Lịch sử của Đại- Việt Cách - Mạng Đảng
  Lịch sử của Đảng là một chuỗi dài đấu tranh trường kỳ và liên tục:  Đấu tranh chống thực dân, chống Cộng Sản, chống những tai họa của Quốc Gia, đấu tranh chống lại những trở lực ngăn cản bước tiến của Đảng đồng thời cũng là những cuộc đấu tranh của các đồng chí hiện diện trong mọi hàng ngũ dân tộc, hoạt động trong mọi lãnh vực, để cải thiện cuộc sống của đồng bào, để phục vụ những quyền lợi tối thượng của đất nước.

    Những cuộc đấu tranh ấy diễn tiến dưới mọi hình thức: hoặc ôn hòa hoặc bạo động, bí mật, hoặc công khai, mà hiệu quả đã dẫn tới sự thành công trong mục tiêu thực hiện một chính đảng lớn mạnh trong toàn quốc, và góp phần hữu hiệu trong việc tranh thủ độc lập và dân chủ cho xứ sở.

    Khả năng đặc biệt của Đảng đã được chứng tỏ trong sự kiện nêu cao tinh thần yêu nước và ý chí bất khuất của dân tộc trước cường quyền đô hộ, trước bạo lực thống trị, trước mọi sát khí của kẻ xâm lăng. Khả năng của Đảng cũng đã đánh thắng mọi trở lực để thực hiện và kiện toàn Đại Việt Cách Mạng Đảng kế tục truyền thống của Đảng Trưởng Trương Tử Anh, thể hiện trong kỳ Đại hội Toàn Đảng kỳ I ngày 25-12-1965 nhằm phát huy truyền thống cách mạng, đưa tới quyết tâm thực hiện lý tưởng dân chủ của Đảng trong Đại hội Toàn Đảng kỳ II ngày 4-1-1970 tại Thủ đô Sài-gòn và tiếp tục thể hiện ý chí kiên cường sắt son với dân tộc, với đất nước trong Đại hội Toàn Đảng kỳ III ngày 24-11-1995 tại Hoa Kỳ.

    Tìm hiểu về Đảng sử để thấy sự gắn bó hữu cơ giữa một tổ chức cách mạng quốc gia với một dân tộc có quá trình lịch sử đầy hiển hách mà cũng lắm thương đau, rút được những bài học quá khứ để chuẩn bị cho những bước đường trong tương lai, bài học của bạn cũng như của kẻ thù.

  Giai đoạn tiên khởi

             * Bối cảnh lịch sử
             * Khai sinh lực lượng

    Vào thời kỳ từ năm 1930 đến 1939, lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng kiến nhiều biến cố quan trọng về chính trị, kinh tế và xã hội có liên hệ đến công cuộc đấu tranh giành độc lập của các đảng cách mạng quốc gia. Cuộc khởi nghĩa thất bại của Việt Nam Quốc Dân Đảng tháng 2-1930 đưa đến cái chết của 13 liệt sĩ trên đoạn đầu đài chứng tỏ thực dân Pháp vẫn cứng rắn trong chính sách đàn áp sắt máu của họ. Phong trào Xô-Viết Nghệ Tĩnh do Cộng Sản phát khởi ngày 1-5-1930, lợi dụng các tầng lớp nông dân, công nhân nổi dậy tiêu diệt các cơ cấu chính quyền thuộc địa, thành lập các xô-viết (ủy ban) cho các mục tiêu chính trị manh động của họ cũng bị dẹp tan. Các phần tử cách mạng bị thủ tiêu, giam cầm hay im hơi lặng tiếng hoặc bôn tẩu ra ngoại quốc. Ở Nam Việt, nhóm Cộng Sản Đệ Tứ như Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch, Phan Văn Hùm hoạt động qua các cuộc ứng cử vào các hội đồng thành phố. Năm 1932, Bảo Đại về nước chấp chánh, sau đó đưa ông Ngô Đình Diệm làm Thượng Thư Bộ Lại, đứng đầu Hội Đồng Cải Cách để mong lấy lại chủ quyền quốc gia trong tay người Pháp, nhưng chương trình đó đã thất bại. Sự thành công của cánh tả tại Pháp với Mặt Trận Bình Dân (Front Populaire) lên cầm quyền (1936-39) có làm đổi thay ít nhiều không khí chính trị tại nước ta nhưng cũng không mở ra nhiều triển vọng tốt cho con đường đấu tranh của người Việt Nam yêu nước. Tên Việt Nam, được gọi thường ngày là An Nam hoặc Xứ Đông Pháp hay Đông Dương thuộc Pháp (Indochine Francaise) hoặc Liên Bang Đông Dương (Fédération Indochinoise), cơ hồ biến mất trên bản đồ đất nước. Khuynh hướng chính trị tư sản của nhóm Tự Lực Văn Đoàn cũng bước đầu đặt cơ sở cho tiến trình cải cách xã hội, vận động nâng cao dân trí. Cuộc sống của người dân nói chung vẫn quá cơ cực vì thuế má nặng nề nhất là đại đa số nông dân. Năm 1938, Bảo Đại cùng với Thượng Thư Phạm Quỳnh sang Pháp để vận động người Pháp thực hiện sự hợp nhất Trung Kỳ và Bắc Kỳ nhưng cũng không thu được kết quả khả quan. Trong lúc các hoạt động chính trị cứu nước cơ hồ bị lắng động thì những phần tử thanh niên đã trỗi dậy, khởi đầu từ những sinh viên Việt Nam là những thành phần ưu tú quả cảm của dân tộc. Người xướng xuất ra công cuộc cách mạng mới là một sinh viên Luật khoa Đại Học Hà Nội: Anh TRƯƠNG TỬ ANH.

    Anh Trương Tử Anh sinh năm Giáp Dần (1914), tên là Trương Khán, bí danh Phương, thường gọi Cả Khán hay Cả Phương. Sau này vì sự hoạt động gan góc, kiên trì của anh nên anh còn được gọi là Khán Lỳ. Dòng tộc của anh vốn gốc Thanh Hóa theo bước chân Nam tiến từ đầu thế kỷ 17, vào định cư tại làng Mỹ Thạnh (Trung), xã Hòa Phong, quận Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Ông nội anh là cụ Trương Chính Đường đỗ Hương thí năm 1852, sáng lập Hội Văn-Phổ Phú Yên, có tham gia Phong Trào Cần Vương. Thân sinh anh là cụ Trương Bội Hoàng và thân mẫu là bà Nguyễn Thị Miên; gia đình gồm có 10 người con mà Trương Tử Anh là con cả. Thuở nhỏ Trương Tử Anh học bậc tiểu học tại Trường Phủ ở Thị xã Tuy Hòa hàng ngày có dịp làm quen với các tài liệu sách báo cách mạng trong gia đình của cụ thân sinh. Lớn lên Trương Tử Anh theo học bậc trung học tại Quy Nhơn rồi Huế vốn là những nơi có các phong trào yêu nước bùng nổ. Năm 1934, Trương Tử Anh ra Hà Nội theo học đại học Luật khoa để rồi từ đó dấn thân vào con đường cách mạng.

    Trường Đại Học Hà Nội do Toàn quyền Beau (1902-1908) sáng lập năm 1908, mục đích để cầm giữ sinh viên khỏi tham gia Phong Trào Đông Du hay nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục do các nhà cách mạng Việt Nam phát động trong đầu thế kỷ 20. Bị Toàn quyền Klobukowski đóng cửa cũng trong chính năm 1908 vì sinh viên VN vẫn cứ theo các trào lưu cách mạng, trường Đại Học Hà Nội được mở cửa lại vào năm 1911 dưới thời Toàn quyền Albert Sarraut. Đây là nơi quy tụ sinh viên của toàn cõi Đông Dương (Việt, Miên, Lào) nên cũng là môi trường cách mạng thuộc nhiều khuynh hướng chính trị của lớp người trẻ Việt Nam.

    Sau khi điều nghiên sâu rộng các tài liệu chính trị đương thời, anh Trương Tử Anh đã cương quyết đánh đổ ngụy thuyết Cộng Sản và ngụy thuyết Quốc Xã mặc dầu đó là những lý thuyết thịnh hành lúc bấy giờ. Anh quan niệm cứu cánh của dân tộc không thể dựa trên căn bản những chủ thuyết nhập nội mà lý luận không đứng vững, sự thực hiện không tương hợp với bản năng của nòi giống, không đề cao được tinh thần tự quyết của dân tộc khi hướng về một chủ đích đấu tranh giải phóng. Trong những trang bút tích còn để lại, Trương Tử Anh đã nhận xét rằng: "Mỗi nước trên thế giới đều có một hay nhiều dân tộc khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, có một trình độ văn hóa khác nhau và phong tục, tập quán, tín ngưỡng hoàn toàn khác nhau. Một chủ nghĩa chính trị muốn được thành công tất phải căn cứ vào những yếu tố kể trên mới mong được dân chúng ủng hộ và có thể đem ra áp dụng được..." và anh khẳng định: "...Các chủ nghĩa đã xuất hiện trên thế giới đều không thích hợp với dân tộc ta..." (Nguyên văn bút tích năm 1936 của Đảng Trưởng Trương Tử Anh)). Vì thế anh Trương Tử Anh đã sáng tạo ra chủ thuyết dân tộc sinh tồn; một chủ thuyết tiến bộ, hoàn hảo áp dụng nguyên lý sinh tồn vào cuộc sống đại chúng, xây dựng khả năng, tạo lập sức mạnh, củng cố cộng đồng để mưu cầu sự sống còn và cường thịnh của Quốc Gia.

