhân phong vua Gia Long làm Nam Việt Quốc và muốn giữ tước phong An Nam Quốc Vương đã được dùng các nhà vua Việt từ đời Lý. Nhưng vua Gia Long nhứt định không chịu nhận tước phong An Nam Quốc Vương. Cuối cùng, vua nhà Thanh đề nghị đổi Nam Việt thành Việt Nam và vua Gia Long đã chấp nhận. Vậy, quốc hiệu Việt Nam tuy đã cho thấy là đầu thế kỷ thứ 19, vua Trung Quốc đã trọng nể vua Việt hơn trước, nhưng nó đã do một nhà vua Trung Quốc đặt ra và vẫn còn biểu lộ phần nào sự tùy thuộc Trung Quốc. Do việc phổ biến các tri thức trên đây về lịch sử cũ của dân tộc Việt, những nhà cách mạng ở Bắc Việt thời đó đã thiên về việc lấy tên Đại Việt làm quốc hiệu cho nước ta. Trong thập niên 30 và 40, nhiều chánh đảng thành lập ở Bắc Việt  đã lấy tên Đại Việt làm quốc hiệu, như đại Việt Dân chính, Đại Việt Duy Tân, Đại Việt Quốc Xã, Đại Việt Quốc Gia Liên Minh. Những người sáng lập ĐVQDĐ cũng ở trong xu hướng đó, nhưng điều đáng để ý là về sau này, chỉ có ĐVQDĐ là được gọi tắt là Đảng Đại Việt, còn các chánh đảng khác thì được gọi tắt là Dân Chính, Duy Dân, Quốc Xã... chớ không được gọi tắt là Đại Việt.

    b). Có tính cách tân tiến.

        1/ Những người sáng lập ĐVQDĐ đã thấy tầm quan trọng của tư tưởng và ý thức hệ trong cuộc tranh đấu chánh trị. Do đó, ngay từ lúc mới thành lập, đảng này đã có một chủ nghĩa hoàn toàn mới, có lập luận chặt chẽ và dựa vào dữ kiện khoa học, lại do chính người Việt sáng tạo. Đó là chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn của anh Trương Tử Anh. Thời Anh Trương Tử Anh lập thuyết, các nước theo chủ trương quyền uy rất mạnh thế trong khi các nước dân chủ tự do đang suy. Mặt khác, nước Pháp đang cai trị Việt Nam lại là nước dân chủ tự do. Vì các lý do trên đây, chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn hồi sơ khởi đã thiên nhiều hơn về quyền uy. Căn bản luận thuyết của chủ nghĩa ấy là bản năng, và người sáng tạo chủ nghĩa ấy là anh Trương Tử Anh đã nhấn mạnh trên bản năng sinh tồn cá nhơn làm cho con người vị kỷ để đi đến kết luận rằng xã hội cần phải có một chánh quyền mạnh nhiều uy thế để có thể chế ngự con người thì mới duy trì trật tự và mới bảo đảm  được sự sinh tồn của dân tộc.

        2/ Đảng được tổ chức một cách thích ứng với cuộc tranh đấu chống một chánh quyền cảnh sát: chi bộ không gồm quá nhiều người như chi bộ phần lớn các chánh đảng cách mạng quốc gia khác đồng thời, đảng viên được huấn luyện kỹ về chủ nghĩa và về kỹ thuật làm việc.

        3/ Cờ của ĐVQDĐ lúc mới thành lập nền đỏ, giữa có một tròng xanh tròn màu thanh thiên đậm, trực kính bằng 2/3 bề ngang lá cờ, trong tròng xanh có một ngôi sao trắng năm nhánh, mũi các ngôi sao đụng vành ngoài của tròng xanh. Màu đỏ của lá cờ tượng trưng cho tinh thần tranh đấu cách mạnh của nhơn dân, tròng tròn màu thanh thiên tượng trưng cho định lý sinh tồn là một định lý thiên nhiên, ngôi sao trắng tượng trưng cho sự hướng dẫn sáng suốt và trong sạch của những người ưu tú lãnh đạo đảng và lãnh đạo dân tộc.

    c) Có tầm hoạt động toàn quốc chớ không phải là hạn chế ở một địa phương như phần lớn các đoàn thể cách mạng quốc gia Việt Nam khác. 

    Ưu thế của ĐVQDĐ phát xuất từ chỗ trong nhóm người đầu tiên sáng lập và xây dựng đảng, có những sinh viên trường Đại Học Hà Nội. Lúc ấy, cả Đông Dương chỉ có mỗi một trường Đại Học nầy nên sinh viên Việt Nam đều tập trung về đó. Các sinh viên đã gia nhập đảng khi đi học ở Hà Nội đều về tổ chức một cơ sở ở tỉnh nhà của mình và các tỉnh lân cận, thành ra, ĐVQDĐ đã có mặt khắp nơi ở trong nước.

III. Từ năm 1938 đến năm 1945, ĐVQDĐ đã bị Pháp đàn áp dữ dội.

Anh Trương Tử Anh đã nhiều lần bị bắt, nhưng đã vượt ngục để tiếp tục hoạt động. Đầu năm 1945, ĐVQDĐ đã có cơ sở ở hầu hết các tỉnh. Về mặt tổ chức thì đơn vị căn bản là chi bộ gồm 4 người, vì lúc đó một cuộc họp tập trên 4 người dễ bị mật thám Pháp lưu ý theo dõi và khi bị bắt thì khó giải thích trôi chảy cho mật thám không nghi ngờ, trong khi một cuộc hội họp 4 người có thể ngụy trang thành một cuộc gặp mặt với lý do dễ được người ngoại cuộc chấp nhận như là chơi bài chẳng hạn. Bên trên chi bộ là khu bộ, bên trên khu bộ là tỉnh bộ, bên trên tỉnh bộ là xứ bộ, trên hết là trung ương đảng bộ. Ở mỗi cấp có người lãnh đạo do cấp trên chỉ định. Anh Trương Tử Anh là đảng trưởng kiêm xứ trưởng Bắc Việt, ở cấp Trung Việt, xứ Trung Việt, xứ trưởng là anh Bửu Hiệp, ở Nam Việt, xứ trưởng là anh Nguyễn Văn Hướng bí danh Phạm Huy Lễ.

