Tuyên ngôn


Đại - Việt Quốc Dân Đảng  Năm 1939




Phần thứ nhất .

  Tuyên cáo quốc dân


Quốc dân Đại Việt,

Bốn nghìn năm lịch sử, bốn nghìn năm văn hiến, giống Lạc Hồng vẫn tự hào là hùng mạnh.

Xét qua lịch sử quá khứ thì trong cỏi Á Đông này (trừ Trung Hoa ra) không có một nước nào mà quốc thể vẻ vang bằng nước ta, vì dân tộc ta có một nền văn hóa tối cổ, một quốc hồn mạnh mẽ, nên đã tạo biết bao trang sử hiển hách. Nhân tài tuấn kiệt đời nào cũng có. Chính sách chính trị đời Trần, phương lược kinh tế nhà Hồ, văn tài Nguyễn Du, học thuật Chu-An đều lưu lại hậu thế một đặc điểm. Đối với các trận diệt Minh bình Thanh, bại Nguyên thì những võ công oai hùng nhất lịch sử loài người cũng không hơn nổi.

Quân Mông Cổ vô cùng dũng mãnh, khắp Âu Á hai châu đều khét tiếng khiếp uy : vó ngựa sắt của họ lướt đến đâu cỏ cây đều chết sạch ; hết thành quách nọ đến hào lũy kia đều san thành bình địa. Thế mà hai phen cất đại quân sang Đại-Việt, hai phen đều bị đánh tan tành, không còn một manh giáp. Rút cục phải ôm hờn bại nhục trốn về bên kia quan ải.

Vẻ vang thay một dân tộc cỏn con sinh tử trên một giải đất hẹp hòi mà đã bao lần bại nổi một nước dân số đông nhất hoàn cầu để giữ nguyên bờ cỏi, lại còn thừa sức thực hành Nam tiến rất vĩ đại, rồi chuyển sang Tây tiến. Nào tiêu diệt Chiêm-Thành, nào thôn tính Chân-Lạp, áp đảo Mên Lào, lung lạc Xiêm-La, Diến Điện, để mở một con đường sống cho nòi giống muôn đời về sau. Sự bành trướng của dân tộc ta thật vô cùng mãnh liệt. Trong lúc độc-lập lẫy lừng, cũng như trong khi bị cái ách đô hộ bạo tàn của người khác giống, vẫn luôn luôn tiến tiển không ngừng, không một sức mạnh nào ngăn cản nổi, không một dân tộc nào sánh tầy.

Những cảnh vinh nhục nối tiếp nhau biến hiện trên giải đất Đại-Việt này đã hun đúc dân ta thành một dân tộc già dặn bền bỉ, đủ sức đối chọi với mọi cảnh ngộ. Lúc hưng thịnh thì lên cao tuyệt vời mà lúc suy vi vẫn giữ nguyên được cái bản sắc đặc biệt để chờ khi quật khởi lại càng hùng mạnh hơn xưa.

Những thành tích vẻ vang trong lịch sử tiến hóa của dân ta đã chứng rằng dân ta có đủ các đức tính và năng lực để trở nên một dân tộc rất mực hùng cường trên thế giới.

Nhưng rủi thay trên đường tiến hóa, dân ta còn phải trải qua một cảnh điêu tàn nữa.

Vào cuối thế kỷ XIX, làn sóng Tây phương ào ạt tràn sang Đông Á ngày càng dữ dội. Người tây phương đòi thông thương giao dịch, bắt mộ phu ; xây, khai hải cảng rồi tranh chiếm đất đai để cướp lấy thị trường cùng nguyên liệu. Cuộc sống đang yên ổn thái bình bỗng biến thành trường tranh đua cướp dựt của quân đi xâm lăng. Hầu hết các nước Đông Phương lần lượt dắt díu nhau đắm chìm trong vòng nô lệ, và sức người không địch nổi vũ khí tối tân. Nước ta cũng chung một số phận với các nước xấu số ấy.