    Ngày 10 tháng 12 năm 1938 là thời điểm mở đầu đảng sử và là ngày chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn được công bố, đưa thuyết quốc gia vào con đường cao tột của ý niệm dân chủ và xã hội. Để thực hiện chủ thuyết và ước vọng cứu quốc, anh Trương Tử Anh đã khổ công hơn một năm trời chiêu mộ những bạn đồng chí để cùng thành lập ra một tổ chức cách mạng với danh xưng là đại việt quốc dân đảng. Cơ cấu Trung Ương đầu tiên gồm các đồng chí: Nguyễn Tiến Hỷ, Nguyễn Sĩ Dinh, Phạm Cảnh Hoàn, Trương Bá Hoành, Đặng Vũ Trứ, Nguyễn Sơn Hải, Tạ Thành Châm, Phan Bá Trọng, Nguyễn Tôn Hoàn, Nguyễn Định Quốc, Võ Văn Hải, Nguyễn Văn Viễn, Đặng Xuân Tiếp, Giáo Lai, BS San. Một bản tuyên ngôn đã được soạn thảo và phổ biến theo lối chuyền tay dưới hình thức một tập sách luân lưu nội dung trình bày bản sắc của dân tộc, với đoạn trích như "Những cảnh vinh nhục nối tiếp nhau biến hiện trên giải đất Đại Việt này, đã hun đúc dân ta thành một dân tộc già dặn, bền bỉ, đủ sức đối chọi với mọi cảnh ngộ. Lúc hưng thịnh thì lên cao tuyệt vời mà lúc suy vi thì vẫn giữ nguyên được cái bản sắc đặc biệt để cho khi cuộc quật khởi lại càng hùng mạnh hơn xưa.", hoặc nói lên trạng huống khốn khổ của Việt Nam dưới ách thực dân thống trị, như "Già nửa thế kỷ dưới quyền thống trị của đế quốc Pháp. Nước ta bị coi là một kho nguyên liệu, một thị trường tiêu thụ và một lò nhân công rẻ tiền. Họ vơ vét sạch các nguồn lợi, lại giam hãm dân tộc ta trong vòng lạc hậu về văn minh, kỹ nghệ. Đến như nghề Nông là nghề căn bản của nền kinh tế quốc gia cũng hết đường phát triển, trình độ phát triển của dân ta vì thế càng ngày càng thấp kém." Bản Tuyên ngôn nêu ra những diễn biến về tình hình quốc tế thuận tiện cho một cuộc vùng dậy cởi ách ngoại xâm, đề cao những nét chính của chủ nghĩa và giải thích ý nghĩa danh xưng của Đảng: "Hai tiếng Đại Việt nêu cao cái ý chí tự cường, tự lập và cái hùng tâm muốn cho quốc gia mạnh mẽ lên và bành trướng mãi ra. Ba chữ Quốc Dân Đảng tỏ rằng Đảng này không phải của riêng giới nào, mà là của toàn thể dân tộc." rồi sau đó đưa ra một chương trình kiến thiết Tổ Quốc Đại Việt.

    Đảng kỳ là nền đỏ, vòng tròn xanh, ngôi sao trắng.
    Đảng ca là bài Cờ Sao Trắng.
    Một cuốn sách nhỏ thứ hai dành riêng cho đảng viên chỉ dẫn về cách tổ chức và phương pháp sinh hoạt của Đảng với đơn vị căn bản là chi bộ rồi lên đến khu bộ và cao hơn hết là Trung Ương Đảng. Phép tổ chức là của một Đảng cách mạng bí mật, nguyên tắc phân cách các đơn vị được ghi chú cẩn thận. Chức vụ lãnh đạo cơ sở hạ tầng được luân phiên trao cho các đồng chí để mọi người trở nên thành thạo với đảng vụ. Kỷ luật Đảng trong thời đó rất cứng rắn, chấp nhận cả hình phạt tối đa là tử hình đối với những phần tử phản quốc và phản Đảng.

Giai đoạn 1939-1945

            * Bành trướng tổ chức
            * Nấu sôi tinh thần vị quốc
            * Chuẩn bị thế đấu tranh

    Để bành trướng cơ sở, Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ được tổ chức thành ba Xứ Bộ như với thành phần như sau:
    Xứ Bộ Bắc Việt trực thuộc Trung Ương Đảng do Đảng Trưởng Trương Tử Anh lãnh đạo với sự phụ tá của Đ/c Đặng Vũ Lạc, gồm các cán bộ nồng cốt như : Ngô Gia Hy, Đặng Văn Sung, Trần Trung Dung, Nguyễn Đình Luyện, Đặng Trinh Kỳ, Vũ Quý Mão, Cung Đình Quỳ, Trần Như Thuần, Nguyễn Hữu Trí, Lê Thăng, Nguyễn Dương Đôn, và 2 nữ Đ/c là Đặng Thị Khiêm tức Bà Cả Tề và Bà U (kế mẫu của Đ/c Ngô Gia Hy). Ngoài những cán bộ trên, còn một thế hệ cán bộ trẻ hơn như Đào Nhật Tiến, Nguyễn Tất Ưng, Trần Kim Phượng, Vũ Văn Phấn, Vũ Đức Hải, Lê Đức Hợi, Bùi Diễm v.v...

    Xứ Bộ Trung Việt do Đ/c Bác sĩ Bửu Hiệp làm Xứ Trưởng và Đ/c Hà Thúc Ký phụ tá với thành phần Ban chấp hành gồm các Đ/c Bửu Viêm, Nguyễn Văn Mân, Hoàng Xuân Tửu, Võ Lương, Bảo Trọng, Dương Thiệu Di ...
  
 Xứ Bộ Nam Việt trước do Đ/c Nguyễn Văn Hướng (bí danh Phạm Huy Lễ hay Mười Lễ) phụ trách, về sau Đ/c Phan Thông Thảo tức Lê Quốc Hưng thay thế. Ban chấp hành đầu tiên gồm các đồng chí Lê Văn Hiệp, Phạm Đăng Cảnh, Trần Văn Xuân, Nguyễn Văn Kiểu. Riêng Đ/c Nguyễn Tôn Hoàn được Trung Ương giao trách nhiệm phối hợp viên của các Xứ Bộ.

    Một cơ sở mệnh danh là Chi Bộ Đảng Trưởng hình thành tại tỉnh Phú Yên gồm một số nam nữ thanh niên tham gia sinh hoạt Đảng.

    Vào năm 1940, các cán bộ hầu hết là sinh viên được phái đi khắp nơi trong nước với những nhiệm vụ:

    - Tổ chức những trại hè để tiếp xúc với học sinh, sinh viên và lôi cuốn những thành phần thanh niên vào Đảng, ít nhất cũng làm cho họ thức tỉnh trước cuộc sống nô lệ ngoại bang.
    - Mở chiến dịch về làng mật đàm với quần chúng xã ấp khơi động và nấu sôi tình yêu nước.
    - Đề ra phong trào nghiên cứu lịch sử để nâng cao uy danh các anh hùng liệt sĩ; chiêu mộ lòng dân hướng về công cuộc đấu tranh cách mạng do Đảng chủ xướng.

    Trong giai đoạn tiên khởi này, các đồng chí của Đảng tập trung nỗ lực vào chủ đích phá vỡ chiến dịch ru ngủ dân bị trị của tập đoàn Decoux-Ducouroy. Trong thế chiến II, Nhật Bản là đồng minh của Đức và Ý ở Đông Nam Á. Ngày 20-6-1940, Toàn Quyền Pháp là Đô Đốc Decoux thay thế Catroux nhậm chức tại Đông Dương. Một thỏa ước được ký giữa chính quyền Pháp và tướng Nhật Nishihara cho phép Nhật đóng 6,000 quân ở mạn bắc sông Hồng và không quá 25,000 quân trên toàn cõi Đông Dương. Ngày 22-9-1940, quân Nhật tấn công Pháp ở Đồng Đăng và Lạng Sơn để dằn mặt người Pháp tại Đông Dương và họ muốn người Pháp cộng tác với họ để bòn rút tài nguyên nước ta. Lúc bấy giờ một phong trào thể thao do Ducouroy, Thiếu Tá Hải quân Pháp, phát động theo chỉ thị của Toàn quyền Decoux, dùng các hình thức thể thao như bóng đá, biểu diễn thể dục, đua xe đạp, bơi lội v.v... để lôi cuốn thanh niên Việt Nam ngõ hầu họ khỏi lưu ý đến các hoạt động cách mạng. Phát động ý thức căm thù giữa quần chúng với thực dân Pháp, sinh viên của Đảng đã liều lĩnh tổ chức những cuộc đánh chòm, đánh lẻ và đánh lén nhằm vào bọn cai trị Pháp và tay sai khiến người Pháp phải kinh hoàng trước sự trỗi dậy ngấm ngầm của người Việt, bởi vậy chúng tìm cách truy nã và đàn áp dữ dội các đồng chí của Đảng. Trong thời gian này, Pháp lại dung dưỡng sự hoạt động của Đông Dương Cộng Sản Đảng và những cán bộ của tổ chức này lại cộng tác với Pháp như những nhân viên mật vụ khiến Đảng rơi vào thế gọng kềm phủ đầu là Thực dân và Cộng Sản. Một thí dụ điển hình là trong những năm 30, Võ Nguyên Giáp, Đặng Thái Mai vốn là những kẻ được Louis Marty, Chánh mật thám Pháp tại Đông Dương che chở và ban phát những ưu đãi đặc biệt.

    Năm 1942, mật thám Pháp ở Hà Nội bắt được Trương Tử Anh và tra tấn dã man, đã nhiều lần Đảng Trưởng phải giả hôn mê và giả chết, sau đó chúng đày anh lên Hòa Bình rồi lại trả về nguyên quán Phú Yên để quản thúc. Tại đây Đảng Trưởng đã trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh của 20,000 nông dân Phú Yên chống lại tập đoàn tư bản Pháp - Hòa Lan trong Công Ty Đường (Société Sucrière d'Annam) rồi lại trở ra Hà Nội.

    Tháng 7-1943, Trương Tử Anh lại bị Pháp bắt giam nghiêm nhặt tại Hà Nội khiến các cơ sở Đảng bị lung lay nhưng liền sau đó Đảng đã tổ chức cứu thoát được anh khi anh bị tra tấn đến thọ bệnh phải đưa tới điều trị tại nhà thương Cống Vọng gần Hà Nội.

    Đầu năm 1944, Đảng Trưởng cử hai đồng chí cao cấp là Nguyễn Sĩ Dinh và Phạm Cảnh Hoàn (tức Phạm Hy Tống) phối hợp với Nguyễn Tường Long (Đại Việt Dân Chính), Nguyễn Xuân Tiếu (Đại Việt Quốc Xã), một số lãnh tụ của Đại Việt Duy Dân, Tân VNQDĐ gồm Ngô Thúc Địch, Nhượng Tống, Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Thế Nghiệp để thành lập tổ chức Đại Việt Quốc Gia Liên Minh. Nguyễn Xuân Tiếu được cử làm Chủ Tịch Liên Minh này. Liên Minh đã hoạt động rất mạnh mẽ ở nhiều nơi nhất là tại Bắc Việt nhưng về sau vì không đồng ý với Nguyễn Xuân Tiếu trong chủ trương đứng về phe Nhật để cướp chính quyền, một số anh em Đại Việt QDĐ rút ra khỏi mặt trận và lui về củng cố lại chiến khu Bắc Giang.

    Cuối năm 1944 và đầu năm 1945, cuộc tranh chấp giữa Pháp và Nhật trở nên gây cấn, Trung Ương Đảng đã tổ chức một bộ phận riêng để giao thiệp với người Nhật với mục đích kêu gọi sự tán trợ cho công cuộc kháng Pháp của Đảng nhưng Đảng không chịu sự cộng tác với Nhật trong chính sách Đại Đông Á, và Đảng tiên liệu quân đội Nhật sẽ phải thất trận.

    Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp và hai ngày sau Bảo Đại tuyên bố nước Việt Nam độc lập và ngày 17-4-1945, chính phủ Trần Trọng Kim ra đời.

Giai đoạn 1945-1951

            * Lập thế Quốc Gia
            * Chiến đấu trong khó khăn nhưng kiêu hùng với lý tưởng.    
             