IV. Sau khi Nhựt lật đổ chánh quyền Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945, ĐVQDĐ đã bành trướng mạnh mẽ nhứt là ở Bắc Việt.
 Trong khi ở Trung Việt và Nam Việt, đảng chỉ mới đặt cơ sở đến cấp tỉnh và ở một vài quận. Ở Bắc Việt, có nhiều nơi, đảng đã tổ chức đến cấp xã. Mặt khác, ở Bắc Việt, người Nhựt đã giúp đảng thành lập một trường lục quân ở Yên Báy để đào luyện sĩ quan cho cuộc tranh đấu về quân sự mà đảng dự liệu sẽ phải xảy ra với Pháp khi Thế Chiến II chấm dứt. Lúc Nhựt đầu hàng Đồng Minh, đảng chủ trương kết hợp với các phần tử cách mạng quốc gia khác để duy trì một chánh quyền quốc gia. Tháng 8 năm 1945, đảng đã gởi một đơn vị quân sự từ Yên Báy về Hà Nội để bảo vệ trật tự tại đó. Nhưng vì nạn lụt, đơn vị này không về Hà Nội kịp thời để giữ cho Khâm Sai Bắc Bộ là Phan Kế Toại không trao chánh quyền cho bọn cộng sản Việt Nam.

V. Sau khi cướp được chính quyền, bọn cộng sản Việt Nam đã công khai xem ĐVQDĐ là thù địch và hai bên đã chống chọi nhau mãnh liệt ở Bắc Việt từ mùa thu năm 1945 đến mùa xuân năm 1946. Trong thời kỳ này, nhiều người thuộc hạng trí thức và hạng có địa vị xã hội ở Bắc Việt đã gia nhập đảng. Mặt khác, đảng đã hợp tác chặt chẽ với các chánh đảng quốc gia khác, nhứt là Việt Nam Quốc Dân Đảng và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội. Giữa ĐVQDĐ và VNQDĐ trước năm 1945 đã có sự liên lạc mật thiết và đã có sự phân công với nhau, VNQDĐ có liên lạc với Trung Quốc nên lo phần ngoại giao với các nước Đồng Minh chắc chắn sẽ nắm phần chiến thắng, ĐVQDĐ có lực lượng trong nước nên đặc trácl việc đối nội. Khi các lãnh tụ VNQDĐ và ĐVQDĐ cùng bộ đội của họ theo chơn quân đội Trung Hoa kéo vào Bắc Việt vào tháng 9 năm 1945, sự cộng tác trở thành chặt chẽ hơn. ĐVQDĐ và VNQDĐ hội nhập nhau làm một mang tên là Quốc Dân Đảng, dùng cờ của ĐVQDĐ làm cờ chung và theo chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn, lấy bài Việt Nam Minh Châu Trời Đông làm đảng ca. Về mặt lãnh đạo, anh Trương Tử Anh điều khiển nội bộ, ông Vũ Hồng Khanh lo phần đối ngoại. QDĐ hợp tác với VNCMĐMH làm một mặt trận chống lại cộng sản. Tuy nhiên, sự hợp tác giữa ĐVQDĐ và các chánh đảng quốc gia khác không duy trì được lâu dài, vì hai ông Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh bị áp lực của các tướng Trung Hoa Dân Quốc chiếm đóng Bắc Việt nên chịu cộng tác với cộng sản trong một chánh phủ liên hiệp. Sau khi ông Vũ Hồng Khanh cùng với Hồ Chí Minh ký sơ ước 6 tháng 3 năm 1946 với Pháp, ĐVQDĐ chống lại sơ ước đó và tách rời khỏi VNQDĐ, và bị bọn cộng sản mở cuộc tấn công ngay. Lúc đầu ĐVQDĐ vẫn giữ được các căn cứ của mình. Nhưng sau đó, bọn cộng sản Việt Nam đã cùng với quân đội Pháp thành lập Ban Biên Kiểm Việt Pháp  để đánh phá các lực lượng chống đối. Nhờ súng ống tối tân Pháp giúp cho, chúng đã phá vỡ được các căn cứ quân sự của ĐVQDĐ và các lực lượng võ trang của ĐVQDĐ đã phải rút sang Trung Quốc. Các đảng viên còn ở lại trong nước phải lặn vào bóng tối để hoạt động. cuối năm 1946, trước khi chiến cuộc bùng nổ giữa Pháp và bọn cộng sản Việt Nam, anh Trương Tử Anh đã bị mất tích.

Ở Trung Việt và Nam Việt, ĐVQDĐ yếu hơn ở Bắc Việt nên vẫn hoạt động trong bóng tối. Nhưng lúc người Pháp trở lại Việt Nam, các đảng viên ĐVQDĐ ở Nam Việt đã thành lập một đơn vị quân sự lấy tên là Bộ Đội An Điền và do anh Bùi Hữu Phiệt chỉ huy. bộ đội này chiến đấu rất mạnh ở miền đông Nam Việt, nhưng vì bị ép giữa lực lượng Pháp và của cộng sản Việt Nam nên phải giải tán năm 1947.

VI. Từ năm 1946 đến năm 1948, ba xứ bộ Bắc, Trung và Nam Việt không liên lạc được với nhau.

Ở Bắc Việt, sau khi anh Trương Tử Anh mất tích, bác sĩ Đặng Vũ Lạc đã đứng ra điều khiển công việc đảng. Ông được tất cả các đảng viên ở Bắc Việt tùng phục vì ông là nhà trí thức được các đảng viên trí thức khác kính nể, mặt khác, ông cũng được các anh em đảng viên trẻ tôn trọng vì anh là thân phụ của anh Đặng Vũ Trứ. Anh Đặng Vũ Trứ vốn đã được xem như là nhơn vật số 2 trong đảng, sau anh Trương Tử Anh. Năm 1945, anh bị bọn cộng sản Việt Nam bắt. Trường Chinh vì là người có họ hàng với ông Đặng Vũ Lạc và đã được ông Đặng Vũ Lạc giúp đỡ rất nhiều trước năm 1945 nên đã đề nghị thả anh Đặng Vũ Trứ với điều kiện là anh không hoạt động cho ĐVQDĐ nữa. Anh Đặng Vũ Trứ đã ngang nhiên từ chối và bị bọn cộng sản Việt Nam sát hại. Do thành tích của anh Đặng Vũ Trứ mà anh em thanh niên trong ĐVQDĐ ở Bắc Việt chấp nhận sự lãnh đạo của ông Đặng Vũ Lạc. Nhưng chẳng bao lâu ông Đặng Vũ Lạc lại mất vì bịnh lao. Sau khi ông chết, ở Bắc Việt không còn nhơn vật nào được mọi người tùng phục nữa nên tổ chức của ĐVQDĐ ở Bắc Việt tan ra thành nhóm nhỏ không hoạt động chung nhau.