Già nửa thế kỷ ở dưới quyền thống trị của Đế quốc Pháp, nước ta bị coi là một kho nguyên liệu, một thị trường tiêu thụ và một lò nhân công rẻ tiền. Họ vơ vét sạch các nguồn lợi, lại giam hãm dân tộc ta trong vòng lạc hậu về văn minh, kỷ nghệ. Đến như nghề nông là căn bản của nền kinh tế quốc gia cũng hết đường phát triển. Trình độ sinh hoạt của dân ta vì thế mà càng ngày càng thấp kém. Họ lại đầu độc nhân tâm và bại hoại phong hóa, chia rẽ Bắc Nam để dễ bề cai trị. Dùng lợi lộc để mua chuộc hạng người ti tiện tham lam để đêm ngày rình mò săn đón, gây nên trong nước cái không khí rất đê hèn là do thám và nghi kị lẫn nhau. Các bậc anh tài có khí phách hào hùng chỉ vì không chịu khuất mà bị tàn sát hay bị đầy ải điêu linh, còn bọn gian tà, bán nước cầu vinh, không còn biết liêm sỉ là gì, lấy sự chui luồn nịnh hót làm phương kế tiến thân, quay lại giết hại đồng bào, thì tha hồ múa mép dương oai, ngất ngưởng ở nơi cao quí nhất trên bậc thang xã hội.

Đế quốc Pháp lại chiếm giữ độc quyền giáo dục và thu vào trong tay tất cả các cơ quan ngôn luận trọng yếu để cầm hãm dân trí và chỉ chuyên luyện nên một hạng trí thức nô lệ để bề sai khiến. Óc tự cường đã bị gột sạch, một niềm xu phụ người ngoài, trở lại tự mình trách mình, coi sự làm toi mọi cho người là việc dĩ nhiên, không cần biết hổ nhục là gì nữa, cúi đầu cam phận nô tỳ, chỉ trực tranh nhau lấy địa vị một tên đầy tớ cao lương.

Cái kết quả của mấy mươi năm Pháp thuộc là tài nguyên kiệt quệ, kinh tế điêu tàn, phong hóa suy đồi, tinh thần nô lệ hóa.

Cứ như tình thế đó thì dù về phương tiện dân sinh hay dân trí, dân tộc ta đều lâm vào quảng đường cùng. Nếu ta chẳng sớm tỉnh ngộ tìm lối thoát  ra thì cái họa diệt vong cũng không còn xa là mấy.

"Tuồng thiên diên " chẳng từ một ai. Dấu xe đổ của Chiêm-Thành và Chân-Lạp đã bầy ra đó, ta nên lấy làm gương.

Nước Đại-Việt ta muốn trở nên anh hùng mạnh, chiếm một địa vị sáng láng dưới ánh mặt trời và xứng đáng với những thiên tính sẵn có của dân ta, thì phải mau giải quyết hai vấn đề thiết yếu :

Giải phóng quốc gia,
Cải tạo xã hội.


Đối với việc giải phóng quốc gia, chúng ta không thể tin tưởng một cách mê muội là có một dân tộc nào vì lòng vị tha, vì chủ nghĩa cao thượng mà hy sinh xương máu của nòi giống họ để mang sự độc lập giao trả cho ta.

Chúng ta phải nhận thức rằng trên lập trường quốc tế, giữa các quốc gia chỉ có quyền và lợi mà thôi. Mọi hành động của nước này đối với nước khác không ngoài mục đích ấy.

Quốc dân phải hiểu rõ rằng: Lấy lại nền độc lập của non sông Đại-Việt là bổn phận thiêng liêng của người Việt. Chỉ có ta mới thực sự vì sự sống còn, vì hạnh phúc của ta mà thôi. Ỷ lại vào người, tin ở người là dắt nhau vào con đường diệt vong.

Hiện thời thế lực của thực dân Pháp chưa bị tiêu diệt hẳn. Ta phải gấp gây lấy một thực lực mạnh mẽ để diệt trừ những kế hoạch của kẻ còn nuôi dã tâm xâm lược, và để làm hậu thuẫn cho mọi chính sách ngoại giao.

Thực lực ấy mới chính là then chốt cho công cuộc giải phóng quốc gia và là sự bảo đảm chắc chắn cho nền độc lập của Tổ-Quốc.

Sau việc giải phóng quốc gia, vấn đề cải tạo xã hội là quan trọng nhất. Tình thế xã hội hiện nay, trăm phần nguy kịch, cho nên công cuộc cải tạo thật là rối ren phiền toái. Chúng ta vừa phải tránh cái hại của chế độ tư bản, tự do cạnh tranh và hỗn loạn sản xuất, nó là cái ung nhọt đã gây ra bao nhiêu tệ bệnh ở xã hội đại tư bản tây phương, vừa phải mau đạt tới trình độ văn minh kỹ nghệ thế giới, đồng thời lại phải kiến thiết về mặt tinh thần.