    Trong thời gian chính phủ của học giả Trần Trọng Kim nắm quyền, Đảng Trưởng đã cử đ/c Bùi Diễm liên lạc để thiết lập sự yểm trợ lẫn nhau và cụ Trần Trọng Kim đã tìm thấy nơi Đảng Trưởng một con người dễ hòa hợp và là đồng minh có thể tin cậy được.

    Sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh ngày 15-8-1945, nội các Trần Trọng Kim đổ sau mấy tháng nỗ lực làm việc bằng tinh thần và thiện chí của những tấm lòng quốc gia chân chính. Ngày 19-8-1945, Việt Minh cướp chính quyền tại Hà Nội và dần dần trong cả nước. Những nguyên nhân làm cho họ thắng lợi là nhờ ở thủ đoạn xảo quyệt của họ trong việc che dấu lý lịch Cộng Sản, đàng khác nhờ sự trợ giúp của người Pháp cho họ được tự do hoạt động từ các năm về trước, sự đánh lừa lực lượng Đồng Minh chủ yếu là người Mỹ trong những ngày trước khi Nhật Bản đầu hàng và sự toa rập giữa Pháp và Việt Minh để đàn áp và cầm chân Đại Việt trong mấy năm liền.

    Khi đất nước khởi sự lọt vào tay Cộng Sản, Đảng lập tức huy động lực lượng để tạo lập một thế Quốc Gia chân chính với mục đích phản công Cộng Sản và xây dựng một chính phủ kháng chiến quốc gia có đường lối ngoại giao thích hợp để được sự ủng hộ của thế giới tự do.

    Trong thời kỳ từ đầu năm 1945 đến tháng 7, 1946, Đảng đã nỗ lực thực hiện các công tác đảng vụ có tính cách lịch sử như sau.

    Về phương diện quân sự, với số lượng đồng chí trẻ tuổi hăng say gia nhập Đảng ngày càng đông, Đảng phải áp dụng lối huấn luyện ồ ạt và cấp bách. Quan trọng nhất là Đảng đã thành lập Trường Lục Quân Yên Bái hay Đại Việt Lục Quân Sĩ Quan Học Hiệu do một Đại Tá Nhật Bản tên ông Hùng hay San Hùng làm Hiệu Trưởng để thu nhận hết các sinh viên sĩ quan của Mặt Trận Quốc Dân Đảng gồm cả Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Dân Chính, kể cả Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, với chương trình học trong 6 tháng, do các sĩ quan người Nhật dạy. Con số sinh viên lên khoảng 500 người trong hai năm 1945-46. Ngoài ra Đảng cũng còn tổ chức Trường Sĩ Quan Lạc Triệu do Đ/c Triệu Giang tức Phạm Cao Hùng, một sĩ quan tốt nghiệp Trường Hoàng Phố, đã từng phục vụ trong quân đội Trung Hoa Dân Quốc hàm Trung Tá, do Đảng Trưởng cử làm Tổng Tư Lệnh Chiến Khu Lạc Triệu kiêm chỉ huy trưởng trường này. Một trung tâm huấn luyện dành cho hạ sĩ quan và binh sĩ cũng đóng ở Lạc Triệu do Đ/c Đội Vấn và Đ/c Vũ Đình Huyên phụ trách.

    Về phương diện chính trị, tháng 5-1945, tại Trùng Khánh, đại diện của Đại Việt Quốc Dân Đảng gồm các đồng chí Nguyễn Tiến Hỷ, Đặng Vũ Trứ, Phạm Cảnh Hoàn, Nguyễn Định Quốc, Nguyễn Sĩ Dinh, Phan Bá Trọng, Võ Văn Hải cùng đại diện VNQDĐ gồm các ông Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ, Vũ Quang Phẩm và đại diện Đại Việt Dân Chính, Nguyễn Tường Tam, đã cố gắng làm một cuộc kết hợp các lực lượng chính trị quốc gia để hành động chung khi hữu sự.

    Ngày 15-12-1945, do nhu cầu của tình thế cực kỳ nghiêm trọng phải công khai đối chọi với Việt Minh, các chính đảng kể trên đã thống nhất thành một lực lượng gọi tên là Mặt Trận Quốc Dân Đảng với thành phần như sau:

    - Chủ Tịch Mặt Trận Quốc Dân Đảng : Trương Tử Anh (ĐVQDĐ)
    - Tổng Thư Ký: Vũ Hồng Khanh (VNQDĐ)
    - Các Ủy viên: Xuân Tùng (VNQDĐ), Nguyễn Tường Long (ĐVDCĐ), Phạm Khải Hoàn (ĐVQDĐ).
    - Bí Thư Trưởng : Nguyễn Tường Tam (ĐVDCĐ)
    - Các Ủy viên: Nguyễn Tường Bách (ĐVDCĐ), Chu Bá Phượng (VNQDĐ), Nguyễn Văn Chấn (VNQDĐ), Vũ Đình Trí (VNQDĐ), Nghiêm Kế Tổ (VNQDĐ), Phạm Văn Hể (VNQDĐ), Phạm Ngọc Chi (ĐVQDĐ), Nguyễn Tiến Hỷ (ĐVQDĐ).

    Cờ của Mặt Trận là nền đỏ, vòng xanh, sao trắng tức đảng kỳ của ĐVQDĐ và chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn đã được các thành viên Mặt Trận chấp nhận làm ý thức hệ để chống lại với chủ nghĩa Cộng Sản. Đảng Ca cũng là bài Cờ Sao Trắng của Đại Việt Quốc Dân Đảng.

    Mặt Trận Quốc Dân Đảng còn có một bộ phận bí mật gọi tên là Tối Cao Bí Mật chỉ huy gồm có: Trương Tử Anh, Nguyễn Tiến Hỷ, Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ, Nguyễn Tường Tam.

    Trụ sở công khai của Mặt Trận đặt tại trường Tiểu học Đỗ Hữu Vị, Hà Nội.

    Các cơ quan ngôn luận của Mặt Trận Quốc Dân Đảng gồm có: Tại Hà Nội có tờ Việt Nam, Đồng Minh, Chính Nghĩa (Tuần báo), Đuốc Việt, Thanh Niên, Sao Trắng.

    Mặt Trận Quốc Dân Đảng đã công khai vạch trần các âm mưu xảo quyệt của Việt Minh Cộng Sản trước dư luận quần chúng và thế giới và đã hoạt động rất hữu hiệu tại hầu hết các tỉnh Bắc Việt vào cho tới Quảng Nam, Quảng Ngải. Nhiều cuộc xung đột vũ trang, tuyên truyền đã xảy ra giữa Mặt Trận Quốc Dân Đảng với lực lượng công an của Việt Minh.

    Về sau, sự kiện thống nhất này bị phá vỡ với nhiều ý kiến bất đồng khi anh em chiến hữu Việt Quốc do áp lực của Trung Hoa Dân Quốc đã tham gia chính phủ liên hiệp của Hồ Chí Minh và ký hiệp ước sơ bộ 6-3-1946. Từ đó Đảng đơn phương ở thế trực diện chống Cộng.

    Trong năm 1945, các đồng chí Phạm Cao Hùng, Nguyễn Tấn Thành, Phạm Đăng Cảnh và Trần Văn Xuân nhận chỉ thị của Đảng Trưởng vào Nam tổ chức cơ sở, thành lập chiến khu Bình Thung (Chợ Lớn, Thủ Thiêm, Thủ Đức). Anh em đã kết nạp được một số nhân vật nổi tiếng như các ông Phan Khắc Sửu, Nguyễn Hòa Hiệp và các anh em hảo hán như Ba Dương, Tư Tỵ (Bình Xuyên), thành lập Đệ Tam Sư Đoàn (Chỉ Huy Trưởng là Nguyễn Hòa Hiệp) và Bộ Đội An Điền do anh Bùi Hữu Phiệt chỉ huy lập được nhiều chiến công hiển hách.

    Đến giai đoạn chống đối quyết liệt với Cộng Sản, Đảng đã phải nêu cao ngọn cờ kháng chiến, võ trang cho anh em đồng chí, tập họp thành lập nhiều chiến khu phòng thủ xem như những căn cứ, đẩy tung mạnh hoạt động ra quần chúng ở thành thị cũng như ở nông thôn như chiến khu Kép thuộc tỉnh Bắc Giang có quốc lộ 1 và thiết lộ từ Lạng sơn về Hà Nội, do đ/c Vũ Đình Huyên chỉ huy, chiến khu Di Linh thuộc huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa do đ/c Trần Hồ lãnh đạo và ở khắp các khu vực miền Trung-du và Thượng-du Bắc Việt đều có đặt các cứ điểm của Đảng.

    Tại Hà Nội, nơi Việt Minh đặt chính quyền Trung Ương, Đảng đã hoạt động tích cực hơn hết để chuẩn bị việc lật đổ cơ sở đầu não Cộng Sản, kế hoạch là tấn công liên tiếp về chính trị và cướp chính quyền từng khu vực.

    Nhưng một lần nữa Đại Việt đã vấp phải trở lực lớn lao, sự liên minh bỉ ổi giữa Việt Minh với Pháp. Với hiệp ước Sơ bộ 6-3-1946, Cộng Sản đã rước quân Pháp đổ bộ lên Bắc Việt, gây thế ỷ dốc cho chúng trong hành động tiêu diệt Đại Việt và các đoàn thể quốc gia khác. Ngày 12-7-46, Cộng Sản ngụy tạo vụ Ôn Như Hầu (Hà Nội) vu cáo cho Quốc Dân Đảng lập hắc điếm để thủ tiêu dân lành và sau đó dàn dựng vụ cầu Chiêm Sơn (Quảng Nam) là QDĐ tại đây cố ý phá cầu sắt hỏa xa cướp võ khí trong chiến dịch Nam Tiến để lấy cớ thanh toán các thành viên của Mặt Trận Quốc Dân Đảng. Việt Minh với sự hỗ trợ của quân đội Pháp đã tấn công vào các chiến khu của Đại Việt khiến một phần lực lượng của Đảng bị tử trận, một phần rút sang Tàu, phần còn lại trong nước phải phân tán mỏng và lui về thế bí mật.

    Các biến cố xảy ra mà hậu quả là Đảng bị thực dân Pháp và Việt Minh Cộng Sản đàn áp đã chứng tỏ rằng con đường cách mạng quốc gia do Đảng chủ xướng là con đường duy nhất để cứu nước nên những kẻ thù của dân tộc phải cấu kết nhau lại để đối phó với Đảng.

    Sau khi các chiến khu của Đảng bị phá vỡ thì các lực lượng quốc gia không còn là mối nguy cơ cho Thực-Cộng nữa, nên Việt Minh và Pháp trở lại mâu thuẫn nhau, và Việt Minh đã tấn công Pháp vào tối 19-12-1946 để rồi chiến tranh xảy ra toàn diện. Chiều ngày 19-12-1946, một số anh em đồng chí được sinh hoạt với Đảng Trưởng Trương Tử Anh lần cuối, và sau đó anh mất tích vĩnh viễn. Báo chí Cộng Sản cách đây hơn 10 năm (năm 1987) có đề cập đến việc Sở công an Bắc Việt hồi cuối năm 1946 có bắt giữ Đảng Trưởng Trương Tử Anh và giam tại xà lim Hỏa Lò Hà Nội rồi thủ tiêu anh sau đó. Ngày Đảng Trưởng Trương Tử Anh mất tích là ngày khởi đầu cho cơn quốc loạn bi thảm; tinh thần của sinh viên cách mạng Trương Tử Anh và chủ nghĩa do anh sáng tạo vẫn còn mãi trong lòng các đảng viên Đại Việt và còn mãi trong lịch sử dân tộc.