Trong khi đó, ở Trung Việt, anh Bửu Hiệp bị cộng sản ám sát. Ông Hà Thúc Ký lên thay Bửu Hiệp làm xứ trưởng và tổ chức của ĐVQDĐ ở Trung Việt vẫn giữ nguyên như trước.
Riêng ở Nam Việt, tình thế hoàn toàn khác hẳn ở Bắc và Trung Việt. Xứ bộ ĐVQDĐ tại đó đã thực hiện ba biến đổi lớn trong thời kỳ này.

a) Về mặt tổ chức nội bộ, nguyên tắc dân chủ đã được áp dụng thay nguyên tắc quyền uy. Sau khi Thế Chiến II chấm dứt, những hành động hung bạo của các nhà lãnh lạo Đức, Ý, Nhựt theo chủ trương quyền uy đã được đưa ra ánh sáng, làm bộc lộ nhược điểm của các chủ trương đó. Đã vậy, xứ trưởng Nam Việt là anh Phạm Huy Lễ lại đã có nhiều quyết định sai quấy. Do đó, các đảng viên trong Ban Chấp Hành Xứ Bộ được bầu lại mỗi năm và Ban Chấp Hành Xứ Bộ quyết định theo lối biểu quyết lấy ý kiến đa số sau khi đã thảo luận kỹ càng. Ở các cấp dưới, người lãnh đạo do cấp trên giới thiệu, nhưng phải được sự tín nhiệm của các đảng viên đồng cấp qua một biểu quyết rồi mới nhận lãnh chức vụ.

b) Về mặt tư tưởng, Xứ Bộ Nam Việt của ĐVQDĐ rất chú tâm đến việc huấn luyện chủ nghĩa  Dân Tộc Sinh Tồn cho các đảng viên. Ủy viên Tuyên Huấn của xứ Bộ là anh Hùng Nguyên đã nghiên cứu sâu rộng thêm về các nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn do anh Trương Tử Anh nêu ra, Hùng Nguyên đã mở rộng ý nghĩa của từ ngữ vị kỷ, không xem nó là khuynh hướng mưu đồ lợi ích cá nhơn mà xem nó là khuynh hướng dựa vào mình, lấy mình làm gốc trong mọi việc, và qui mọi việc về mình. Hùng Nguyên còn cho rằng, ngoài bản năng sinh tồn cá nhơn làm cho người vị kỷ, lại còn có bản năng sinh tồn chủng loại làm cho con người có những bản năng xã hội khiến cho người chịu hy sinh quyền lợi riêng cho đoàn thể. Những ý mới trên đã được dùng để biện minh cho một chánh quyền cởi mở hơn, chấp nhận con người được nhiều tự do hơn, theo xu hướng dân chủ hóa của Xứ Bộ Nam Việt ĐVQDĐ.

c) Về mặt hoạt động, Xứ Bộ Nam Việt đã thành lập một tổ chức ngoại vi để dễ huy động quần chúng hơn. Anh Đỗ Văn Năng, một ủy viên của Ban Chấp Hành Xứ Bộ Nam Việt ĐVQDĐ vốn là đảng viên của đảng Xã Hội (Đệ Nhị Quốc Tế). Nhơn lúc Tướng Nguyễn Văn Xuân cũng là đảng viên của đảng Xã Hội này được chỉ định làm Thủ Tướng chánh phủ Nam Việt, anh Đỗ Văn Năng đã xin được giấy phép để thành lập một tổ chức lấy tên là Thanh Niên Bảo Quốc Đoàn. Các đảng viên ĐVQDĐ đã gia nhập tổ chức công khai này và hoạt động để phát triển nó ở khắp nơi tại Nam Việt.

 VII. cũng vào khoảng năm 1947, anh Nguyễn Tôn Hoàn trở về Nam Việt, anh là một trong những sinh viên Đại Học Hà Nội đầu tiên gia nhập ĐVQDĐ và đã lãnh đạo cuộc tranh đấu của sinh viên quốc gia Việt Nam tại đó. Anh cũng là một trong những đảng viên đầu tiên đã tổ chức ĐVQDĐ ở Nam Việt. Năm 1945, sau khi cộng sản Việt Nam cướp chánh quyền, anh đã ra Bắc Việt và tham dự tranh đấu công khai chống lại chúng ở Hà Nội. Đến năm 1946, anh được anh Trương Tử Anh phái đi Trung Quốc để liên lạc với các anh em quân nhơn ĐVQDĐ đã kéo sang bên đó vì cuộc tấn công của cộng sản Việt Nam có Pháp yểm trợ. Tại Trung Quốc, anh đã gặp cựu hoàng Bảo Đại và được ông này nhờ về Việt Nam để tiếp xúc với các đoàn thể và nhơn vật quốc gia Việt Nam. Nhơn dịp này, anh đi lại khắp nơi trong nước và liên lạc được với các anh em ĐVQDĐ của cả ba miền Nam Trung Bắc. ĐVQQDĐ lúc ấy đã tham dự việc đưa ra giải pháp Bảo Đại để tìm một lối thoát cho người quốc gia Việt Nam. Lúc Quốc Trưởng Bảo Đại về nước lập chánh phủ vào tháng 7 năm 1949, ông Nguyễn Tôn Hoàn được mời làm bộ trưởng Thanh Niên. Ngoài ra, còn hai đảng viên khác tham chánh là ông Lê Thăng làm bộ trưởng Ngoại Giao và ông Nguyễn Hữu Trí là Thủ Hiến Bắc Việt.

