- CHƯƠNG V . NHỮNG
NGUYÊN-LÝ CĂN-BẢN CỦA CHỦ-NGHĨA DÂN-TỘC SINH-TỒN.
I.- ĐẠI-CƯƠNG CHỦ-NGHĨA
DÂN-TỘC SINH-TỒN.
Sự khảo-sát về con người đã cho ta biết rằng người
là một sanh-vật cao-cấp có một cơ-thể tinh-xảo và nhiều khả-năng tâm-lý
vi-diệu. Một trong những khả-năng này là ý-thức giúp người nhận biết về
sự sống của mình và suy-luận về hành-động của mình. Nhờ ý-thức, người
đã tự điều-khiển lấy mình một phần nào. Điều này làm cho người
tin-tưởng rằng mình được tự-do.
Vốn có khuynh-hướng tự-tôn tự-đại và lúc nào cũng
cần dựa vào một cái gì tuyệt-đối, người đã vô-tình hay hữu-ý quan-niệm
một sự tự-do hoàn-toàn và cho rằng mình được trọn quyền quyết-định
thái-độ mình. Ngay đến những người bị sự chi-phối của thần-quyền và
tin-tưởng nơi một vị Thượng-Đế điều-khiển cả võ-trụ cũng chấp-nhận
nguyên-tắc người phải chịu trách-nhiệm về những hành-động của mình
trước Thượng-Đế. Như thế, họ đã gián-tiếp công-nhận rằng người được
hoàn-toàn tự-do trong sự chọn lựa một con đường sống.
Xã-hội loài người từ trước tới nay đã trực-tiếp đặt
nền tảng trên nguyên-tắc trách-nhiệm và gián-tiếp thừa nhận nguyên-tắc
tự-do ý-chí của người. Các giáo-điều luân-lý, các luật-lệ chánh-trị và
đạo-đức hàm ý khuyên-nhủ hay bắt buộc người làm điều kia tránh việc nọ.
Nói cho thật đúng thì những giáo-điều, luật-lệ này nhiều cái cũng rất
thiết-thực và chỉ phản- chiếu những nhu-cầu khẩn-yếu được người khéo
tô-điểm cho có vẻ tươi đẹp mà thôi. Tuy thế, trong bản-ý nó, những
hệ-thống tư-tưởng đạo-đức được cho là cao-siêu đều hướng đến một chế-độ
lý-tưởng tuyệt-đối trong đó con người có một bản-tính khác hẳn bản-tính
hiện-tại của họ.
Ta đã nhận thấy rằng sự tự-do của người không thể hoàn-toàn được. Người
chỉ là một phần-tử nhỏ nhặt của thế-giới và bị khép chặt trong thế-giới
ấy. Cơ-thể người gồm những chất đã cấu-tạo nên võ-trụ và những khả-năng
tâm-lý của người dầu có vẻ vi-diệu đến đâu cũng không hoàn-toàn vượt ra
ngoài võ-trụ được.
Thật ra thì phạm-vi hoạt-động của người quả có rộng-rãi hơn phạm-vi
hoạt-động của các loài khác. Người lại có thể nhờ ý-thức mà tạo nên cho
mình một mục-đích và tự vạch ra một đường lối để noi theo. Nhưng đời
sống con người không phải hoàn-toàn tùy-thuộc ý-thức. Một số lớn
hành-động của người còn bị tiềm-thức chi-phối. Và ngay một số hoạt-động
mà người tưởng là do ý-thức điều-khiển, thật ra cũng tùy-thuộc
tiềm-thức. Người có thể thành-tâm tin-tưởng rằng mình tuân theo lý-trí
khách-quan của mình, không dè rằng mình chỉ lý-luận hay biện-chánh cho
ý muốn hay hành-động mình, mà ý muốn hay hành-động này lại đặt dưới sự
điều-khiển của những bản-năng ẩn-áo người không nhận-thức được.
Như thế, sự tự-do của người chỉ là một sự tự-do tương-đối, và sự
tự-quyết của người vốn có một giới-hạn rõ ràng. Như thế là vì tổ-chức
cơ-cấu của thân-thể người phải tuân theo một qui-phạm chặt chẽ. Nó tạo
cho người những nhu-cầu, những bản-năng, những khuynh-hướng tự-nhiên mà
người không sao hủy-diệt hay cưỡng lại được. Khung cảnh trong đó người
sống cũng phải tuân theo những qui-phạm đặc-biệt cho mỗi loài, mỗi vật.
Do đó, sự hoạt-động của người đã bị khép vào những định-luật
thiên-nhiên rõ rệt.