    Lịch sử phải ghi nhận rằng Đảng không hề lùi bước trước gian nguy và cuộc đấu tranh cách mạng của Đảng luôn luôn được nối tiếp kiêu hùng. Sau ngày Đảng Trưởng mất tích, các cơ sở của Đảng vẫn tiếp tục hoạt động giữa khói lửa, trong giai đoạn này thanh thế của Đảng bành trướng mạnh ở miền Nam và miền Trung.

    Tại miền Trung dưới sự lãnh đạo của Xứ Ủy Trưởng là Bác Sĩ Bửu Hiệp và phụ tá là đồng chí Hà Thúc Ký, các bộ phận của Đảng sinh hoạt rất chặt chẽ, phần thì tham gia kháng chiến chống Pháp vừa gây thế chống Cộng trong hàng ngũ kháng chiến; phần thì Đảng cho cán bộ len lỏi ở vùng bị chiếm để tổ chức cơ sở. Mặc dầu trong thế bí mật nhưng cuối năm 1946 vì các cuộc vận động cướp chính quyền của Đảng tại các tỉnh miền Trung (dưới quyền kiểm soát của Việt Minh Cộng Sản) bị tiết lộ nên có hàng ngàn đồng chí đảng viên Đại Việt bị bắt giam tại các nhà lao Ba Tơ (Quảng Ngải) và Bến Hới, Trại Đưng (Nghệ An), trong số có gần 90% bị Cộng Sản thủ tiêu.

    Tại miền Bắc, sau khi anh em đồng chí thất tán các nơi, Bác sĩ Đặng Vũ Lạc lại đứng lên tập họp số còn lại ở Hà Nội, đã đánh nước cờ với giải pháp Bảo Đại nhưng đa số các bộ phận của Đảng tại các tỉnh Bắc Việt đều đứng ngoài lề thời cuộc để chờ quyết định mới và chính thức của Đảng. Bác sĩ Đặng Vũ Lạc tốt nghiệp Y khoa tại Pháp, có dưỡng đường tại Hà Nội là một bệnh viện tư lớn có tiếng lúc bấy giờ. Ông quê làng Hành Thiện, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định cùng chung thủy tổ với Trường Chinh (Đặng Xuân Khu). Con của BS Đặng Vũ Lạc là Đặng Vũ Trứ là một cán bộ cao cấp của Đảng sinh hoạt với Đảng Trưởng Trương Tử Anh, từng có những cống hiến lớn lao cho cách mạng. Đ/c Đặng Vũ Trứ bị CS bắt cóc ở Hà Nội để làm áp lực với BS Đặng Vũ Lạc nhưng không được nên chúng thủ tiêu ở Phú Thọ năm 1947. Trường Chinh cũng cho lệnh thủ tiêu 7 người thanh niên trí thức trong dòng tộc Đặng Vũ. Khi Đảng mới thành lập, BS Đặng Vũ Lạc đã giúp đỡ mua vũ khí đạn dược trang bị cho anh em, đã cưu mang rất nhiều anh em đồng chí trong những thời kỳ khó khăn. Sự hy sinh và uy tín của ông làm cho anh em cảm phục và chấp nhận sự chỉ huy của ông sau khi Đảng Trưởng thất tung. Tháng 10-1948, Bs Đặng Vũ Lạc mất vì bệnh lao.

    Tại Nam Việt, năm 1947 Đảng thành lập công khai một tổ chức ngoại vi có tên Thanh Niên Bảo Quốc Đoàn, do đồng chí Đỗ Văn Năng lãnh đạo và thu hút được sự hưởng ứng đông đảo của đồng bào các giới ở Saigòn. Đ/c Đỗ Văn Năng gốc Chợ Lách, Vĩnh Long, có tân học lại giỏi võ nghệ có chân trong Đảng S.F.I.O tức Đảng Xã Hội Pháp. Thủ Tướng Nguyễn Văn Xuân cũng thuộc đảng này nên đã cấp giấy phép cho Thanh Niên Bảo Quốc Đoàn hoạt động. Đoàn kỳ là nền vàng ba ngôi sao xanh ở góc trái. Tổ chức này bành trướng mạnh trong các tỉnh Nam Việt và đến năm 1949 phát triển trong cả nước. Sau khi Đ/c Đỗ Văn Năng bị CS ám sát vào tháng 10-1950, tổ chức này do đ/c Trần Văn Xuân (Xuân Râu) lãnh đạo.

    Tại Bắc Việt, Thanh Niên Bảo Quốc Đoàn do đ/c Vương Hữu Đức (tức Đặng Đình Tích) làm Thủ lãnh có trụ sở tại số 48 phố Hàng Ngang Hà Nội và cơ sở bành trướng khắp phố phường, thôn ấp. Nhân vụ một đoàn viên Thanh Niên Bảo Quốc ném lựu đạn ám sát tướng Chanson của Pháp khi đi kinh lý Sa Đéc vào giữa năm 1951, do chỉ thị của Tướng De Lattre de Tassigny, Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm ký nghị định giải tán tổ chức này, bắt giam anh Trần Văn Xuân tại khám Hỏa Lò Hà Nội, khủng bố nhiều đảng viên tại Sàigòn và một số tỉnh miền Bắc, nên tổ chức bị tan dần.

    Ngày 9 tháng 9 năm 1947, Hội Nghị Hương Cảng do Cựu Hoàng Bảo Đại triệu tập mục đích hình thành một thể chế quốc gia nhằm tranh thủ độc lập trong tay người Pháp và diệt trừ Cộng Sản, có sự tham dự của các Đ/c Nguyễn Tôn Hoàn, Nguyễn Văn Kiểu, và các nhân vật tên tuổi như Ngô Đình Diệm, Trần Văn Tuyên, Nguyễn Tường Tam, Đinh Xuân Quảng, Phạm Văn Bính, Phan Văn Giáo, Lê Văn Hoạch, Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, Trần Văn Soái, Nghiêm Xuân Việt, Nghiêm Xuân Thiện, Hoàng Hùng, Nguyễn Phước Hậu, Trần Quang Vinh, Phan Huy Đán... Hội Nghị cử ông Nguyễn Văn Xuân, Thiếu Tướng trong Quân đội Pháp làm Thủ Tướng.

    Đầu năm 1948 liên lạc được bắt lại giữa Trung Nam Bắc và một tổ chức Trung Ương Đảng được thành lập tại Hà Nội vào cuối năm 1950. Một Hội Đồng Chỉ Đạo Trung Ương gồm các đồng chí: Nguyễn Đình Luyện (Đại diện Xứ Bộ Bắc Việt), Hà Thúc Ký (Đại diện Xứ Bộ Trung Việt) và Nguyễn Tôn Hoàn (Đại diện Xứ Bộ Nam Việt) đã được bầu lên để lãnh đạo và điều hành công tác Đảng. Để tránh sự ngộ nhận khi anh em Việt Quốc sử dụng luôn đảng kỳ của Đại Việt, nên Đảng đã quyết định thay đổi đảng kỳ thêm vào một phần vàng giữa nền đỏ, và chọn bài Việt Nam Minh Châu Trời Đông (do Nhạc sĩ Hùng Lân sáng tác trong thời gian ở tù, cố ý tặng các đồng chí Đại Việt cùng ở tù chung với nhạc sĩ) làm đảng ca.

    Trong giai đoạn từ 1948 đến 1951, nhiều đồng chí cao cấp của Đảng bị ám sát (như Giáo sư Nguyễn Trung Thuyết ở Huế) trong số này có đồng chí Bửu Hiệp, Xứ Ủy Trưởng Trung Việt. Sau khi đồng chí Bửu Hiệp hy sinh, đồng chí Hà Thúc Ký đã lên thay thế điều khiển Xứ Bộ Trung Việt vào cuối năm 1950. Trước đó đồng chí Hà Thúc Ký đã chỉ huy cuộc chiến đấu chống Pháp trên trục quốc lộ 9 giữa biên giới Lào Việt.

    Một tổ chức chính trị mới mang ảnh hưởng Đảng cũng đã xuất hiện từ đầu năm 1951 có tên Phong Trào Quốc Gia Bình Dân do sáng kiến của một số đồng chí và cảm tình viên với thành phần hoạt động gồm đa số anh em thuộc Xứ Bộ Miền Bắc nhân khi đồng chí Nguyễn Hữu Trí làm Thủ Hiến Bắc Việt, muốn đưa Đảng hoạt động trong môi trường rộng lớn hơn. Phong trào này có trụ sở tại đường Reinach Hà Nội, tổ chức ra mắt trọng thể và đông đảo tại đường Gia Long, đã thu hút các đoàn thể chính trị, tôn giáo ở Bắc Việt, có cơ quan ngôn luận là tờ báo Quốc Dân do đồng chí Bùi Diễm làm chủ bút với thành phần ban biên tập như BS Đặng văn Sung, Luật sư Lê Thăng, Bác sĩ Phan Huy Quát, Tiến sĩ Đặng Trinh Kỳ, Nguyễn Dương Đôn, Phan Trọng Nhân, Nguyễn Tất Ứng, v.v...

  Giai đoạn 1952-1963

            * Tranh thủ độc lập cho Quốc gia
            * Vận động Đoàn kết
            * Xây dựng Tự Do, tranh đấu Dân Chủ cho đất nước

    Trong giai đoạn này, Trung Ương Đảng đã được củng cố nên một mặt Đảng tiếp tục bành trướng cơ sở, mặt khác hoạt động mạnh mẽ về chiến dịch ngoại giao và chính trị; các nhật báo, tuần báo do Đảng xuất bản như Tự Quyết, Đuốc Việt, Thanh Niên v.v... đã vang bóng môĩt thời trên công luận.

    Đảng còn mở những cuộc tiếp xúc với các giới chính trị trong và ngoài nước để cổ võ sự đòi hỏi độc lập dân chủ cho Việt Nam. Đảng quan niệm rằng chỉ khi nào người Việt Nam được quyền tự quyết và tự đảm nhận cuộc đấu tranh chống Cộng thì cuộc đấu tranh ấy mới có ý nghĩa và mới thắng lợi.