Chúng ta lại phải thừa cơ hội các nước đương bị kiệt quệ vì nạn binh lửa mà kiến quốc cho thật mau lẹ. Đến khi vết thương của các cường quốc giao tranh đã lành rồi, nước ta đã có cơ sở vững vàng, không một dân tộc nào dám manh tâm chiếm đoạt nữa.

Sự thi hành một chương trình rất to tát trong một thời gian ngắn bắt buộc chúng ta phải nhận rằng: "Cần phải có một chính phủ thật mạnh đủ uy quyền định đoạt, hành động rất nhanh chóng và kín đáo, có đủ sức đánh tan tất cả các trở lực ở bên trong trổi lên hay ở bên ngoài đưa đến".

Vì các lẽ ấy, chúng ta phải đi đến một chính phủ đặc biệt sáng suốt đặt dưới quyền của một chính đảng quốc dân cách mệnh, gồm những phần tử có công tâm chân chính của dân tộc Đại-Việt ngày nay.

Muốn thực hành triệt để công cuộc giải phóng quốc gia và cải tạo xã hội, chúng ta cần phải có một chính đảng thuần túy quốc gia để thống nhất các lực lượng ái quốc chân chính và đủ sức lãnh đạo quốc dân trong mọi sự đấu tranh.

Chính đảng lý tưởng ấy đã xuất hiện. Mấy loạt súng thần công đại bác đầu tiên của người Nhật Nhĩ Man làm chuyển động biên thùy Đức Ba hòa nhịp với tiếng còi đồng lanh lảnh thúc quân (9-1939) là cái hiệu báo trước cho người năm châu biết rằng trận thế giới đại chiến đả mở màn, và cũng là cái hiệu báo cho tất cả người Việt biết rằng trên giải đất Đông Dương vừa xuất hiện một chính đảng mà chính đảng này sẽ cầm vững vận mệnh tương lai của quốc gia Đại-Việt.

Chính đảng này mệnh danh là: Đại - Việt  Quốc Dân Đảng.

Hai tiếng Đại-Việt nêu cao cái ý chí tự cường tự lập và cái hùng khí
    muốn cho quốc gia  mạnh lên và phồn thịnh mãi mãi.

Ba chữ Quốc Dân Đảng tỏ rằng Đảng này không phải của riêng giới nào,
    mà là của toàn thể dân tộc.

Mục đích của Đại-Việt Quốc Dân Đảng là tập họp tất cả các phần tử ưu tú khắp các giới trong nước, lập nên một sức mạnh hùng hậu. Sức mạnh ấy sẵn sàng đánh đổ thế lực của bất cứ cường quốc nào manh tâm xâm chiếm đất đai Đại-Việt, để thực hiện nền độc lập hoàn toàn và vì hạnh phúc chung của toàn dân mà xây dựng nên một quốc gia giàu mạnh. Về phương diện bang giao, Đại-Việt Quốc Dân Đảng thành tâm giao hảo với những nước nào giúp đở đảng thực hiện mục đích trên và sẽ coi là kẻ thù bất động đái thiên nước nào có hành động trái ngược lại.

Quốc Dân Đại Việt!

  - Hãy tin ở tiền đồ rạng rở của Giang sơn!
  - Hãy đoàn kết theo một mệnh lệnh duy nhất!
  - Hãy tụ tập dưới bóng cờ của Đại-Việt Quốc Dân Đảng, một chính đãng thuần túy quốc gia:
    . có chủ trương chính đáng,
    . có người chỉ huy sáng suốt,
    . có căn bản vững chắc ở khắp giải đất Đông Dương này.

Quốc Dân Đại Việt!

Lúc này là lúc phải đoàn kết chặt chẽ, phải chiến đấu hăng hái. Chiến đấu cho đến bao giờ cảnh tượng hoàn toàn độc lập xuất hiện trên giang sơn Hồng Lạc.

Quốc Dân Đại-Việt!

Hãy đánh đổ bất cứ cường quốc nào chủ trương xâm chiếm đất đai Tổ-Quốc.

Dân tộc Đại-Việt vạn tuế!