Với sự tham dự chánh quyền của một số đồng chí, anh em ĐVQDĐ trong toàn quốc lúc ấy đã liên lạc chặt chẽ với nhau. Đối với mọi người, việc thống nhứt  hàng ngũ của đảng được xem là công tác ưu tiên. Các xứ bộ Nam Việt và Trung Việt vốn đã tổ chức chặt chẽ, nhưng xứ bộ Bắc Việt không có tổ chức được vì các đảng viên thuộc hạng trí thức và có địa vị theo xu hướng hoạt động riêng rẽ chớ không chịu khép mình vào hàng ngũ nên không được các đảng viên trẻ tùng phục, mà các đảng viên trẻ này cũng không ai chịu nghe ai. Từ năm 1949 đến năm 1952, năm nào Xứ Bộ Nam Việt và Xứ Bộ Trung Việt cũng gởi phái đoàn đi Hà Nội để họp với các anh em đảng viên ở Bắc Việt và bầu cơ quan lãnh đạo trung ương. Riêng Xứ Bộ Nam Việt còn có một phái đoàn thường trực ở Bắc Việt trong mấy năm để cố giàn xếp cho anh em đảng viên ở Bắc Việt chịu ngồi lại với nhau.  Nhưng rốt cuộc, xứ bộ Bắc Việt cứ thành lập xong thì lại rã và do đó mà cơ quan lãnh đạo trung ương của đảng cũng không thành lập được.

Trong thời kỳ này, xứ bộ Nam Việt đã đặt lại vấn đề lá cờ của đảng. Cờ này đã được đem ra dùng trước công chúng lúc ĐVQDĐ và VNQDĐ họp lại thành QDĐ, và sau đó, khi ĐVQDĐ và VNQDĐ tách rời ra, VNQDĐ vẫn tiếp tục dùng cờ này. Dân chúng lúc ấy chỉ biết VNQDĐ chớ không biết ĐVQDĐ. Do dó, cờ cũ của ĐVQDĐ  đã trở thành cờ của VNQDĐ đối với dư luận. Để có một đảng kỳ để phân biệt với cờ VNQDĐ, xứ bộ Nam Việt ĐVQDĐ đề nghị thêm vào cờ cũ một lằn màu vàng nghệ bề ngang bằng 1/3 bề ngang lá cờ, nằm theo chiều dài và ở giữa lá cờ, nẹp hai bên tròng tròn xanh có ngôi sao trắng ở trong. Lằn vàng này tượng trưng cho dân tộc Việt Nam. Đề nghị này được một phiên họp gồm có cả anh em ở Bắc, Trung và Nam chấp thuận, nhưng trong thực tế, chỉ có xứ bộ Nam Việt là thi hành nó sau khi có cuộc biểu quyết. Về đảng ca, ĐVQDĐ vẫn giữ bài Việt Nam Minh Châu Trời Đông.

Việc hoạt động trong một tổ chức chánh trị công khai cũng đã được đem ra thảo luận. Xứ bộ Trung Việt chủ trương giữ hàng ngũ bí mật nên không chấp nhận ý này, chỉ có các đảng viên ở Bắc Việt và Nam Việt tán thành việc hoạt động công khai. Do đó, các đảng viên thuộc hạng trí thức và có địa vị ở Bắc Việt đã thành lập một đoàn thể mang tên là Phong Trào Quốc Gia Bình Dân. Nhưng vì không có cán bộ trẻ chịu xung phong đi tổ chức trong quần chúng nên đoàn thể này không phát triển được. Trong lúc đó, Thanh Niên Bảo Quốc Đoàn đã cho cán bộ ra hoạt động ở Bắc Việt mà nhờ được giới trẻ hưởng ứng nên đã đặt được cơ sở ở khắp nơi một cách nhanh chóng. Nhưng đến năm 1950, anh Đỗ Văn Năng Thủ Lãnh toàn quốc của đoàn đã bị cộng sản ám sát ở Sài Gòn.

VIII. Sau khi tham dự các chánh phủ do Quốc Trưởng Bảo Đại thành lập, các anh em ĐVQDĐ đã tranh đấu để Pháp phải trả độc lập thật sự cho Việt Nam.

Nhưng lúc đó, người Pháp không chịu giao hết quyền hành cho Quốc Trưởng Bảo Đại. Với các hiệp định ký ở Sài Gòn vào tháng 12 năm 1950 để thi hành các quyết định trong Hội Nghị PAU, nền độc lập của Việt Nam có tánh cách rất hạn chế nên không làm cho ĐVQDĐ thỏa mãn. Trong khi đó, tướng De Lattre De Tassigny được bổ nhiệm làm Cao Ủy kiêm Tổng Tư Lệnh Quân Đội Pháp ở Đông Dương cũng không có thiện cảm với ĐVQDĐ mà ông ta cho là một đảng quốc gia quá khích. Do đó, anh Nguyễn Văn Hoàn không tham dự chánh phủ Trần Văn Hữu thành lập ngày 21 tháng 2 năm 1951 và đến tháng 3 năm 1951, ông Nguyễn Hữu Trí cũng bị thay thế trong chức vụ Thủ Hiến Bắc Việt. Từ đó, ĐVQDĐ đứng vào thế đối lập với chánh quyền Bảo Đại. Đến tháng 7 năm 1951, ông Thái Lập Thành Thủ Hiến Nam Việt cùng với ủy viên Cộng Hòa Pháp là tướng Chanson đi kinh lý Sa Đéc và bị liệng lựu đạn chết ở đó. Người liệng lựu đạn là một nhơn viên của tổ chức Cao Đài do tướng Trình Minh Thế chỉ huy lúc ấy đã ra bưng kháng chiến. Nhưng để hoạt động trong châu thành Sa Đéc, anh ấy đã xin gia nhập tổ chức TNBQĐ tại địa phương này. Vì lý do đó, chánh phủ Trần Văn Hữu đã giải tán TNBQĐ và cho bắt các đảng viên ĐVQDĐ lãnh đạo tổ chức ấy. Vì các cán bộ ĐVQDĐ ở Nam Việt không còn cơ sở để hoạt động sau vụ này nên xứ bộ Nam Việt đã quyết định cho họ vào học trường Võ Bị Đà Lạt. Nhờ chánh sách này mà về sau xứ bộ Nam Việt ĐVQDĐ có nhiều sĩ quan trong Quân Đội Quốc Gia Việt Nam và đặt được cơ sở vững mạnh trong ấy được.