    Trong hai năm 1953 và 1954, Đảng đã đạt nhiều kết quả quan trọng:

    1.- Tham dự Đại Hội toàn quốc và vận dụng Đại Hội đòi Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam, làm đổ vỡ các mưu tính thâm độc của người Pháp.
    2.- Vận động và thành công trong việc thành lập Phong Trào Đại Đoàn Kết và Hoà Bình do các đồng chí Nguyễn Tôn Hoàn, Hà Thúc Ký phối hợp với ông Ngô Đình Nhu, Nguyễn Xuân Chữ, Lê Toàn, Trần Văn Lý và rất nhiều các chính khách, nhân sĩ nổi tiếng chủ trương đòi Pháp trả hoàn toàn độc lập cho Việt Nam, kêu gọi Quốc Trưởng Bảo Đại phải dân chủ hóa chế độ và thành lập chính phủ đoàn kết quốc gia, để chuẩn bị cho ông Ngô Đình Diệm về nước chấp chánh.
    3.- Đánh ngã, đánh quỵ các trào đấu tranh bạo động của Cộng Sản tại các tỉnh tiền tuyến sau khi hiệp ước Genève vừa ký kết.

    Tuy nhiên vận nước còn nhiều đen tối. Khi quốc thổ bị chia đôi, miền Bắc vĩ tuyến 17 hoàn toàn lọt vào tay Cộng Sản thì Miền Nam lại khởi đầu bước đi trên con đường đấu tranh cho Tự Do, Dân Chủ.

    Cuối năm 1954, Đảng là một trong những lực lượng đầu tiên nhận thức khuynh hướng tập quyền của nền Đệ Nhất Cộng Hòa sắp được khai sinh và Đảng đã sớm phát động chiến dịch cảnh giác với công luận về khuynh hướng đó đang đi ngược lại với nền tự do dân chủ mà thế giới loài người đang khao khát.

    Từ đầu năm 1955, Đồng chí Hà Thúc Ký, đã huy động bộ phận quân sự Đảng tại Quảng Trị thành lập chiến khu Ba Lòng (30 cây số tây bắc Quảng Trị) nơi ải địa đầu giới tuyến, với kinh phí do Xứ Bộ Nam Việt đài thọ, khi mà chính quyền miền Nam đi trái với những ước nguyện tha thiết của người dân, phản bội lại những cam kết xây dựng dân chủ và đoàn kết với các lực lượng chính trị quốc gia. Để thực hiện kế hoạch đó, tháng 2-1955, Đồng Chí Trần Điền (sau này là Nghị Sĩ trong Thượng Nghị Viện VNCH, bị VC giết trong vụ Mậu Thân tại Huế 1968), Tỉnh Trưởng Quảng Trị, đã ký Sự vụ lệnh cử Đại úy Nguyễn Ngọc Cứ tức Đồng chí Hải làm Tiểu đoàn trưởng kiêm Quận trưởng Ba Lòng lo việc tiếp thu quận này từ vùng đất của Việt Minh. Tiểu đoàn 610 Khinh Quân của Thiếu Tá Phạm Văn Bôn, Lực lượng đặc biệt mũ đỏ của Đệ II Quân khu do Đại Úy Phạm Văn Đồng (tức Đồng đen) chỉ huy, Tiểu đoàn của Thiếu Tá Hoàng Văn Hiền cũng được huy động về Ba Lòng. Với gần hai ngàn đồng chí võ trang, chiến khu Ba Lòng chứng tỏ sức sống mãnh liệt của một đoàn thể cách mạng. Tiếng nói của chiến khu, công trình kỹ thuật của đồng chí Michele Nguyễn Văn Bính và sự vận chuyển ráp nối vật dụng của đồng chí Tôn Thất Tế thuộc Xứ Bộ Trung Việt, đã vang dội khắp nơi qua đài phát thanh bí mật của Đại Việt được phát đi đều đặn hàng ngày. Đồng chí Hà Thúc Ký lãnh đạo cuộc đấu tranh võ trang nầy với tư cách Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Cách Mạng Đại Việt; phụ tá về chính trị có đồng chí Hoàng Thanh tức Hoàng Xuân Tửu (sau này là Nghị Sĩ, Phó Chủ Tịch Thượng Nghị Viện VNCH, chết trong trại giam Nam Hà của CS ngày 5-10-1980) và phụ tá về quân sự có đồng chí Trần Bình tức Nguyễn Trung Thành tốt nghiệp trường sĩ quan Hoàng Phố, do Xứ Bộ Nam Việt điều động ra chiến khu.

    Trong những tuần lễ đầu anh em đồng chí đã mở những cuộc hành quân khai quật các hầm võ khí và tảo thanh các lực lượng Việt Minh gài lại trong vùng. Tư lệnh Quân Khu II là Đại Tá Nguyễn Quang Hoành được chính quyền Trung Ương ra lệnh đem quân tiến đánh Ba Lòng nhưng ông này phản kháng và nói: "Quân đội Quốc Gia chỉ hành quân tiêu diệt Cộng Sản, còn để đánh người Quốc Gia thì tôi không đánh." Cuối tháng 2-1955, từ Ba Lòng, hai bộ phận cốt cán của Đảng được gởi đi để nghiên cứu và chiêu tập thêm hai chiến khu khác ở vùng núi Thừa Thiên và Di linh để gây thế tam giác, nhưng công tác đang vận động xúc tiến thì chính quyền đương thời đã huy động toàn binh lực đánh phá vào chiến khu Ba Lòng và đồng loạt mở trào khủng bố các cơ sở Đảng ở khắp nơi. Các lực lượng quân sự của chính quyền từ Quảng Bình rút vào phối hợp với lực lượng ở Huế ra trong đó có Tiểu Đoàn 13 là mũi nhọn xung kích tấn công vào chiến khu khiến Tiểu Đoàn Trưởng là Đại úy Em và hai sĩ quan khác bị bắn trọng thương.

    Cuộc chiến đấu của Đảng tại Ba Lòng kéo dài hàng tháng; quân đội Đại Việt đã thắng nhiều trận lớn như trận chiến ở Bến Than, Trấm, Cùa v.v... nhưng cuối cùng vì đường tiếp tế bị phong tỏa, thiếu lương thực, đồng chí Trần Bình bị mất tích trong một cuộc hành quân về hướng Tây của chiến khu để loại trừ Cộng Sản, các đồng chí lãnh đạo về chính trị và quân sự như Hoàng Xuân Tửu, Nguyễn Ngọc Cứ, Hoàng Văn Hiền, Nguyễn Văn Lý v.v... bị bắt dần thì lực lượng quân sự của Đảng tại đây mới lui vào thế bí mật.

    Trong các ngày 24, 25-10-1957, Tòa án Quân sự Huế do Chánh Án là Lê Khắc Hy, Công Tố Viên là Nguyễn Ngọc Bích đã đưa ra xét xử vụ án Ba Lòng.

    Các đồng chí Hà Thúc Ký, Trần Bình, Phạm Văn Bôn, Phạm Văn Đồng (đều vắng mặt): Chung thân khổ sai.
    Nguyễn Văn Lý: 15 năm khổ sai.
    Hoàng Văn Hiền: 10 năm khổ sai
    Nguyễn Ngọc Cứ: 10 năm khổ sai.
    Hoàng Xuân Tửu: 6 năm tù ở.
    Nguyễn Văn Mân: 5 năm tù ở.

Các người bị truy tố khác đều bị án tối thiểu 2 năm tù ở và tất cả mang tội danh: Xâm phạm an ninh quốc gia.

    Trước đó Đồng chí Hà Thúc Ký đã được các cơ sở tình báo của Đảng hộ tống vượt trùng vây vào Saigòn, móc nối củng cố lại cơ sở, hoạt động chống đối bí mật và điều khiển đài phát thanh lưu động của Đảng cũng do công trình thiết kế của đồng chí Michele Nguyễn Văn Bính, cho tới tháng 10 năm 1958 thì bị mật vụ bao vây bắt giam và tuyên án khổ sai chung thân. Gia đình đồng chí cũng bị bắt giữ tại trại giam Phòng 42 Sở Thú Sàigòn.

    Trong thời gian phát khởi chiến khu Ba Lòng, các đồng chí lãnh đạo Xứ Bộ Nam Việt như Nguyễn Tôn Hoàn, Phan Thông Thảo, Nguyễn Ngọc Huy lần lượt bị buộc phải trục xuất sang Pháp; các đồng chí Nguyễn Ngọc Tân, Dương Văn Liện, Nguyễn Văn Đạt lưu vong sang Căm-pu-chia; Lê Văn Hiệp (Già Hiệp), Ung Ngọc Nghĩa lưu vong sang Lào. Cụ Trương Bội Hoàng, thân sinh Đảng Trưởng bị bắt ở Dran (Đa Lạt), giải giao về Phú Yên. Rất nhiều đồng chí bị bắt giam tại lao Thừa Phủ (Huế), Trung Tâm Suối Máu (Biên Hòa), Thủ Đức, Phú Lợi...trong đó có các đồng chí Đoàn Thái, Hà Thúc Kỷ, Lê Phùng Thời, Trần Việt Sơn tức Trần Ngọc Lập (Thái Mù), Minh Nhật Trương Dụng Khả, Việt Huy Nguyễn Đình Huy v.v...

    Trước những đổ vỡ trầm trọng đó đã không làm nao núng tinh thần kiên trì của anh em đảng viên, các cơ sở còn lại trong bí mật của Đảng vẫn tiếp tục bành trướng, anh em đều đồng lòng chấp nhận gian nguy, tiếp tục các hoạt động cách mạng và sẵn sàng chịu đựng các cuộc bắt bớ tù đày.

    Cũng trong giai đoạn này, sự di chuyển phần lớn các bộ phận của Đảng từ Bắc Việt vào Nam trong cuộc di cư từ năm 1954 đã khiến cho những bộ phận cách mạng đó thêm đất mới và hoàn cảnh mới để hoạt động. Song song còn có các đồng chí ở Trung vào Nam hoạt động và phát triển được nhiều cơ sở mới cho Đảng đặc biệt là các đồng chí thuộc Tỉnh Bộ Thừa Thiên và Phú Yên, tạo nên một sự hòa đồng giữa các phần tử của Đảng dù có nguồn gốc địa phương khác nhau, và tất cả lại không hề phân biệt tôn giáo, không hề phân biệt sắc dân, nhất tâm nhất trí xây dựng Đảng và đấu tranh cho quyền lợi chung của Tổ Quốc. Sự kiện đó đủ tạo cho Đảng một uy thế đặc biệt, hiện thân của sự thuần nhất về mọi phương diện trong khi đất nước bị chia rẽ, bị phân hóa bởi nhiều nguyên nhân.

Giai đoạn 1964-1969:

      * Thắng lợi trên đường đấu tranh dân chủ.
     * Gây thanh thế đối ngoại.
      * Lớn mạnh về tổ chức.