Đại-Việt Quốc Dân Đảng vạn tuế !

     


Phần thứ hai .

 Dân Tộc  Sinh tồn chủ nghĩa. ( Lược giải đại ý )




 Muốn tránh các sai lầm trong lúc hành động, cần phải nêu lên một chủ nghĩa làm tiêu chuẩn cho nền lý thuyết của Đảng, làm nơi trung tâm hấp lực cho đảng viên xa gần cố kết nhau lại và làm kim chỉ nam cho mọi công cuộc kiến thiết sau này.

Vấn đề Sinh Tồn là trung tâm điểm của lịch sử.

Mục đích thiêng liêng của mọi sự hành động của loài người từ xưa tới nay là mưu sự sinh tồn cho mình.

Một cá nhân làm việc cặm cụi suốt ngày thâu đêm cũng vì mưu sự sinh tồn cho mình. Một chủng tộc kể từ thời kỳ tiền sử cho đến ngày nay, nào là phá rừng xẻ núi, cầy cấy chăn ‘’ "Tranh đấu lấy sự sống còn chung cho họ và cho con cháu họ".

Cũng vì sự sinh tồn mà Hán diệt Miêu, Đại-Việt diệt Chiêm Thành, La Mã phá Carthage, người giống trắng đuổi người giống đỏ.

Xem thế thì đủ biết rằng vấn đề sinh tồn là trung tâm điểm cho vấn đề xã hội, chính trị, kinh tế và mọi cuộc biến cải trong lịch sử.

Quốc tế chủ nghĩa không thể giải quyết được vấn đề sinh tồn.

Muốn giải quyết vấn đề sinh tồn, chúng ta không thể chủ trương thực hành quốc tế chủ nghĩa được. Chủ trương như thế thì bao giờ cũng vẫn hoàn toàn là ảo tưởng. Xét về phương diện tâm lý, chủ nghĩa quốc tế không thích hợp với những bản năng cội gốc của loài người, mà về mặt thực tế lại càng không có lý do tồn tại.

Trải bao nhiêu cuộc biến đổi và cách mệnh, loài người vẫn là loài người, không hề trở nên thành Thánh hay Phật chỉ có những tính hay, cũng chẳng hóa nên cầm thú chỉ có tính dở. Ta thấy tính hay và tính dở lẫn lộn nhau. Bên cạnh tinh thần vô tư đã nấp sẵn lòng vị kỷ và cùng nhau tồn tại mãi mãi. Cái kia lại là lý do tồn tại của cái nọ. Cho nên về phương diện tâm lý, thì bản năng sinh tồn và ý thức đồng loại sẵn có trong thâm tâm mỗi người khi mới ra đời và vẫn nguyên vẹn như từ nghìn xưa. Hai cái ấy là nguyên nhân chính yếu của sự yêu ghét không đồng đều nhau. Người ta bao giờ cũng có cái khuynh hướng tự nhiên là yêu quý và tôn trọng hơn những cái khác cái gì mà mình có cảm tưởng là chính của mình hay gần mình hơn. Sự chênh lệch ngay từ nơi nguyên thủy ấy chính là cái cớ phát sinh ra bao nhiêu sự chia rẽ trong xã hội loài người. Vì yêu ghét không đều nhau nên mới sẩy ra sự phân biệt bà con, bạn bè làm người thân kẻ sơ. Do đó lan rộng mãi thành tinh thần bè phái, tinh thần xứ sở, tinh thần chủng tộc, tư tưởng quốc gia. Hai cái bản năng trên là bất diệt. Vậy sự hợp nhất nhân loại luôn luôn gặp trở lực tiềm tàng và rất mãnh liệt.

Gia dĩ tư tưởng người ta bất đồng, mỗi người nghĩ ra một cách, lại thêm lòng vị kỷ tính thích vinh quang và ham quyền chính. Những cái này đã gây ra bao trận lưu huyết và chia rẽ người cùng huyết thống, theo một chủ nghĩa, thờ một tôn giáo ra làm nhiều phái chống lại nhau.