Hướng-dẫn sự hoạt-động của người đi trái những định-luật thiên-nhiên là
một điều không thể làm được. Những bậc vĩ-nhơn, những nhà đạo-đức đã
thử tìm cách chống lại những bản-năng của loài người đều thất-bại. Và
những chánh-khách thờ phụng những không-tưởng, những lý-tưởng quá
cao-siêu, vượt khỏi tầm-thước của người, nếu không tự mình phản lại
ý-tưởng ấy trong sự hoạt-động, thì cũng chỉ làm khổ dân-chúng. Vậy muốn
thành-công trong sự xây dựng một xã-hội tốt đẹp và vững chắc,
muốn đưa dân-chúng đến một đời sống vui tươi, ta phải dựa vào một
chủ-nghĩa chánh-trị hợp với những động-lực chi-phối sự hoạt-động của
người.
Nói như thế là không phải chủ-trương chiều theo những thị-dục thấp kém
của người và để cho người buông lung theo thú-tánh. Việc cải-thiện đời
sống của người, nâng cao nhơn-cách và đức-tánh của người là một điều
cần-thiết và phải làm.
Nhưng ta nên nhớ rằng việc thay đổi hẳn bản-tánh của loài người là một
điều ta không thể làm được. Ta không thể khiến cho mọi người đều tốt
như Tiên Phật, cũng như ta không thể tạo ra những khí-cụ rắn chắc như
thép cứng nếu ta dùng đất làm nguyên-liệu vậy.
Như thế, ta chỉ có thể cải-lương con người trong vòng những đức-tánh
người có thể đạt được mà thôi. Một mặt khác, nếu người ta chỉ có thể
điều-khiển được các lực-lượng thiên-nhiên bằng cách chiều theo nó,
người chỉ có thể cải-lương được con người bằng cách nương theo những
khuynh-hướng, những bẩm-tánh của người. Đó là những nguyên-tắc căn-bản
mà chúng ta lúc nào cũng phải tuân theo trong sự xây dựng một chủ-nghĩa
chánh-trị thiết-thật.
Nghiên-cứu về con người, ta đã nhận thấy rắng người chung-qui chỉ là
một sanh-vật có đủ đặc-tánh của sanh-vật. Đặc-tánh căn-bản của mọi
sanh-vật là cố-gắng để duy-trì và truyền lưu sự sống của mình lại đời
sau. Từ một con a-míp (amibe) đơn tế-bào cho đến một cơ-thể phức-tạp
chứa đựng hàng tỷ tế-bào, mỗi sanh-vật đều hướng đến mục-đích sanh-hoạt
và tồn-tại. Mặc dầu cao hơn các loài khác, con người cũng không thoát
khỏi công-lệ trên đây.
Cơ-thể người cũng như những bản-năng ẩn náu trong cơ-thể ấy đều thúc
đẩy người hướng đến sự sinh-tồn. Bởi đó, người của mọi địa-phương, mọi
thời-đại, đều hoạt-động để mưu-đồ sinh-tồn cho mình. Sự sinh-tồn là cái
luật căn-bản chi-phối đời sống của người, và một chủ-nghĩa chánh-trị có
nhiệm-vụ hướng-dẫn sự hoạt-động của người, nhứt là sự hoạt-động để
tổ-chức đời sống chung, không thể nhắm vào cứu-cánh nào khác hơn là mưu
sự sinh-tồn cho người.
Trong việc qui-định mục-đích của người, ta phải nhớ đến sự sinh-tồn, mà
trong sự hướng-dẫn người hoạt-động để mưu-sanh, ta cũng phải tùy theo
những điều-kiện chi-phối sự hoạt-động sinh-tồn của người.
Người vốn là một sanh-vật cao-đẳng, có những khả-năng đặc-biệt khác hơn
các loài sanh-vật hạ-cấp, cho nên sự sinh-tồn của người cũng phức-tạp
hơn. Ngoài sự sinh-tồn vật-chất, người lại có sự sinh-tồn tinh-thần nữa.
Riêng về mặt vật-chất, người không phải chỉ cần sống lấy còn, lấy có
như cầm thú, mà biết ưa thích những món ngon, vật lạ, những đồ dùng tốt
đẹp quí báu. Không những mưu-cầu những nhu-dụng tối-thiểu cần-thiết cho
sự sống, người còn biết tìm cách nâng cao sự sống ấy lên, làm cho nó
tươi đẹp hơn.
Về mặt tinh-thần, người có những tư-tưởng, những tình-cảm cần bảo-vệ,
những sở-thích, những nhu-cầu cần thỏa-mãn. sự bảo-vệ những tư-tưởng,
tình-cảm của người hàm một chế-độ công-nhận một số quyền tự-do căn-bản
cho người. Thật ra, người cũng có thể sống dưới một chế-độ khắc-nghiệt
không dung-nạp những quyền tự-do ấy. Nhưng trong trường-hợp này, người
rất khổ-sở, và một chế-độ khắc-nghiệt muốn làm dịu sự khổ của người
phải làm cho người ngu đần đi, đến mất cả ý-thức về nhơn-cách mình. Như
thế, sự sinh-tồn tinh-thần của người phải kém đi và giá-trị người cũng
bị hạ
xuống. Về sự thỏa-mãn những sở-thích, nhu-cầu tinh-thần của người, nó
hàm một xã-hội tiến-hóa, văn-minh, có một kỹ-thuật khá cao và một đời
sống phức-tạp.