    Sau cuộc đảo chánh quân sự 1-11-1963, do nhóm tướng lãnh Dương Văn Minh, Trần văn Đôn, Tôn Thất Đính v.v... với sự đỡ đầu của Hoa Kỳ lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nhiều cán bộ của Đảng được giải thoát ra khỏi ngục thất, nhiều cán bộ khác lưu vong đã tìm về lại xứ sở, và không hề nghỉ ngơi, họ đã bắt ngay liên lạc với các cơ sở bí mật, củng cố lại thực lực và phát triển Đảng rất mau lẹ đến nỗi chỉ trong thời gian 3 tháng sau Đảng đã có một khối đông đảo cán bộ khiến Tướng Nguyễn Khánh, sau khi gây cuộc chỉnh lý ngày 30-01-1964, đã phải mời Đảng ra tham chánh với đồng chí Nguyễn Tôn Hoàn làm Phó Thủ Tướng Đặc Trách Bình Định và Phát Triển, đồng chí Hà Thúc Ký làm Tổng Trưởng Nội Vụ, đ/c Nguyễn Văn Kiểu (Đặc Ủy Trưởng Thanh Niên). Nhưng khi Tướng Nguyễn Khánh muốn toan tính thiết lập một chế độ quân phiệt tại miền Nam thì Đảng đã phản ứng cấp thời tiền phong trong hành động chống lại âm mưu của Nguyễn Khánh là sự từ chức Tổng Trưởng Nội Vụ của đồng chí Hà Thúc Ký; và sau đó Đảng đã tổ chức một loạt các cuộc biểu tình ồ ạt tại miền Trung và miền Nam như ở Quảng Tín, Thừa Thiên, Quảng Trị, Tây Ninh, Ba Xuyên ... để tung ra bản tuyên ngôn mệnh danh "Tuyên Ngôn 9 Điểm Hà Thúc Ký" đòi hỏi bầu cử Quốc Hội và thiết lập chế độ dân chủ.

    Một lần nữa Đảng đã dấn thân tiền phong trong mọi cuộc đấu tranh của dân tộc, từ những cuộc đấu tranh chống Cộng Sản, chống thực dân, chống độc tài, chống quân phiệt rồi đến đòi hỏi tự do dân chủ; Đảng đều đi trước, đi mạnh và đi đúng hướng. Nhờ vậy trải qua bao nhiêu biến thiên của thời cuộc, bao nhiêu thăng trầm trong sự nghiệp cách mạng, Đảng vẫn đứng vững và tiến mãi không ngừng.

    Tháng 9-1964, Nguyễn Khánh ra lệnh trục xuất các anh Nguyễn Tôn Hoàn, Nguyễn Ngọc Huy ra khỏi nước.

    Ngày 14-11-1964, Xứ Bộ Nam Việt họp Đại Hội ly khai khỏi ĐVQDĐ để thành lập Tân Đại Việt với anh Phan Thông Thảo làm Chủ Tịch và một số anh như Lê Văn Hiệp, Nguyễn Ngọc Tân, Trần Văn Chiêu, Nguyễn Ngọc Huy, Ung Ngọc Nghĩa, Dương Văn Liện ... với lý do "vì muốn mở rộng tầm hoạt động và không bị lệ thuộc vào nguyên tắc địa phương của ĐVQDĐ, nhất là không phải bị mang tiếng là một xứ bộ của một Đảng đã bị ít nhiều chỉ trích về những hành vi của một vài anh em" (trích Đảng Tân Đại Việt, Lịch sử Đảng yếu lược, 1990, trang 36).

     Ngày 25-12-1965, một Đại hội Toàn Đảng được triệu tập lần đầu tiên trong đảng sử, tập họp các đầu dây Đặc Khu và Tỉnh, Thị Bộ để quyết định những điểm căn bản quan trọng:

    1.- Chấp nhận một quy chế của Đảng, dân chủ hóa guồng máy lãnh đạo Đảng.
    2.- Ấn định danh xưng là Đại Việt Cách Mạng, kế tục truyền thống Trương Tử Anh.
    3.- Sửa đổi Đảng kỳ (nền cờ nửa trên đỏ, nửa dưới vàng, vòng xanh, sao trắng) và Đảng Ca là bài Đại Việt Quốc Dân Ca.
    4.- Bầu cử Ban Thường Vụ Trung Ương và đề cử Ủy Ban Giám Sát.
  
 Trong Đại Hội này, đồng chí Hà Thúc Ký đắc cử chức vụ Tổng Bí Thư Đảng qua một cuộc bầu phiếu trực tiếp và kín.
  
 Những năm tiếp theo là những năm thắng lợi của Đảng về mặt đấu tranh dân chủ trên bình diện Quốc Gia, mở rộng ngoại giao trên chính trường quốc tế, lớn mạnh về tổ chức, biểu dương được sức sống rất mãnh liệt của Đảng.
  
 1.- Về đấu tranh dân chủ; năm 1966 Đảng đã đưa nhiều đồng chí ra tranh cử Dân biểu Quốc Hội Lập Hiến và đắc cử ở nhiều nơi. Trong Quốc Hội Lập Hiến này, Đảng đã triệu tập các Dân biểu đảng viên và cảm tình viên để thành lập khối Đại Chúng. Đảng đã trực tiếp đóng góp công trình kiến tạo bản Hiến Pháp của nền Đệ Nhị Cộng Hòa.
    Năm 1967, Đảng đã tham dự cuộc tranh cử Tổng Thống và Thượng Hạ Nghị Viện. Kết quả Đảng đã đưa vào Lưỡng Viện Quốc Hội một liên danh Nghị Sĩ (Liên Danh Bông Lúa) và một số Dân Biểu. Đảng có mặt tại nghị trường của cả hai viện Lập Pháp để góp phần xây dựng các đạo luật căn bản của Quốc Gia. Ngoài ra Đảng cũng đưa các cơ sở ra tranh cử các hội đồng Xã Ấp trong toàn quốc và cán bộ của Đảng đã đắc cử rất đông đảo. Tại những vùng nông thôn mà Đảng tranh thủ được chính quyền, cán bộ của Đảng đã phục vụ quần chúng rất hữu hiệu. (Cũng trong giai đoạn này Đảng đã áp dụng kỷ luật nghiêm minh trong nội bộ, khai trừ những thành phần cán bộ xấu có hành động phương hại đến quyền lợi nhân dân và làm tổn thương tới uy tín của Đảng).
 
   2.- Về ngoại giao, Trung Ương đã liên lạc thường xuyên với các sứ quán các nước có mặt tại Thủ Đô Saigon để trao đổi quan điểm chính trị và thiết lập sự giao hảo quốc tế. Đầu năm 1969, đồng chí Hà Thúc Ký, Tổng Bí Thư Đảng đã lãnh đạo phái đoàn nhân dân Việt Nam công du qua các quốc gia Âu-Mỹ và Á Châu để tranh đấu bênh vực quyền lợi cho dân tộc trước họa xâm lăng của Cộng Sản. Tiếp theo các đồng chí thuộc thành phần Trung Ương Đảng cũng đã nhiều lần công xuất qua hầu hết các nước trong thế giới tự do và Á Phi để góp phần tranh đấu ngoại giao cho quốc gia đồng thời gây ảnh hưởng đối ngoại cho Đảng.
   
3.- Về tổ chức nội bộ; Đảng đã bành trướng cơ sở một cách kỷ lục, dù trong tình trạng chiến tranh Đảng đã mở rộng hoạt động tới các vùng biên giới Việt Miên, và ngay cả trong các miền hẻo lánh ở vùng cao nguyên. Trong năm 1969 Đảng đã liên tục mở các Đại Hội tại các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Phú-Bổn, Tuyên Đức, Quảng Đức, Ba Xuyên, Kiến Tường v.v... mà ảnh hưởng đã sôi nổi trên báo chí, trên vô tuyến truyền hình và qua các đài phát thanh, các hãng thông tấn loan truyền đi trong và ngoài nước. Mục đích của các Đại Hội là để chuẩn bị hàng ngũ cho một cuộc chiến tranh chính trị trực diện với Cộng Sản mà Đảng dự trù có thể xảy ra khi trận tuyến quân sự kết thúc.
 
 Cũng trong năm 1969, một cuộc họp khoáng đại của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng để quyết định tham dự vào liên minh các chính đảng quốc gia dưới hình thức một mặt trận mang danh xưng "Mặt-Trận Quốc Gia Dân Chủ Xã Hội". Hội nghị đã nhận thức vai trò đoàn kết Quốc gia là yếu tố duy nhất để tranh thắng với Cộng Sản, cho nên Đảng đã có thái độ thích đáng.


   Giai đoạn 1970-1975
           
            * Khí thế mới
            * Đường hướng và hoạt động mới
            * Các khó khăn gặp phải trong dòng lịch sử
             bi thảm của Miền Nam trước ngày 30-4-1975.

    Ngày 4-1-1970, Đại-hội Toàn Đảng kỳ II đã mở phiên họp long trọng tại hội trường khách sạn Bát Đạt ở Thủ Đô Saigon với sự hiện diện đông đủ của các thành phần sau đây:
    - Các Tổng Ủy Viên thuộc Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng.
    - Các Trung Ương Ủy Viên.
    - Các Bí-Thư Liên Tỉnh: Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Cao Nguyên Trung Bộ, Tây Nam Bộ và Đông Nam Bộ. Các Bí Thư và Phó Bí Thư Quân Ủy các cấp.
    - Các Bí Thư và Phó Bí Thư các Tỉnh Bộ: Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngải, Bình Định, Phú Bổn, Tuyên Đức, Lâm Đồng Darlac, Quảng Đức, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Tuy, Phú Yên, Long Khánh Hậu Nghĩa, Phước Tuy, Biên Hòa, Gia Định, Kiến Hòa, Định Tường, Vĩnh Bình, Phong Dinh, Ba Xuyên, Kiến Tường, An Xuyên, Kiến Phong...
    - Bí Thư và Phó Bí Thư các Thị Bộ: Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt, Cam Ranh, Vũng Tàu và Đô Thành Bộ Saigon.
    - Bí Thư và Phó Bí Thư các Đặc Khu: Trương Tử Anh I (Đại Học Huế), Trương Tử Anh II (Đại Học Sài-Gòn), Trương Tử Anh III (Đại Học Đà Lạt), Đặc Khu Người Việt gốc Chàm, Đặc Khu Người Việt Gốc Miên, Đặc Khu Người Thượng (Cao Nguyên Trung Phần) và Đặc Khu Lê Lợi (Bắc Việt).
  
 Đại Hội đã diễn tiến trước sự chứng kiến của các đại diện báo chí, vô tuyến truyền hình, truyền thanh, và các hãng Thông tấn. Đây là một phiên họp quan trọng đánh dấu một giai đoạn mới của Đảng, giai đoạn xây dựng chủ hướng công khai thông qua tiến trình đấu tranh dân chủ. Trong phiên họp này, Hội Đồng Trung Ương Đảng đã đạt tới những quyết nghị căn bản:

    1.- Chung quyết một bản Đảng Quy gồm 5 Chương và 30 Điều quy định mục đích, phép tổ chức, lề lối sinh hoạt và kỷ luật chế tài của Đảng phù hợp với luật định và sự tiến triển lớn mạnh của Đảng.
    2.- Bầu Chủ Tịch Đảng. (Đồng Chí Hà Thúc Ký đắc cử chức vụ Chủ Tịch Đảng với sự tín nhiệm của toàn thể các cấp bộ qua một cuộc bỏ thăm trực tiếp và kín).
    3.- Bầu Ban Chấp Hành Trung Ương gồm 14 Tổng Ủy Viên điều khiển 14 Tổng-Bộ: Thường Vụ, Tổ Chức, Tuyên Huấn, Pháp Chế, Thanh Niên, Xã Hội Lao Động, Điều Nghiên, Quốc Phòng, Kiều Vận, Báo Chí, Ngoại Giao, Tài Chánh, Kế Hoạch và Tổng Thủ Quỹ.
    4.- Bầu 5 Ủy Viên vào Ban Bảo Quy.
    5.- Thảo luận và chấp thuận "Chương Trình 8 Điểm" trong kế hoạch hoạt động tứ niên của Đảng.
   
