|
|
Lời mở đầu
Người không chết
Anh với tôi chưa
từng chung họp mặt.
Có bao giờ Anh biết
đến tôi đâu.
Tôi biết Anh qua
tưởng-tượng muôn màu,
Qua chủ-nghĩa
"Sinh-tồn" , qua những chuyện
Mà những bạn đã
từng chia nguy-hiểm,
Chia gian-lao, chia
khổ-cực cùng Anh
Kể tôi nghe với một
giọng chơn-thành
Trong phút nghỉ
những ngày dài chiến-đấu.
Chỉ có thế mà thôi,
nhưng cũng đủ
Để hồn tôi mãi
hướng đến bên Anh
Tôi nguyện đem tất
cả tuổi xuân xanh,
Tất cả máu của cuộc
đời trai trẻ
Và tất cả những chi
là đẹp-đẽ,
Những chi là
cao-quí của lòng tôi
Đóng góp vào cuộc
chiến-đấu không thôi
Cho chủ-nghĩa "
Sinh-tồn" Anh khởi-xướng.
Tôi lần bước theo
mọi dòng tư-tưởng
Cố tìm ra những
mạch suối Anh khơi
Gom về làm Nguồn
Sống mạnh muôn đời
Bảo-đảm sự sinh-tồn
dân Đại-Việt.
Đem trí- não vun
bồi nền lý-thuyết
Anh dựng lên với cả
tấm chơn-tình
Yêu non sông, tôi
gắng sức bình-sinh
Cố thẳng tiến trên
đường Anh đã vạch
Tôi nghe vẳng như
có lời thống-trách
Của Anh thầm rót
nhẹ nhẹ vào tai
Mỗi khi tôi chán
nản trước chông gai
Hay mệt-mỏi muốn
dừng chơn đứng lại
Thuyền đời tôi, Anh
là tay giữ lái,
Anh là tay
điều-khiển cả buồm chèo.
Anh với tôi, xa
cách biết bao nhiêu.
Nhưng quả thật,
cũng là gần gũi lắm.
Đường
cách-mạng, Anh là người hướng dẫn.
Bàn chơn Anh dày dạn với phong-trần
Đã dò thăm khắp các nẻo xa gần,
Đã lượng hết những khó khăn nguy-hiểm.
Từ thuở bé, được gia đình huấn-luyện
Để trở thành người chiến-sĩ xung-phong,
Kinh-nghiệm đầy, nghị lực vững không cùng,
|
Anh già-giặn cho cuộc đời tranh-đấu.
Tôi là kẻ chưa từng
trông thấy máu,
Bàn chơn non mới
giẵm bước lên đường,
Màu da xanh chưa
dạn với phong-sương,
Trí bỡ-ngỡ thơ ngây
khờ khạo quá.
Đường Anh vạch,
hiểm-nguy và vất vả,
Tôi cố theo, nhưng
chậm-chạp vô-ngần.
Anh với tôi, mới
thấy tưởng như gần.
Nhưng kỳ thật, có
một trời cách biệt.
Kể từ lúc cả non
sông Đại-Việt
Đắm chìm trong khói
lửa ngập lưng trời
Vì bàn tay đẩm máu
của lũ người
Vô tổ-quốc và của
loài xâm-lược,
Anh đã vội băng
mình lên phía trước.
Để đàn em chậm chạp
bước lần theo.
Bóng dáng Anh bỗng
khuất dưới sương chiều
Và mất hút, không
còn ai được thấy;
Nhưng đường lối Anh
đi còn lại đấy,
Bọn chúng tôi theo
mãi quyết không lùi
Vì trong tim, trong
cân-não chúng tôi,
Cây " Sinh-tồn" đã
đâm chồi nảy nhánh
Tung những hạt
giống đầy mầm sống mạnh
Gieo khắp nơi trên
dải nước non này.
Đời Anh đang sống
với chúng tôi đây,
Nó sẽ sống với lớp
người sẽ tới.