Xưa kia đã có những tôn giáo chiến tranh trên đại lục Âu Châu. Đó là những trận giao tranh của các người cùng giống, cùng thờ một Đức Chúa, chủ trương một đạo bác ái. Thử hỏi có gì cảm hóa người ta sâu sắc hơn tôn giáo? Thế mà không thể ngăn nổi các tín đồ chia rẽ nhau. Ngày nay trong hành môn đệ Mã Khắc Tư cũng chia rẽ ra làm năm bảy phái. Mỗi phe hùng cứ một phương hay chiếm một vài đoàn thể dân chúng, rồi chuyên tâm reo rắc sự thù ghét nhau, rồi xung đột liên miên, rốt cuộc chẳng ai chiếm nổi địa bàn thế giới, mà có chiếm nổi cũng không lấy ai đủ tín nhiệm đủ tài trí và quyền lực để bình trị và duy trì mãi một nước bao la thiên địa. Xưa nay các đế quốc to lớn có bao giờ thọ đâu.

Phương chi giống người lại phức tạp, trắng vàng khác sắc, phong tục tập quán nhất nhất đều khác nhau cả, mà đã ăn sâu vào tim óc con người từ nghìn xưa. Ngôn ngữ lại bất đồng, một điều hiểu lầm cỏn con cũng có thể gây hành đại họa. Dù cho cái ma lực thần bí làm thực hiện thế giới đại đồng thì cái khối tạp nham ấy cũng không tài nào đứng vững được. Một khi ở góc trời xa xăm phát minh ra một vài tay có hung tài đại lược, mà mang theo cái chí ngang tàng độc lập, thích sự vinh quang, ưa quyền thống trị, hay có tư tưởng khác thường, những người này sẽ dùng trăm khôn nghìn khéo của họ, lợi dụng đến triệt để những nhược điểm của loài người và những cái không đồng kể trên để thu phục người đồng chủng hay đồng tư tưởng và thực hành ý muốn. Khi ấy ta sẽ thấy nhóm lên quanh họ một số người càng ngày càng bành trướng ra. Trước hết là người trong bà con thân thích, rồi đến người cùng nước cùng nòi, cái quốc gia hỗn tạp này tất đi đến chỗ tan rã làm năm bảy mảnh. Lịch sử loài người chưa bao giờ cho chúng ta trông thấy hiện ra trong chốc lát cái cảnh tượng toàn thể nhân loại đều biết nghe theo một khẩu hiệu và ăn ở hòa hiếu với nhau. Thế thì ngày nay chúng ta dùng phương pháp gì để đi đến kết quả đó. Ôi! giấc mộng đại đồng vẫn hoàn toàn là ảo mộng.

Xét về phương tiện thực tế ta thấy số nhân khẩu trên thế giới càng ngày càng tăng mà mặt địa cầu không rộng thêm ra tấc nào cả. Các nguyên liệu cũng không tăng, cái tài chế biến của khoa học chỉ có giới hạn mà lòng nhân dục thì không bờ bến. Nhân loại sẽ đi đến bước đường cùng, khó lòng tránh khỏi sự xô xát lẫn nhau.

Nói tóm lại quốc tế chủ nghĩa không thể giải quyết được vấn đề sinh tồn. Vấn đề này chỉ có thể giải quyết được trong vòng một phạm vi một dân tộc, một quốc gia hay một châu mà thôi. Vì thế thì những bản năng, những dục vọng kể trên mới có thể phát xuất ra ngoài để đối đáp với kẻ khác thì tự nhiên bên trong sẽ được thái bình thịnh trị.

Dân tộc ta phải tự giải quyết lấy vấn đề sinh tồn của mình.

Người nào không tin ở mình là người bỏ đi. Dân tộc nào không tin ở mình là cái điềm báo trước dân tộc đó sắp mất. Dân tộc ta muốn trở nên phú cường, phải nuôi lấy đức tự tin, tự cường cho thật hùng hậu. Phải tự mình suy xét cho ra cái cớ hưng vong vủa mình và tìm phương tự cứu.

Trải qua thời Bắc thuộc dài dằng dặc hơn nghìn năm, kể từ khi Hán Vũ Đế cướp được nước Nam Việt của nhà Triệu, cho đến đời Ngũ Quý, dân tộc ta phải chịu biết bao nỗi đau khổ đè nén. Nếu dân tộc ta mất thì mất ngay bấy giờ, vì là thời kỳ phôi phai, người còn ít, quốc gia chưa thành, văn tự chưa có. Thế mà rút cục, diệt vong đã không, đồng hóa cũng không. Chẳng những xây nổi nền tự chủ mà lại còn giữ được cái tính đặc biệt của nòi giống. đồng thời tiêu diệt nổi các giống cường lân. Ta thử tìm xem nguyên do ở đâu được thế.