Đại Hội đồng xác định một lần nữa sự trường tồn và sức sống mãnh liệt của Đảng được un đúc bởi quá trình đấu tranh dũng cảm, bởi sự tiến bộ của tổ chức và bởi nỗ lực của các đồng chí.
    Bước qua năm 1971, tình hình chính trị Miền Nam đã có những diễn tiến phức tạp do các áp lực quân sự, kinh tế cùng ảnh hưởng của Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam. Trong cuộc bầu cử Quốc Hội pháp nhiệm II tổ chức vào tháng 8 năm 1971, Đảng đã đưa một số Đồng chí ra ứng cử Dân Biểu và đắc cử. Bên cạnh đó, cuộc bầu cử Tổng Thống độc diễn của Tướng Nguyễn Văn Thiệu làm cho tình hình chính trị của đất nước thêm rối rắm và chia rẽ trong hàng ngũ nhân dân và quân đội. Đảng luôn luôn bày tỏ niềm ưu tư trước vận nước và tích cực vận động các sáng kiến chính trị để tạo thế ổn định cho miền đất Tự Do của người Quốc Gia. Các Nghị sĩ thuộc Liên Danh Bông Lúa của Đảng tại Thượng Nghị Viện và các Dân Biểu của Đảng trong Nhóm Quốc Gia tại Hạ Nghị Viện đã nỗ lực đấu tranh để phản ảnh lập trường chính trị của Đảng tại các cơ quan tranh đấu nghị trường và trên các ngành truyền thông đại chúng. Ông Nguyễn Văn Thiệu đã sử dụng hai khối đa số thân chính quyền trong Quốc Hội là khối Độc Lập và khối Cộng Hòa để đưa ra những đạo luật có lợi cho chính quyền và phe nhóm hơn là phục vụ quyền lợi của nhân dân, đồng thời nuôi dưỡng thói tham nhũng, dung túng nạn hối mại quyền thế khiến cho tiềm lực quốc gia ngày càng suy yếu.
  
 Tháng 6 năm 1972, trước sự phản đối quyết liệt của các khối, nhóm thiểu số đối lập trong Thượng và Hạ Nghị Viện, Quốc Hội với đa số thuộc phe chính quyền đã biểu quyết và thông qua Luật Ủy-Quyền cho phép tướng Thiệu cai trị đất nước bằng các Sắc Luật có liên quan đến các lãnh vực quan trọng như kinh tế, chính trị, quốc phòng và an ninh tức là thiết lập một nền chính trị độc tài quân phiệt dựa trên các văn kiện pháp chế. Phản ứng của các Dân Biểu, Nghị Sĩ của Đảng và thân hữu trước các vi phạm dân chủ do chủ tâm của chính quyền, đã được các giới báo chí và truyền thông phản ảnh liên tục trước công luận nhân dân.
   
Trong thời gian từ đầu năm 1972, chính quyền của tướng Thiệu đã cho thành lập đảng Dân Chủ từ các cơ sở xã, ấp đến các cơ quan trung ương, chèn ép các đảng phái quốc gia bằng cách thay thế, sa thải những người không đồng chính kiến hay không chấp nhận sự chỉ huy của các thành phần có tên trong đảng Dân Chủ. Một số người theo chủ nghĩa cơ hội và các phần tử Cộng Sản hay thân Cộng đã chui vào đảng Dân Chủ để kiếm cách làm giàu, thăng quan tiến chức hay tránh bị ruồng bố và để tìm cách trả thù các thành phần cán bộ quốc gia có thành tích diệt Cộng. Dựa trên Luật Ủy Quyền, ông Thiệu đã ban hành một số các Sắc Luật quan trọng trong đó có hai luật về Chính-Đảng và Báo Chí nhằm khai tử hết các đảng phái Quốc Gia có thành tích chống Cộng, nhằm dành độc quyền chính trị cho đảng Dân Chủ, và chừa đất sống cho các tờ báo của chính quyền hay theo phe chính quyền mà thôi.
   
Trước tình hình cực kỳ khó khăn do chính quyền quân phiệt gây ra, Đảng đã tích cực đả kích những hành vi sai trái, lố bịch của chính quyền tại trung ương, nhưng đồng thời ở các cơ sở hạ tằng, các cán bộ của Đảng trong quân đội và hành chánh xã ấp cũng vẫn luôn luôn giữ vững tay súng chống Cộng và giữ trọn niềm trung kiên với Đảng trước các áp lực chèn ép bất công do chính quyền gây ra. Tại trung ương, đồng chí Hà Thúc Ký với tư cách là công dân VNCH, đã kiện lên Tối Cao Pháp Viện về sự vi hiến của các Sắc Luật Đảng phái, Báo chí của chính quyền Tướng Thiệu. Phản ứng của chính quyền lúc đó là tìm cách trì hoãn vụ án cho đến ngày Miền Nam sụp đổ. Trên thực tế, Đảng đã không thừa nhận giá trị các Sắc Luật đó bởi vì, bằng tinh thần đấu tranh cách mạng của một chính đảng quốc gia, Đảng đã được khai sinh và trưởng thành bằng những văn kiện bất thành văn đó là lòng ái quốc và xương máu của các anh chị em đồng chí trong lao tù của thực dân, cộng sản và độc tài thì làm sao một bản văn đơn giản của những kẻ thời cơ, một đạo luật lại có thể khai tử một đảng cách mạng được?
   
Sau cuộc tổng tấn công mùa hè năm 1972, một số cơ sở của Đảng thuộc hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên phải di chuyển vào Đà Nẵng, Quảng Nam, Ninh Thuận hay Biên Hòa v.v... và tái phối trí sinh hoạt trở lại. Các Đảng Bộ thuộc Kontum, Pleiku mặc dầu chiến cuộc tàn khốc, vẫn kiên trì trụ lại với quần chúng cơ sở. Điều đó chứng tỏ tinh thần bất khuất của người cán bộ Đảng trước bão tố của thời cuộc. Sự liên lạc giữa các cơ sở Đảng ở địa phương với Trung Ương luôn luôn tỏ ra chặt chẽ để thích ứng với các nhu cầu công tác.
  
 Ngày 27-01-1973, Hiệp Định Paris được ký kết nhằm giúp cho Quân đội Hoa Kỳ rút lui khỏi cuộc chiến tranh tại Việt Nam, đã đem lại rất nhiều bất lợi cho Việt Nam Cộng Hòa. Các chiến sĩ đồng chí của Đảng trên khắp các mặt trận đã phải nỗ lực bội phần để giữ vững chiến tuyến diệt Cộng. Trong lúc tình hình quân sự diễn ra ngày càng nguy ngập cho Miền Nam do việc Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ quân sự và kinh tế, chính quyền tướng Thiệu không vận dụng được hậu thuẫn của quần chúng do nạn tham nhũng làm mất lòng dân và niềm tin của quân đội cũng đang bị xói mòn trầm trọng, viễn ảnh mất nước đã chập chờn xuất hiện trong nỗi ưu tư của mọi cấp bộ Đảng và nhân dân. Tại trung ương cũng như tại địa phương, đảng Dân Chủ của chính quyền vẫn tiếp tục chính sách phá phách các đảng phái, đoàn thể quốc gia thay vì tạo mối dây đoàn kết cần thiết giữa những người có chung một lý tưởng chống Cộng.
 
  Ngày 6-1-1975, tỉnh Phước Long mất vào tay Cộng Sản. Ngày 10-3-1975 cộng quân tấn chiếm Ban Mê Thuột, mở đầu cho cuộc sụp đổ đau thương của Miền Nam kết thúc trong ngày 30-4-1975 do sự bất tài, bất xứng của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu trong kế sách lãnh đạo đất nước và cũng do sự bán đứng Việt Nam Cộng Hòa cho Cộng Sản Bắc Việt thông qua người bạn đồng minh Hoa Kỳ. Trong tình hình đó, Đảng cũng chịu chung niềm đau thương mất mát to lớn của dân tộc qua việc đại đa số cán bộ đầu não của Đảng, đảng viên và gia đình kẹt lại trong nước phải chịu biết bao thảm cảnh tù đày, chết chóc, bị trả thù nhiều năm trong các trại tập trung của Cộng Sản hay ngoài xã hội. Chỉ có một ít đồng chí may mắn thoát ra được nước ngoài để cho ngọn đuốc cách mạng của Đảng vẫn được chiếu sáng trở lại trong nhiều khó khăn mới.

  Giai đoạn 1975-1995

            * Xây dựng lại cơ sở đấu tranh.
            * Kiện toàn sức mạnh của Đảng,
             phát huy tinh thần kế tục
             truyền thống cách mạng.
             