Sự sinh-tồn của người nhắm vào việc phụng-sự bản-thân người trước hết.
Người không thể trút bỏ thân-thể mình, cũng không thể hủy-diệt bản-ngã
mình. Bởi đó, sự hoạt-động sinh-tồn của người bao giờ cũng có tánh-cách
vị-kỷ. Sự vị-kỷ này có thể mở rộng ra làm cho người biết nghĩ đến người
khác và lo cho người khác như mình. Một số nhà đạo-đức nhận thấy sự
vị-tha này tốt đẹp nên đã hô-hào người cố hủy bỏ lòng vị-kỷ, chỉ giữ
lòng vị-tha lại mà thôi. Nhưng sự thật, vị-kỷ là căn-bản của tánh
người, và lòng vị-tha cũng chỉ là lòng vị-kỷ mở rộng ra cho nên người
không thể hủy lòng vị-kỷ đi được.
Muốn sinh-tồn, người phải tranh-đấu với thiên-nhiên, với các loài cầm
thú và với người đồng-loại. Sự tranh-đấu này có thể ôn-hòa hay bạo tợn,
nhưng lúc nào cũng có, và không thể chấm đứt được.
Trong sự tranh-đấu của các sanh-vật, sự thắng-lợi bao giờ cũng nghiêng
về phía kẻ mạnh và có một quan-năng biến-cải cường-kiện. Loài người chỉ
có một sức mạnh bình-thường, nhưng lại được Tạo-hóa phú cho một
quan-năng biến-cải rất mực cường-kiện. Quan-năng biến-cải đã giúp người
đối-phó với thiên-nhiên và loài cầm thú một cách thích-ứng. Hơn nữa, nó
lại có tánh-chất ý-thức một phần nào nên có thể tự mở mang thêm và làm
cho người tiến-hóa. Nhờ đó, người đã thắng được thiên-nhiên và các loài
cầm thú mà làm chủ địa-cầu.
Ngoài quan-năng biến-cải, lại còn một yếu-tố khác giúp rất nhiều vào sự
thắng-lợi của người. Đó là sự hợp-quần. Sự hợp-quần chẳng những đã tăng
thêm sức mạnh của người mà còn giúp cho người nhiều điều-kiện
thuận-tiện để học hỏi và tiến-hóa.
Sự hợp-quần có thể có tánh-cách cưỡng-bách hay tình-nguyện, nhưng bao
giờ nó cũng đi từ chỗ nhỏ đến chỗ lớn, từ người gần đến kẻ xa. Ngoài
động-lực quyền-lực được nhận-thức rõ rệt hay nằm trong vòng vô-ý-thức,
yếu-tố ý-thức, chủng-loại đã đóng một vai tuồng quan-trọng trong sự làm
cho người hợp-quần nhau lại.
Người, một mặt, cần phải hợp-quần để tranh-đấu chung nhau, một mặt, lại
cần phải tranh-đấu lẫn nhau. Người phải tranh-đấu nhau bên trong
đoàn-thể mình để mưu sinh-tồn cá-nhơn của mình nhưng đồng-thời cũng hợp
với người trong đoàn-thể để đối-phó với đoàn-thể khác hầu mưu sự
sinh-tồn cho đoàn-thể mình.
Sự hợp-quần đưa đến cho người rất nhiều mối lợi, mà sự tranh-đấu nhau
giữa các đoàn-thể loài người lại gây ra rất nhiều cảnh thảm-mục thương
tâm. Bởi đó, nhiều người đứng lên hô-hào loài người chấm dứt sự
xung-đột lẫn nhau và họp nhau lại thành một khối duy-nhứt để mưu sự
sinh-tồn chung.
Nhưng, như ta đã thấy, nhân loại bị bản-năng sinh-tồn và ý-thức
chủng-loại của người làm cho chia rẽ nhau. Nhưng nguyên-nhơn chia rẽ
này do bản-chất của người mà có, và sẽ tồn-tại mãi với người. Ta không
thể nào hủy-diệt được nó. Vì sự chia rẽ do bản-năng sinh-tồn và ý-thức
chủng-loại gây ra, sự thống-nhứt nhơn-loại lại trong một tổ-chức
duy-nhứt để mưu sinh-tồn chung không thể thực-hiện được, ngoại trừ
trường-hợp đặc-biệt và khó có là sự sống của cả nhơn-loại bị một
chủng-loại khác uy-hiếp một cách nặng-nề.
Những nhà đạo-đức mơ ước cảnh thế-giới đại-đồng đã có chủ-trương hủy bỏ
ý-thức chủng-loại là bản-tánh làm cho con người phân-biệt thân sơ và có
xu-hướng binh vực người gần mà chống chọi lại kẻ xa. Nhưng ý-thức
chủng-loại là một bản-năng Tạo-hóa phú cho người nên không sao hủy-diệt
được.