VIIII. Năm 1952, một số đảng viên thuộc hạng trí thức và có địa vị ở Bắc Việt đã chấp nhận tham chánh trở lại : ông Lê Thăng là Tổng Trưởng Xã Hội Lao Động trong chánh phủ Nguyễn Văn Tâm thành lập ngày 6 tháng 6 và ông Nguyễn Hữu Trí trở ra làm Thủ Hiến Bắc Việt ngày 14 tháng 11. Trong khi đó, một số đảng viên trong giới lãnh đạo TNBQĐ vẫn còn bị cầm tù. Vì việc này, xứ bộ Nam Việt của ĐVQDĐ không còn xem các chánh khách gốc Đại Việt ở Bắc Việt là đồng chí nữa và liên lạc với một số anh em đảng viên ở Bắc việt kết hợp nhau trong một xứ bộ Bắc Việt. Mặt khác, xứ bộ Nam Việt của ĐVQDĐ đã đẩy mạnh việc chống lại chế độ Bảo Đại. Anh Nguyễn Tôn Hoàn đã liên kết với một số đoàn thể như Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên và một cố nhơn vật chánh trị quốc gia như các ông Nguyễn Xuân Chử, Lê Toàn, Ngô Đình Nhu thành lập Phong Trào Đoàn Kết Hòa Bình. Phong Trào này một mặt đòi Pháp phải trả độc lập cho Việt Nam, một mặt đòi Quốc Trưởng Bảo Đại phải dân chủ hóa chế độ để đi đến một chánh phủ đoàn kết quốc gia chống lại cộng sản.

IX. Với hiệp định Geneva 1954 cắt đôi đất nước, anh em xứ bộ Bắc Việt dời vào Nam và vẫn được xứ bộ Nam Việt công nhận với tư cách đó.

Về mặt chánh quyền, ông Ngô Đình Diệm được đưa về nước làm Thủ Tướng. Nhưng ông Ngô Đình Nhu thấy cơ hội tốt đến với gia đình ông nên đã không giữ lời cam kết với các đoàn thể và nhơn vật khác trong PTĐKHB là phải dân chủ hóa chế độ và thực hiện sự đoàn kết giữa người quốc gia. ĐVQDĐ đã đứng lên chống lại xu hướng độc tài của gia đình họ Ngô. Anh Nguyễn Tôn Hoàn đã xuất ngoại để mở cuộc vận động ngoại giao. Trong khi đó, xứ bộ Trung Việt tổ chức chiến khu Ba Lòng, còn xứ bộ Nam Việt thì hợp tác với anh em Phật Giáo Hòa Hảo tổ chức một chiến khu ở Châu Đốc. Nhưng các chiến khu này đều đã bị tan vỡ trước sự tấn công của Quân Đội Quốc Gia. Ông Hà Thúc Ký xứ trưởng Trung Việt bị bắt cầm tù, một số anh em trong xứ bộ Nam Việt phải trống sang Căm-bu-chia và Lào. Riêng anh Hùng Nguyên được gởi sang Pháp để phụ giúp anh Nguyễn Tôn Hoàn trong cuộc hoạt động bên ngoài nước. Các anh em còn lại trong nước đều lặn vào bí mật để hoạt động. Các anh em quân nhơn thuộc xứ bộ Nam Việt sau khi tham dự cuộc đảo chánh bất thành vào cuối tháng 4 năm 1955 vẫn ở lại trong Quân Đội Quốc Gia và xây dựng cơ sở trong đó. Họ đã tham dự cuộc đảo chánh bất thành năm 1960 và đã đóng một vai tuồng tích cực trong cuộc đảo chánh lật đỏ chánh quyền Ngô Đình Diệm vào tháng 11 năm 1963.

X. Sau khi chánh quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ, anh em quân nhơn của xứ bộ Nam Việt ĐVQDĐ đã có một vị thế rất mạnh trong Quân Đội Quốc Gia Việt Nam. Các anh em lưu vong ở quốc ngoại đều trở về nước và lo tổ chức lại đảng. Vì một số tướng lãnh trong Hội Đồng Quân Nhơn Cách Mạng có chủ trương trung lập theo Pháp nên anh em quân nhơn ĐVQDĐ lại tham dự cuộc chỉnh lý ngày 30 tháng 1 năm 1964. Sau cuộc chỉnh lý này, ĐVQDĐ đã tham dự chánh quyền với anh Nguyễn Tôn Hoàn là phó Thủ Tướng Đặc Trách Bình Định và ông Hà Thúc Ký làm Tổng Trưởng Nội Vụ. Do chủ trương của xứ bộ Nam Việt, các tổ chức Phật giáo, Công Giáo, Cao Đài, Phật Giáo Hòa Hảo, VNQDĐ, Tổng Liên Đoàn Lao Công được mời vào chánh phủ để thực hiện sự đoàn kết quốc gia. Ngoài ra, anh Nguyễn Tôn Hoàn còn mời các tổ chức trên đây liên kết với ĐVQDĐ để thành lập Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhứt.

Về mặt nội bộ, ba xứ bộ Bắc, Trung và Nam Việt đã mở những cuộc hội họp để tổ chức lại đảng, nhưng kết quả không mỹ mãn vì nhiều lý do.

a) Ông Hà Thúc Ký chủ trương rằng ĐVQDĐ đã chen được vào chánh quyền rồi thì nên giữ riêng chánh quyền ấy cho mình và lợi dụng chánh quyền ấy bành trướng thế lực rồi chế ngự các nhóm khác để giữ độc quyền chánh trị. Anh em xứ bộ Nam Việt của ĐVQDĐ trái lại, cho rằng với tình trạng Việt Nam lúc ấy, một đoàn thể đơn độc không thế cứu nước được, và người quốc gia phải kết hợp nhau lại mới mong giữ được cho Miền Nam Việt Nam không mất trong tay cộng sản. Do sự bất đồng ý kiến này mà ông Hà Thúc Ký không chịu tích cực tham gia Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhứt, và vì ông giữ địa vị độc tôn trong xứ bộ Trung Việt nên xứ bộ này cũng không tham gia Mặt Trận ấy. Người cầm đầu xứ bộ Bắc Việt thời đó cũng chủ trương ĐVQDĐ phải nắm độc quyền chánh trị và áp dụng chánh sách độc tài nên cũng không tán thành xứ bộ Nam Việt trong chủ trương đại đoàn kết quốc gia. Do sự bất đồng ý kiến này mà sự thành một Trung Ương Đảng Bộ thống nhứt đã không thực hiện được. Ông Hà Thúc Ký và người cầm đầu xứ Bộ Bắc Việt đề nghị thành lập một Ban Lãnh Đạo Trung Ương 3 người, mỗi xứ bộ đề cử một người vào đó. Nhưng anh em xứ bộ Nam Việt biết rằng ông Hà Thúc Ký và người cầm đầu xứ bộ Bắc Việt cùng lập trường với nhau về việc nắm độc quyền chánh trị nên nếu cơ quan lãnh đạo trung ương chỉ có ba người thì anh Nguyễn Tôn Hoàn lúc nào cũng sẽ bị thiểu số. Bởi đó, anh em xứ bộ Nam Việt đề nghị một cơ quan lãnh đạo trung ương 15 người, mỗi xứ bộ đề cử 5 người, và cho rằng khi hội họp nhiều người như vậy thì lập trường đoàn kết quốc gia vốn hợp lý và thích ứng hơn với quyền lợi quốc gia sẽ được cơ quan lãnh đạo trung ương chấp thuận. Nhưng ông Hà Thúc Ký và người cầm đầu xứ bộ Bắc Việt sợ rằng nếu cơ quan lãnh đạo trung ương có nhiều người như vậy thì chính người của họ đề cử vào đó có thể bị lôi kéo theo lề lối làm việc dân chủ của xứ bộ Nam Việt nên bác bỏ đề nghị này. Rốt cuộc, ĐVQDĐ đã không thành lập được cơ quan lãnh đạo trung ương.