Anh với chúng tôi
không còn tựu-hội,
Nhưng lúc nào, Anh
cũng có gần bên
Bọn chúng tôi để
khuyến-khích, ngợi khen,
Để khuyên nhủ,
vỗ-về, hay khiển-trách.
Đường tranh-đấu
gay-go Anh đã vạch
Sau chúng tôi, bao
kẻ sẽ noi theo,
Anh sẽ là người chỉ
ngõ xây nêu
Để dẫn-dắt họ đi về
đúng chỗ.
Và những kẻ có
nhiệt-tâm phụng-sự
Sẽ lấy Anh làm
hướng đạo luôn luôn
Bởi vì Anh, tác giả
thuyết " Sinh-tồn"
Anh sống mãi với
giống nòi Đại-Việt.
NHA-TRANG
23-8-50
ĐẰNG PHƯƠNG |
- Vai
Tuồng của Tư-Tưởng Trong Xã-Hội Loài Người
I- Sự Liên-Quan Giữa Tư-Tưởng và Hành-Động
"Người chỉ là một cây sậy, cây sậy yếu nhứt của Tạo-vật; nhưng
đó là một cây sậy biết suy nghĩ." Câu nói trên đây của một nhà
hiền-triết Tây-phương đã chỉ tỏ một cách rõ rệt đặc-tánh của con người.
Xét về phương-diện thể-xác, người không khác cầm thú bao nhiêu.
Giác-quan của con người không hơn gì giác-quan loài súc-vật. Về
thị-quan, thính-quan, và khứu-quan, người lại còn kém một vài giống như
giống chó giống mèo.
Những hình-tượng người nhờ trí-thức cảm-giác mà có cũng tồn-tại và
liên-hợp nhau trong trí người y như trong trí loài thú, theo một cơ-cấu
tạo nên thói quen là điều rất trở ngại cho sự suy tưởng. Người vốn là
nô-lệ của tập-quán, của não nhơn-tuần.
Ngoài ra, người còn là nô-lệ của khoái-lạc nữa. Hoạt-động của người
luôn luôn bị quyền-lợi chi-phối. Người lúc nào cũng tự-nhiên hướng về
phía thỏa mãn được quyền-lợi vật-chất hay tinh-thần mình.
Tuy vậy, người vẫn khác thú ở chổ người có ý-thức, có trí khôn. Người
không phải lúc nào cũng hành-động theo những phản ứng tự-nhiên như loài
súc-vật. Trừ ra những trường-hợp nguy-hiểm và cấp-bách trong đó họ hoàn
toàn tuân theo những bản-năng, những xúc-cảm của mình một cách
vô-ý-thức, những con người trí óc bình-thường luôn luôn có xu-hướng
suy-luận về những hành-động của mình. Đối tượng của sự suy-luận này có
thể là nguyên-nhân hay cứu-cánh của sự hành-động. Nhưng nó cũng có thể
là sự tìm tòi những phương-tiện, cách thức hành-động để đạt mục-đích
một cách dễ dàng và chắc chắn.
Như vậy, trong phần lớn những công việc làm của người, ta đều có thể
nhận thấy một tư-tưởng làm gốc. Phát-sanh từ một ý muốn, tư-tưởng đưa
người đến chỗ cân nhắc, đắn đo sự lợi hại, phải trái của công việc mình
định làm một cách kỹ lưỡng. Chỉ sau khi nhận thấy rằng công việc ấy
phải và không có không xong, người mới hăng hái đứng ra hành-động.
Tư-tưởng của người thật ra không phải hoàn-toàn hợp-lý. Trong đời sống
ý-thức của người, tiềm-thức hãy còn có một ảnh-hưởng lớn lao và
tư-tưởng người tùy-thuộc những bản-năng, những nhu-cầu của người một
cách chặt chẽ. Lắm khi nó chỉ dùng để biện-chánh cho những hành-động
vô-ý-thức của người.
Thêm nữa, dầu cho người có thoát-ly được ảnh-hưởng của tiềm-thức, sự
suy luận của người cũng không sao đi đến chổ hợp-lý hoàn-toàn. Như thế
là vì hệ-thống suy-luận nào cũng phải đặt nền tảng trên một định-đề
tiên-quyết không chứng-minh được.