Xét cho cùng lẽ, chỉ vì dân ta có tinh thần chủng tộc rất cương kiên ngay từ thời thái cổ. Cái tinh thần ấy cứ ngày một phấn khởi thêm lên và lan rộng ra thành tinh thần quốc gia. Đến nhà Lý và nhà Trần lại ra công đào tạo cho tinh thần quốc gia của dân tộc ta cực kỳ mạnh mẽ, có cái sức kết chặt dân ta thành một khối; trong có thể ăn ở hòa hảo với nhau, ngoải có thể chống với cường địch để mở một con đường sống chung. Đọc suốt bộ quốc sử bốn nghìn năm, chúng ta nhận thấy rằng khi nào tinh thần quốc gia yếu thì nước suy, khi nào tinh thần ấy mạnh thì nước ta thịnh.

Tinh thần quốc gia là cái nguyên nhân độc nhất bảo tồn dân tộc ta vậy.

Hiện thời vấn đề cấp bách mà chúng ta phải giải quyết ngay là sự giải phóng cho dân tộc ta cả về mặt hình thức lẫn tinh thần cái ách ngoại tộc đè nén. Muốn đến đích chúng ta không thể noi theo con đường nào khác là làm cho phát triển đến cực độ cái tinh thần quốc gia sẵn có rễ sâu cội chắc ở trong thâm tâm mọi người.

Có tinh thần quốc gia mới cảm thấy người ta sinh ra ở đời phải mang một nghĩa vụ rất lớn lao đối với đất nước, đối với người chết trước, với kẻ sinh sau. Do đó, phát xuất ra những gương hy sinh cho tổ quốc vô cùng mãnh liệt.

Tuy nhiên giải phóng dân tộc mới là mở đầu cho một công cuộc lâu dài là mưu sự sinh tồn trường cửu cho toàn thể giống nòi. Sự sinh tồn mới là cái tuyệt đích cho chúng ta theo đuổi mà chủ nghĩa Sinh tồn tức là chủ nghĩa xã hội, vì do vấn đề sinh tồn mà phát sinh ra các vấn đề xã hội.

 Nguyên nhân sâu xa của giai cấp xung đột ở các nước kỹ nghệ phát đạt cũng chỉ vì cuộc xã hội sinh hoạt không được đều hòa, sự sinh tồn của các giai cấp dưới bị uy hiếp. Ta giải quyết vấn đề sinh tồn chung tức là giải quyết đến căn nguyên các vấn đề xã hội.

Nhưng chúng ta phản đối tất cả các khuynh hướng siêu quốc giới, không mơ màng đến những việc không thể làm được. Chúng ta nhìn chung vào thực tế và chỉ lo toan cho lợi quyền sống còn của dân tộc ta thôi.

Vậy chủ nghĩa của chúng ta là : Dân Tộc Sinh Tồn Chủ Nghĩa.

Mưu sự sinh tồn cho dân tộc tức là cho quốc dân, ai ai cũng được hưởng phần hạnh phúc, mà có quyền lợi tất là phải có nghĩa vụ. Toàn thể quốc dân đều phải làm việc để đạt tới mục đích ấy. Vậy công cuộc kiến quốc sau này phải căn cứ vào nguyên tắc căn bản là : "Vận dụng hết thảy nhân tài và các nguồn năng lực tiềm tàng trong dân tộc ta để gây dựng nền hạnh phúc toàn thể". Chẳng những phải nâng cao trình độ sinh hoạt vật chất lên mà về phương diện tinh thần và trí tuệ cũng đều phải đưa đến một trình độ tuyệt đích phát triển. Nhưng cứ để rời rạc, mỗi người hoạt động một cách tùy theo sức lực và ý kiến riêng của từng cá nhân một hay từng đoàn thể riêng rẽ thì lực lượng tranh đãu sẽ giảm đi nhiều, lại không liên tục và nhiều khi cùng một giống nòi mà quay trở lại xung đột lẫn nhau.
Muốn tránh điều bất lợi đó, chúng ta phải : "Hợp nhất quốc dân đặt dưới quyền thống xuất duy nhất và cực mạnh."


Trở về