b) Mặt khác, lúc vừa nhận chức Tổng Trưởng Nội Vụ, ông Hà Thúc Ký đã tự động xuống khám Chí Hòa thả một số người đang bị giam giữ trong đó có một người Việt gốc Hoa làm chủ nhà hàng Đồng Khánh bị bắt thời chánh quyền Ngô Đình Diệm vì tội buôn lậu tiền cho cộng sản. Do đó, trong phiên họp nội các đầu tiên, tướng Nguyễn Khánh với tư cách là Thủ Tướng, đã chất vấn ông Hà Thúc Ký về vấn đề này và có ý cho rằng ông Hà Thúc Ký lấy tiền để thả một người phạm tội rành rành đến nỗi ông Mai Hữu Xuân cầm trọn quyền cảnh sát sau khi ông Ngô Đình Diệm bị lật đổ còn không dám thả. Ông Hà thức Ký tức giận vì sự chất vấn này nên khi về nhà thì rủ anh em xứ bộ Nam Việt  đảo chánh lật đổ tướng Nguyễn Khánh. Nhưng năm 1964 là năm người Mỹ bầu tổng thống, anh em xứ bộ Nam Việt của ĐVQDĐ bảo rằng nếu đảo chánh nữa, dư luận Mỹ có thể chán nản bỏ rơi Việt Nam. Vả lại, trong việc đã xảy ra, phần lỗi về ông Hà thúc Ký chớ không phải về tướng Nguyễn Khánh. Lúc đó, ông Hà Thúc Ký chưa có đảng viên trong quân đội nên khi anh em trong xứ bộ Nam Việt không tán thành ông không thể dựa vào đảng để đảo chánh mà phải đi rủ người ngoài đảng. Ông tiếp xúc với tướng Đặng thanh Liêm lúc ấy là tư lịnh sư đoàn 5 đóng ở Bình Dương. Nhưng tướng Đặng Thanh Liêm lại là người của tướng Nguyễn Khánh cho đi thăm dò phản ứng của ông Hà Thúc Ký sau buổi họp nội các đầu tiên. Sau khi ông Hà Thúc Ký tự tay thảo ra một kế hoạch  đảo chánh đưa cho tướng Đặng Thanh Liêm, tướng này đã mang kế hoạch đó trình cho tướng Nguyễn Khánh và tướng Nguyễn Khánh đã đem bằng chứng đó ra để đặt vấn đề với anh em Nguyễn Tôn Hoàn. Trong tình thế đó, ông Hà Thúc Ký không còn có thể ở trong chánh phủ được. Nhưng anh Nguyễn Tôn Hoàn đã giàn xếp cho ông ấy được đưa đơn từ chức để cho ông ấy khỏi mang tiếng là làm quấy và bị bãi nhiệm. Đã vậy, anh Nguyễn Tôn Hoàn còn giàn xếp cho ông Tổng Trưởng Nội Vụ mới là tướng Lâm Văn Phát vẫn giữ anh Đoàn Thái là Đổng Lý Văn Phòng Bộ Nội Vụ do ông Hà Thúc Ký bổ nhiệm ở lại chức vụ để giúp đỡ anh em đảng viên của xứ bộ Trung Việt. Như thế mà ông Hà Thúc Ký còn không hài lòng và trách móc anh em xứ bộ Nam Việt của ĐVQDĐ đã không binh vực ông chống lại tướng Nguyễn Khánh trong vụ này.

Do sự bất mãn này, ông Hà Thúc Ký dần dần chống lại anh em trong xứ bộ Nam Việt. Lúc hai anh Nguyễn Tôn Hoàn và Hùng Nguyên vì đương đầu lại chủ trương làm độc tài của tướng Nguyễn Khánh mà bị bắt buộc phải rời Việt Nam vào tháng 9 năm 1964, ông Hà Thúc Ký tính chắc là hai anh đi không trở về Việt Nam nữa nên ra thông cáo và rải truyền đơn kết án hai anh là phản đảng.

XI. Anh Nguyễn Tôn Hoàn sau khi rời Việt Nam vào tháng 9 năm 1964 đã không trở về Việt Nam được vì lúc anh định hồi hương thì giấy thông hành của anh đã hết hạn mà chánh quyền Việt Nam Cộng Hòa lúc đó lại không chấp nhận gia hạn thông hành cho anh. Anh Hùng Nguyên thì đã nhơn cơ hội tướng Nguyễn Khánh trao chánh quyền lại cho một chánh phủ dân sự đã về nước được vào tháng 10 năm 1964 trước khi giấy thông hành của anh mãn hạn. Một đại hội của xứ bộ Nam Việt ĐVQDĐ đã được triệu tập ở Sài Gòn ngày 14 tháng 11 năm 1964 để nhận định về tình thế mới. Trong phiên họp này, anh em xứ bộ Nam Việt của ĐVQDĐ cho rằng sự hợp tác với nhóm ông Hà Thúc Ký không còn có thể tiếp tục được. Mặt khác anh em cũng nhận thấy rằng nếu không hợp tác với xứ bộ Trung Việt của ĐVQDĐ mà vẫn mang tên ĐVQDĐ để hoạt động thì mình sẽ lọt vào tình trạng của anh em VNQDĐ, với nhiều nhóm hoạt động riêng rẽ mà cùng mang một đảng danh, nhóm nào cũng phải biện minh là chỉ có mình mới xứng đáng dùng đảng danh ấy nên chống báng nhau mãnh liệt. Như vậy hàng ngũ quốc gia càng tan nát mà phần lớn nghị lực của đảng viên sẽ dùng vào việc phân tranh với các đồng chí cũ thành ra không còn chống cộng sản được.  Một điều bất tiện khác là nếu còn mang tên ĐVQDĐ thì anh em vẫn có thể bị trách móc vì những việc làm của ông Hà Thúc Ký vì người ngoài không thể hiểu được là hai bên không còn liên hệ lẫn nhau. Trước đó anh em xứ bộ Nam Việt từng bị người khác chỉ trích về những hành động của ông Hà Thúc Ký và không muốn tình trạng này còn tiếp tục lúc mình không còn là đồng chí của ông Hà Thúc Ký nữa.