Trong tất cả những khoa-học, không khoa nào chánh-xác và có tính-cách
thuần-lý bằng toán-học. Các định-đề toán-học liên-hợp nhau trong một
hệ-thống suy-luận hết sức chặt-chẽ. Tuy nhiên, hệ-thống suy-luận này
phải phát-xuất từ một công-ước hay một định-lý căn-bản không chứng-minh
được.
Khoa hình-học cổ-điển đặt nền-tảng trên định-lý Euclide. Đối với những
người công-nhận định-lý này, khoa hình-học cổ-điển có một giá-trị
tuyệt-đối. Nhưng nếu ta phủ-nhận định-lý Euclide thì tất cả hệ-thống
hình-học cổ-điển đều sụp đổ hết. Khoa hình-học phi-Euclide do một nhà
toán học cận-đại đưa ra, chính dựa vào một định-lý phủ-nhận định-lý
Euclide.
Sau hết, ta có thể nhận thấy rằng người ta lắm khi cùng dựa vào một
định-lý như nhau mà lại đi về hai ngã chống chọi nhau; hay trái lại,
dựa vào hai định-lý trái ngược nhau mà lại đi đến một kết-quả như nhau.
Hệ-thống triết-lý nào cũng phát-xuất từ một giáo-tổ, nhưng sau đó,
môn-đồ lại phân ra hai phe tả hữu xung-đột lẫn nhau, mà phe nào cũng tự
xem mình là nhóm thọ được chơn-truyền. Trái lại, hai căn-bản triết-lý
khác nhau có thể đưa đến một chủ-trương tương-tự. Mạnh tử quả quyết
rằng người tánh thiện, Tuân tử, trái lại, cho rằng người tánh ác, nhưng
cả hai đều đồng ý với Khổng tử công-nhận rằng nền-tảng của chánh-trị
phải là sự giáo-hóa người theo nhơn nghĩa.
Vậy, tánh-cách hợp-lý của tư-tưởng con người thật là giới-hạn, nhưng
dầu sao, nó vẫn là một yếu-tố quan-trọng của đời sống con người. Chính
nó làm cho con người phân-biệt với thú, chính nó làm cho hành-động của
người có tánh-cách người.
Nơi những người cổ-sơ, tư-tưởng đến sau hành-động. Nhưng từ khi người
thoát khỏi trạng thái cầm-thú để tiến đến trạng-thái nhơn-loại,
tư-tưởng thường có trước hành- động và hướng-dẫn sự hành-động của
người, ít nhứt là trong những biến-cố quan-trọng của đời người. Không
có nó, người thiếu lòng tin tưởng và không hăng-hái trong sự hành-
động, nhứt là khi sự hành-động này có tánh-cách nguy-hiểm hay lâu dài.
Không có nó, hành-động người thiếu vẻ duy-nhứt, đã không đem đến
kết-quả gì mà có khi lại còn mâu-thuẫn nhau nữa.
Bời vậy, muốn cho hành-động mình đưa đến một công-trình hữu-ích, người
cần có một tư-tưởng làm nền móng, vạch sẵn mục-đích cho mình, và cần
phải hết lòng tin nơi tư-tưởng ấy. Hành-động càng khó khăn, càng
nguy-hiểm, càng lâu dài, thì tín-ngưỡng càng phải mạnh mẽ và tư-tưởng
càng phải vững chắc. Có một tư-tưởng đúng đắn làm căn-bản và một lòng
tín-ngưỡng nhiệt-thành nơi tư-tưởng ấy rồi, người sẽ tận-tâm, tận-lực
hành-động bền gan chiến-đấu, dẫu gặp khó khăn nguy-hiểm cũng không chán
nản, bỏ cuộc nửa chừng.
.. Muốn đọc thêm..
Xin bấm vào đây để tải xuống Lời
mở đầu Quyển 1 ( dạng DOC ) để đọc -108 Ko -
dạng
ZiP -25Ko -
|
|