    Trong hai thập kỷ sau ngày Miền Nam sụp đổ, rất nhiều đồng chí của Đảng bị bắt qua các chiến dịch mệnh danh là "tập trung học tập cải tạo" hay trong các chiến dịch lùa bắt các văn nghệ sĩ và báo giới hoặc trí thức Miền Nam hoặc tấn công các tôn giáo, bị đày ải liên tục trong các nhà lao CS trên khắp ba miền đất nước như tại trại Bình Điền, Phú Túc, Tiên Lãnh, An Điềm, Củng Sơn, Xuân Phước, Thanh Cẩm, Nghệ Tĩnh, Gia Trung ở miền Trung, các trại Tây Ninh, Long Khánh, Thủ Đức, Bù Gia Mập, Suối Máu, Phan Đăng Lưu, Chí Hòa của miền Nam hoặc tại các trại Nam Hà, Hà Tây, Hoàng Liên Sơn, Yên Bái, Cổng Trời (Hà Giang), Vĩnh Phú, Tân Lập, Phú Sơn, Thanh Xuân v.v...của miền Bắc. Các đồng chí lúc sa cơ vẫn chứng tỏ bản lãnh can trường, khí phách tuyệt vời và tinh thần chịu đựng bền bĩ trước kẻ thù, biết cưu mang đùm bọc nhau và chia sẻ với các anh em quốc gia khác trong cảnh khốn cùng (như trường hợp cố Đồng chí Hoàng Xuân Tửu, Tổng Ủy Viên Thường Vụ của Đảng, đã chết trong trại tù CS năm 1980, là một thí dụ điển hình về đức tính hy sinh, nhẫn nhục và lòng thương người) đồng thời hướng vọng ra bên ngoài với niềm tin cách mạng không hề suy xuyển. Với những anh chị em cán bộ, đảng viên ở ngoài vòng kiềm tỏa của Cộng Sản mà còn hiện diện trong nước sau ngày 30-4-75, một số đã công khai bày tỏ dũng khí của những con người đấu tranh cách mạng mà kiệt hiệt nhất phải kể là cuộc khởi nghĩa năm Mậu Ngọ (1978) của các đồng chí Phan Ngọc Lương, Bí Thư Quân Ủy Quân Khu I, Trần Ngọc Qườn (Giáo Sư Trường Trung Học Kiểu Mẫu thuộc Đại Học Sư Phạm Huế), Phạm Lự, Tống Châu Khang cùng nhiều anh chị em cơ sở Đại Việt Cách Mạng Đảng tại Huế và Thừa Thiên. Đây là một kế hoạch khởi nghĩa có tính cách quy mô mà kết quả là 8 đồng chí bị án tử hình, 7 đồng chí bị án tù chung thân và vài chục đồng chí khác bị án tù từ 3 năm đến 20 năm tù ở. Con số người bị Việt Cộng bắt để điều tra lên đến hàng ngàn người trong phạm vi Tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế. Vụ khởi nghĩa Mậu Ngọ (1978) còn được đồng bào gọi là vụ Phạm Lự - Tống Châu Khang vì hai đồng chí này là những người đứng ra chủ xướng vụ khởi nghĩa, còn người đứng trong bóng tối chỉ huy tất cả là đồng chí Phan Ngọc Lương. Đồng chí Phan Ngọc Lương nguyên là Trung Tá trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, xuất thân Khóa 17 Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, anh hùng giải tỏa Huế trong vụ Tết Mậu Thân (1968), được tặng huy chương "Ngôi Sao Bạc" của Quốc Hội Hoa Kỳ. Sau một trận đánh ác liệt ở Quảng Nam, đồng chí Phan Ngọc Lương bị cụt cả hai chân đến tận háng, và đã được đưa qua Hoa Kỳ làm lại đôi chân giả sau hai năm điều trị ở bệnh viện Walter Reed của Quân đội Hoa Kỳ, thuộc vùng phụ cận của Thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Trước khi đồng chí Phan Ngọc Lương lên đường qua Hoa Kỳ điều trị thương tích, Đồng Chí Chủ Tịch Đảng Hà Thúc Ký có vào bệnh viện dã chiến của Quân đội Hoa Kỳ tại đường Cách Mạng, Sàigòn để thăm và luôn tiện tiễn đưa đồng chí lên đường, đồng chí Lương đã cầm tay đồng chí Chủ Tịch Đảng và nói rất dõng dạc: "Em xin hứa với Anh Cả là sau khi em trở lại quê nhà, em sẽ luôn luôn cố gắng chu toàn sứ mệnh 'diệt Cộng cứu nước' mà Anh đã giao phó cho em trong buổi lễ tấn phong em giữ chức vụ Bí Thư Quân Ủy Quân Khu I độ nào". Và đồng chí Lương đã giữ đúng lời hứa đó.
   
Cuối năm 1978, Việt Cộng đã thiết lập tòa án quân sự để xét xử vụ âm mưu khởi nghĩa Mậu Ngọ tại trụ sở Trường Đại Học Sư Phạm Huế, nơi đồng chí Trần Ngọc Quờn tốt nghiệp và dạy học. Các đồng chí Phan Ngọc Lương, Phạm Lự, Tống Châu Khang, Trần Ngọc Quờn và các anh chị em khác đều rất khí phách, hiên ngang khi ra trước tòa án. Đặc biệt là đồng chí Phan Ngọc Lương đã vạch tội bọn Cộng Sản đối với dân tộc và dõng dạc tuyên bố "Cộng Sản là kẻ thù của Đại Việt nói riêng và của nhân dân Việt Nam nói chung." Cuối cùng Việt Cộng tuyên án tử hình các đồng chí Phan Ngọc Lương, Phạm Lự, Tống Châu Khang, Trần Ngọc Quờn, Huỳnh Lai, Nguyễn Ngọc Con, Phan Thiên Linh. Riêng nữ đồng chí Bùi Thị Cặn, người đặt chất nổ tại phòng Thông Tin Văn Hóa Huế thì đã cắn lưỡi tự tử tại lao xá Thừa Thiên để khỏi phải khai tên các đồng chí khi bị lũ công an Việt Cộng tra tấn dã man.
   
Ngoài ra, sự có mặt của một bộ phận đầu não của Đảng trong đó có đồng chí Chủ Tịch Đảng Hà Thúc Ký ở hải ngoại là yếu tố cơ bản để anh chị em đồng chí trong nước giữ vững niềm tin đồng thời cũng là nỗi lo lắng của Cộng Sản về một địch thủ đáng quan tâm trong quá khứ cũng như trong hiện tại. Đảng đã có mặt tiên phong trong các cuộc vận động cho nhân quyền từ Hoa Thịnh Đốn đến Paris, Anh Quốc, Châu Âu, Nhật Bản, Thái Lan v.v..., dưới nhiều hình thức đấu tranh có tính cách ngoại vi như Mặt Trận Việt Nam Tự Do mà mục đích là đào tạo các hạt nhân cách mạng, kết nạp thêm đồng chí, tuyên truyền lý tưởng Quốc Gia, tổ chức các thành phần thanh niên, trí thức trong các cơ sở ngoại vi của Đảng với mục đích trẻ trung hóa guồng máy lãnh đạo Đảng và để chuẩn bị thế đấu tranh cho các thành phần lãnh đạo các cơ sở Đảng còn ở trong nước hay đang tìm ra hải ngoại.
   
Từ năm 1978 trở đi ở Hoa Kỳ đã có những hoạt động lẻ tẻ nhằm thăm dò xúc tiến việc thống nhất Đại Việt Quốc Dân Đảng và ngày 28-5-1988 đã có một cuộc họp giữa các đồng chí lãnh đạo cao cấp như các đồng chí Hà Thúc Ký, Bùi Diễm, Nguyễn Ngọc Huy, Đặng Văn Sung, Cung Đình Quỳ, Nguyễn Tôn Hoàn để quyết định từng bước thống nhất Đại Việt. Các nỗ lực trong thời gian sau đó, cụ thể là các cuộc họp trong năm 1993, công tác truyền thông như sự ra đời của Tạp Chí Đại Việt với các cây bút nòng cốt là các đồng chí Đại Việt Cách Mạng Đảng cũng không soi sáng triển vọng tốt đẹp cho sự kết hợp Đại Việt vì nhiều khác biệt do lịch sử tạo nên.
 
  Kể từ năm 1990, các cán bộ của Đảng đã ra đi trong các diện vượt biên, đoàn tụ gia đình hay tị nạn chính trị (cựu tù nhân chính trị) đã lần lượt móc nối lại với Trung Ương ở Hoa Kỳ để rồi dần dần tổ chức lại các cơ sở Đảng theo từng địa phương cư ngụ. Đồng chí Hà Thúc Ký liên tục đi khắp các tiểu bang Hoa Kỳ, sang Âu Châu nỗ lực xây dựng thêm nhiều cơ sở mới cùng sự phối hợp công tác của nhiều anh em đồng chí cũ.
   
Đầu năm 1995, do những khác biệt trong đường lối làm việc nên Đại Việt Cách Mạng Đảng đã chấm dứt sự cộng tác với Tân Đại Việt qua tổ chức Đại Việt Quốc Dân Đảng tái hình thành trong giai đoạn 1993-1994.
  
 Ngày 30-4-1995, Tạp Chí Cách Mạng số 1 ra đời, diễn đàn dân chủ của Đảng, nhằm nói lên lập trường và quan điểm đấu tranh chính nghĩa của người quốc gia, chuẩn bị cho sinh hoạt mới của Đảng. Ngày 28-5-1995, trong Hội Nghị Trù Bị tổ chức tại Virginia, Hoa Kỳ, Trung Ương Đảng đã thảo luận việc tổ chức Đại Hội Toàn Đảng Kỳ III vào dịp Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving Day) năm 1995 của Hoa Kỳ tại thành phố Houston, Texas. Sau hội nghị này, Nội San Sinh Tồn do Tổng Bộ Thường Vụ thực hiện cũng đã được ấn hành nhằm phản ảnh các sinh hoạt nội bộ của Đảng.
   
Trong hai ngày 24 và 25 tháng 11 năm 1995, hơn một trăm đồng chí đại biểu cho các cơ sở khắp các tiểu bang Hoa Kỳ, các quốc gia Âu Châu, đã về tham dự Đại Hội Toàn Đảng Kỳ III tổ chức tại khách sạn Plazza Inn nằm về hướng bắc thành phố Houston.
  
 Trong thời gian tiền Đại Hội, ngày 23-11-95, các Đại Biểu đã duyệt xét chương trình nghị sự và các đề án công tác cần thảo luận góp ý. Trong hai ngày kế tiếp các Đại Biểu đã hoàn thành các công tác như sau:

    1.- Suy cử Đồng Chí Hà Thúc Ký trong chức vụ Chủ Tịch Đại Việt Cách Mạng Đảng.
    2.- Đ/c Chủ Tịch Đảng thông báo trước Đại Hội về việc mời Đ/c Bùi Diễm trong Chức vụ Chủ Tịch Hội Đồng Cố Vấn Và Giám Sát Trung Ương cùng một số Đ/c cao niên trong các chức vụ Ủy viên.
    3.- Đ/c Chủ Tịch Đảng đề cử một danh sách Ban Chấp Hành Trung Ương nhiệm kỳ 1995-1999 và Đại Hội đã biểu quyết chấp thuận.
    4.- Thảo luận và thông qua Đảng Quy, Cương Lĩnh, Tuyên Cáo Báo Chí; đề cử Ban Chấp Hành Trung Ương nhiệm kỳ 1995-1999, Hội Đồng Cố Vấn và Giám Sát Trung Ương; duyệt định một số đề án công tác liên quan đến việc phát triển cơ sở, xây dựng cộng đồng, công tác tài chánh, giới trẻ, quốc nội v.v...   
   
Sự có mặt của ba thế hệ đảng viên trong Đảng gồm các đồng chí tiền bối lão thành trong giai đoạn 1939-1945, bên cạnh các đồng chí trung niên giai đoạn 1965-1975 cùng các đồng chí trẻ trong giai đoạn 1985-1995 chứng tỏ truyền thống cách mạng của Đảng được tiếp nối liên tục từ những bậc đàn anh đi trước đến các tầng lớp con em theo sau trong chủ đích xây dựng một nước Việt Nam Nhân Bản, Dân Chủ và Thịnh Vượng theo tinh thần cách mạng của ngọn đuốc Trương Tử Anh và chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn bất diệt.
 
  Sự nghiệp lớn lao đó đòi hỏi nhiều hy sinh và nỗ lực tối đa của mọi tầng lớp cán bộ, đảng viên Đại Việt trong giai đoạn lịch sử mới.

( Trích ra từ site WEB của Đại-Việt Cách Mạng Đảng )

       
     

Trở về