 Do các nhận xét trên đây đại hội năm 1964  đã quyết định không còn dùng đảng danh ĐVQDĐ nữa. Tuy nhiên, vì từ năm 1938, đã có nhiều anh em hy sinh dưới lá cờ ĐVQDĐ nên các đảng viên dự đại hội 1964 vẫn còn muốn duy trì một sự liên hệ với tên đảng ấy. Cuối cùng đại hội quyết định thành lập đảng Tân Đại Việt với các đặc điểm sau :

a) Tên Tân Đại Việt hàm ý rằng đảng này là một đoàn thể mới phân biệt với ĐVQDĐ tức là đảng Đại Việt đã có. Chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn được áp dụng là chủ nghĩa đã được anh Hùng Nguyên điều chỉnh và bổ túc, và hướng đến việc xây dựng một chế độ dân chủ tôn trọng sự tự do của con người, trái với chế độ quyền uy đề cao trong chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn nguyên thủy. 

b) Tuy nhiên, trong tên Tân Đại Việt vẫn còn tên Đại Việt nhắc lại nguồn gốc của đảng là do đảng Đại Việt tức là ĐVQDĐ mà ra. Lá cờ được đảng Tân Đại Việt chấp nhận là cờ của ĐVQDĐ đã sửa lại sau khi đảng tách ra khỏi QDĐ, với nền đỏ có một lằn vàng nghệ theo chiều dài và một tròng xanh, và ngôi sao trắng năm nhánh nằm ngay chính giữa. Sở dĩ đảng Tân Đại Việt giữ lá cờ này là vì mặc dầu đại hội toàn quốc ĐVQDĐ chấp thuận, nó chỉ được xứ bộ Nam Việt dùng trong thực tế nên khi lấy cờ này làm đảng kỳ, đảng Tân Đại Việt không sợ có sự trùng hợp với các tổ chức của các xứ bộ Bắc Việt và Trung Việt  của ĐVQDĐ. Ý nghĩa của đảng kỳ đã được xác định lại và ghi vào đảng qui. Bài Việt Nam Minh Châu Trời Đông vẫn giữ làm đảng ca.

c) Về mặt tổ chức, cấp xứ bộ bị bãi bỏ. Các đảng viên trong một xã hay một phường họp lại thành chi bộ, các chi bộ trong một tỉnh, một thị xã, một quận đô thành họp lại thành khu bộ. Nơi nào đảng có nhiều cơ sở thì có những tổ chức trung gian là liên chi bộ gồm một số chi bộ ở gần nhau và liên khu bộ gồm một số khu bộ ở gần nhau. Kế bên hệ thống căn bản dựa vào địa phương, còn có hệ thống tổ chức đặc biệt gồm người cùng nghề nghiệp hoặc thuộc một giới nhứt định. Đơn vị thấp nhứt là chi bộ gồm từ 15 đến 25 đảng viên và có thể chia thành tổ nếu cần. Trên chi bộ là khu bộ, trên khu bộ là biệt bộ. Trong hệ thống tổ chức đặc biệt, cũng có những tổ chức trung gian là liên chi bộ và liên khu bộ. Đảng Tân Đại Việt đã lấy các tên liệt sĩ liên hệ đến ngành hoạt động hay đến giới người của tổ chức đặc biệt để đặt tên cho các tổ chức này. Do đó, biệt bộ gồm anh em quân nhơn và cảnh sát mang tên là Bùi Hữu Phiệt, riêng liên khu bộ gồm anh em cảnh sát mang tên là Trần Văn Mạnh, biệt bộ thanh niên mang tên là Đỗ Văn Năng, biệt bộ sinh viên mang tên là Đặng Vũ Trứ, biệt bộ các viên chức hành chánh mang tên là Lê Trí Vị, biệt bộ phụ nữ mang tên là Nguyễn Thị Cải. Bên trên các khu bộ, biệt bộ và đô thành là cơ quan lãnh đạo trung ương gồm 4 cơ cấu:

1/ Trung Ương Ủy Hội gồm 9 ủy viên do Đại Hội Đồng Trung Ương Đảng Bộ (gồm đại biểu các tổ chức) kỳ 7 (nhóm họp năm 1974) bầu ra và một số ủy viên khác do các ủy viên đã được bầu chọn lựa. Chủ Tịch Trung Ương Ủy Hội là Chủ Tịch của Đảng. Trung ương ủy hội nắm giữ quyền quyết định tối hậu về mọi đảng vụ, nhưng chỉ nhóm họp 3 tháng một lần thường lệ.

2/ Chánh Trị Bộ gồm từ 7 đến 9 trung ương ủy viên do Trung Ương Ủy Hội bầu ra. Đó là cơ quan thường trực của Trung Ương Ủy Hội nắm giữ quyền chỉ huy tối cao của đảng trong thời gian Trung Ương Ủy Hội không nhóm họp. Chánh Trị Bộ đặt dưới sự điều khiển của một Chủ Nhiệm.

3/ Ban Chấp Hành Trung Ương là cơ quan điều khiển các cơ sở của đảng dưới sự chỉ đạo của Chánh Trị Bộ. Nhơn viên Ban Chấp Hành Trung Ương đều là trung ương ủy viên do Chánh Trị Bộ chấp thuận. Ban Chấp Hành Trung Ương đặt dưới sự chỉ đạo của một Tổng Bí Thư và chức vụ này do Chủ Nhiệm Chánh Trị Bộ kiêm nhiệm.

4/ Giám Sát Đoàn hành động như một cơ quan bảo hiến, bảo qui và giám định tài chánh và gồm một Chủ Tịch và một số ủy viên được bầu ra trong các trung ương ủy viên. Phó Chủ Tịch Trung Ương Ủy Hội đương nhiên là Chủ tịch của Giám Sát Đoàn.

Lề lối làm việc trên đây đã được ấn định trong bản Hiến Chương do Đại Hội Đồng Trung Ương Đảng Bộ kỳ 7 biểu quyết ngày 10 tháng 2 năm 1974.

XII. Từ năm 1964 đến năm 1975, đảng Tân Đại Việt đã phát triển nhanh chóng.

Trước đó, vì tôn trọng nguyên tắc địa phương nên xứ bộ Nam Việt của ĐVQDĐ chỉ tổ chức ở các tỉnh Nam Việt. Nay vì không còn hợp tác với các xứ bộ bộ Bắc Việt và Trung Việt của ĐVQDĐ nữa nên đảng Tân Đại Việt đã phát triển ra các tỉnh Trung Việt và các anh em gốc Bắc Việt được mời gia nhập tổ chức ở mọi nơi. Mặt khác, đảng Tân Đại Việt đã khuyếch trương các biệt bộ trong giới quân nhơn, cảnh sát, thanh niên, sinh viên, hành chánh, phụ nữ v.v... Năm 1975, đảng đã có mặt khắp nơi trong nước và ở khắp mọi ngành hoạt động của quốc gia Việt Nam.

Mặt khác, từ cuối năm 1968, với các quyền chánh trị mà Hiến Pháp 1967 công nhận cho các công dân, đảng nhận thấy cần phải có những hoạt động chánh trị công khai, trong khi nhu cầu của cuộc tranh đấu trường kỳ cho dân tộc đòi hỏi đảng phải giữ hàng ngũ bí mật. Để dung hòa các nhu cầu trên đây, anh em đã mở cuộc tiếp xúc với các đoàn thể quốc gia khác và các nhơn vật chánh trị có uy tín để cùng nhau lập ra Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến. Ngoài Tân Đại Việt, Phong Trào này còn có một sốt anh em thuộc VNQDĐ, Cao Đài, Hòa Hảo và nhiều nhơn sĩ. Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến đã làm lễ ra mắt ở Sài Gòn ngày 20 tháng 4 năm 1969, với giáo sư Nguyễn Văn Bông làm Chủ Tịch và anh Hùng Nguyên làm Tổng Thư Ký, và lần lần phát triển khắp nơi. Năm 1971, giáo sư Nguyễn Văn Bông bị cộng sản ám sát, chức vụ Chủ Tịch để trống, đến năm 1974 anh Hùng Nguyên mới được bầu vào chức vụ đó. Năm 1975, PTQGCT có cả thảy 100.000 đoàn viên trên toàn quốc và có cơ sở ở hầu hết các quận và một số lớn xã trong nước. Mặc dầu bị chánh quyền chèn ép và bị gian lận trong các cuộc bầu cử, PTQGCT đã đưa ra 19 Dân Biểu vào Hạ Nghị Viện trong cuộc bầu cử năm 1971. Dó là một số Dân Biểu cao nhứt của một đảng dối lập tại Việt Nam Cộng Hòa thời đó. Các dân biểu của PTQGCT đã hợp tác với một số thân hữu lập khối Dân Quyền trong Hạ Nghị Viện. Khối này đứng trong thế đối lập xây dựng và là khối có kỷ luật biểu quyết : chống lại chánh phủ khi chánh phủ có những chủ trương bất hợp lý hay bất lợi cho quốc gia, và ủng hộ chánh phủ khi cần chống lại cộng sản.

Năm 1974, trước chánh sách lấn ép của chánh quyền Nguyễn Văn Thiệu đối với các chánh đảng quốc gia, PTQGCT đã liên kết với 5 chánh đảng khác (đảng Công Nông của Tổng Liên Đoàn Lao Công, đảng Dân Xã của một số anh em Công Giáo, đảng Dân Chủ Xã Hội của một số anh em Hòa Hảo, đảng Cộng Hòa Xã Hội của một số anh em Cao Đài và một hệ phái VNQDĐ) thành lập Mặt Trận Quốc Gia Dân Chủ Xã Hội. Anh Hùng Nguyên là một trong 6 đồng chủ tịch của Mặt Trận này.

XIII. Sau khi miền Nam Việt Nam sụp đổ năm 1975, phần lớn anh em TĐV và PTQGCT còn lại ở trong nước, một số bị bắt và bị tù đày, một số còn tiếp tục hoạt động. Số anh em ra ngoài nước không đông đảo, nhưng phần lớn đã vẫn tiếp tục hoạt động không ngừng. Ban đầu sự liên lạc với nhau còn xuyên qua cá nhơn các anh em đã quen biết nhau, nhưng lần lần hệ thống xây dựng đã được tổ chức khắp nơi. Năm 1982, một đại hội đã được triệu tập ở Houston với sự tham dự của một số anh em ở hải ngoại, và sự tán thành của anh em không đi dự hội được. Đại Hội Houston quyết định tiếp tục cuộc tranh đấu cho lý tưởng của đảng Tân Đại Việt và biểu quyết một Hiến Chương Lâm Thời áp dụng cho đến khi tình thế cho phép triệu tập một đại hội trong nước.

Trong nét chánh, tổ chức cơ cấu căn bản trong nước vẫn giữ nguyên như cũ. Ở hải ngoại chi bộ là đơn vị cơ sở tương ứng với thành phố, liên chi bộ tập họp các chi bộ trong một tỉnh, phân khu bộ tập họp các chi bộ hay liên chi bộ trong một tiểu bang, khu bộ tập họp các chi bộ, liên chi bộ hay phân khu bộ ở trong một nước, liên khu bộ tập họp các khu bộ ở những nước gần nhau. Về cơ quan lãnh đạo, một Ban Lãnh Đạo được bầu ra để đảm trác nhiệm vụ và quyền hạn của Trung Ương Ủy Hội và Chánh Trị Bộ được qui định traong Hiến Chương 1974. Ban lãnh đạo đầu tiên đã được bầu với 100% phiếu tín nhiệm. Đó là dấu hiệu của một sự đồng tâm nhứt trí của anh em đảng viên Tân Đại Việt trong cuộc tranh đấu nặng nhọc và gay go để giải phóng đất nước khỏi ách cộng sản và xây dựng một xã hội mới thích hợp hơn với sự sinh tồn của dân tộc .

                       
     
Trở về